Chuyên mục: Thần Thông & Phép Lạ

Phù thủy và huyền thoại về những chiếc chổi bay

Với sự mở rộng giao lưu văn hóa và thành công từ những bộ phim đình đám như Harry Potter, hình ảnh về những phù thủy quyền năng đầu đội mũ nhọn, cưỡi chổi ma thuật đã không còn xa lạ với chúng ta. Nhưng có bao giờ bạn tự hỏi vì sao phù thủy lại cưỡi chổi chứ không phải một thứ gì khác?

Những ai được xem là phù thủy?

Phù thủy là những người thực hành thuật phù thủy, được cho là có năng lực siêu nhiên như bói toán, gọi hồn, giải hạn, chữa bệnh, hoặc nguyền rủa. Phù thủy thường bị coi là gây hại cho một cá nhân hay một tập thể.

Những người bị xem là phù thủy phần lớn là phụ nữ – đặc biệt là những góa phụ – những người không ai bênh vực. Ngoài ra những người già, người nghèo và những phụ nữ bào chế thuốc cũng thường được xem là phù thủy.

Phù thủy thường là phụ nữ và có nhiều quyền năng đặc biệt (Ảnh: Pinterest)

Thời xưa, thuật phù thủy thường khiến người ta kinh sợ. Trong tài liệu cổ của một du khách Ả rập ghi lại mô tả về buổi hành lễ ở Trung Hoa có đoạn: “ Trước đám đông, phù thủy dùng quả cầu gỗ có buộc dây thừng và ném lên trời. Quả cầu bay cao và biến mất, còn lại sợi dây treo lơ lửng rồi phù thủy sai một cậu bé bám vào sợi dây để leo lên trời. Ít phút sau, cậu bé biến mất. Tộc trưởng nói gì đó với phù thủy, phù thủy lập tức dùng dao cắt dây, từng phần cơ thể của cậu bé rớt xuống đất. Quang cảnh ghê rợn làm cho những người nhìn thấy kinh hãi. Sau đó, tộc trưởng khấn vái, các bộ phận của cậu bé dính vào nhau và cậu ta sống lại bình thường.”

Kinh Mật tông Phật giáo cũng đề cập đến việc các pháp sư tạo ra những đám đông và làm họ biến mất trong chớp mắt từ hàng nghìn năm trước. Những người theo môn phái tu luyện này cũng thừa nhận sức mạnh của bùa chú, pháp thuật và cho rằng chúng góp phần tạo thành niềm tin tôn giáo.

Phép thuật của phù thủy được xem là nguyên nhân của nhiều tai họa (Ảnh: alternateending.com)

Thời Trung cổ, người ta tin rằng phù thủy chính là nguyên nhân đứng đằng sau các vấn đề như dịch hạch, bão tố, băng giá, nạn sâu bọ hay những cái chết không rõ nguyên nhân…. Chính bởi vậy phù thủy bị cộng đồng khinh ghét và luôn tìm cách bắt bớ sát hại.

Bất cứ ai biểu diễn ảo thuật hoặc có những hành vi kì quặc đều bị quy kết có liên hệ vời ma quỷ và sẽ bị thiêu sống để làm vật tế thần.

Vậy tại sao phù thủy lại cưỡi chổi?

Giả thuyết đầu tiên giải thích cho vấn đề này là thời xưa con người tôn kính mẹ thiên nhiên và tin vào sự tồn tại của các vị thần. Vì vậy, để mong có được một vụ mùa bội thu, tất cả người dân hàng năm đều tổ chức tụ họp nhảy múa, ăn mừng dưới ánh trăng tròn trong đêm, mà các phù thủy hiện đại ngày này gọi đó là lễ Esbat.

Và một trong số những vũ điệu dân gian của họ là dựng đứng cây chổi và nhảy lên cao, để tượng trưng cho cây trồng cũng sẽ vươn cao giống như vậy. Họ cũng ngồi lên chiếc chổi và chạy vòng vòng xung quanh, giống như đang cưỡi ngựa để tượng trưng cho đàn gia súc sẽ được mắn đẻ và khỏe mạnh.

Phù thủy thời đó được xem là những người quyền phép và do đó người ta tin rằng họ sẽ có thể phi thân trên chổi và biến những ước mơ của họ thành hiện thực.

Harry Potter trên cây chổi bay Nimbus 2000 và đũa phép ma thuật (Ảnh: Pinterest)

Một giả thuyết khác liên quan đến thói quen điều chế mê dược của các phù thủy xưa kia.

Từ “phù thuỷ” trong tiếng Việt bắt nguồn từ tiếng Trung Quốc. “Phù” có nghĩa là “bùa”, “thuỷ” có nghĩa là “nước”, “phù thuỷ” dịch sát nghĩa từng chữ là “nước bùa”. Nó xuất phát từ việc các phù thủy thường hay sử dụng thảo dược và khoáng vật để luyện ra những thứ nước có khả năng mê hoặc con người và giúp cho việc thi triển ma thuật của các phù thủy trở nên ảo mộng và đầy huyền bí.

Một trong những loại mê dược nổi tiếng nhất tạo ra ảo giác cây chổi bay. Và kể từ đó, truyền thuyết về cây chổi bắt đầu.

Một cảnh điều chế độc dược trong tập phim Harry Potter và Hoàng tử lai (Ảnh: Pinterest)

Các thành phần của mê dược gây ra “ảo giác cây chổi” bao gồm: Bột bóng tối (Atropa belladonna), cạm bẫy ma quỷ, (Datura stramonium), cây phỉ ốc tư đen (Hyoscyamus niger), và giống cây độc (Mandragora officinarum).

Hợp chất này khá độc. Tuy nhiên nếu bôi lượng nhỏ vào một số bộ phận nhất định trên cơ thể sẽ tạo ra ảo giác lâng lâng.

Trong một cuốn sách của Jordanes Bergamo, một nhà văn thời trung cổ chuyên nghiên cứu về phù thủy có viết: “Những phù thủy thừa nhận rằng vào những đêm trăng họ xức loại mê dược gây ảo giác cho phu đánh xe ở khu vực dưới cánh tay và một vài vị trí khác trên cơ thể”.

Phù thủy luôn gắn liền với hình ảnh người đàn bà cưỡi chổi phép bay trong đêm cùng tiếng cười lanh lảnh đầy ma quái (Ảnh: Cafebiz)

Những người trúng phải loại mê dược này kể lại rằng: Khi các chất này bắt đầu phát huy tác dụng, cơ thể có cảm giác không trọng lượng giống như đang bay là là trên mặt đất. Đặc biệt, họ còn có cảm giác như đang ngồi trên một cái chổi và có thể điều chỉnh hướng của cây chổi này bay qua bay lại.

Và kể từ đó trở đi người ta cứ nghĩ đến phù thủy thì liên tưởng đến hình ảnh những góa bụa xấu xí khoác trên mình bộ đồ đen, chiếc mũ chóp nhọn, cưỡi chổi phép bay trong đêm cùng tiếng cười lanh lảnh đầy ma quái.

Xem thêm:

Nicolas Flammel và bí ẩn về hòn đá phù thủy

Ít người biết rằng Nicolas Flammel – chủ nhân của hòn đá phù thủy nổi tiếng trong bộ truyện lừng danh Harry Potter là một nhân vật được lấy cảm hứng từ một nhà giả kim người Pháp cùng tên. Viên đá phù thủy do ông tạo ra được cho có thể biến những kim loại bình thường thành vàng cũng như điều chế thuốc trường sinh.

Ngay từ thời khắc bình minh của nền văn minh nhân loại, trường sinh bất tử đã là điều mà con người luôn mong mỏi và những nỗ lực tìm kiếm phương cách để sở hữu sự sống vô thời hạn trong cơ thể vật chất đã được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau.

Với các nhà giả kim thuật, giải pháp được đưa ra là bằng mọi cách tạo ra hòn đá phù thuỷ – Lapis Philosophorum, một vật chất xúc tác huyền thoại có khả năng biến kim loại bình thường thành vàng với độ tinh khiết gần như tuyệt đối.

Hòn đá phù thủy được mô tả là có màu đỏ, trong suốt giống thuỷ tinh, nặng hơn vàng, tan trong bất kì dung dịch nào, nhưng không cháy trong lửa (Ảnh: Internet)

Họ tin rằng những tính chất huyền diệu trên giúp ngăn chặn cái chết đồng thời mang lại cho người uống thuốc cuộc sống trường sinh. Trong khi đa số các nhà giả kim cho rằng phải liên tục uống liều thuốc này ở một lượng nhất định mới có thể duy trì cuộc sống vĩnh hằng của con người, một số khác khẳng định chỉ cần uống thuốc một lần là có thể vĩnh viễn bất tử.

Trong thế giới của thuật giả kim, hòn đá phù thủy thường được mô tả là có màu đỏ, trong suốt giống thuỷ tinh, nặng hơn vàng, tan trong bất kì dung dịch nào, nhưng không cháy trong lửa. Trên các thư tịch cổ, hòn đá này mang biểu tượng của một quả trứng kèm theo một con rắn. Có không ít các nhà giả kim tuyên bố đã tạo ra được hòn đá phù thuỷ đồng thời chế ra thuốc trường sinh bất tử, tuy nhiên chưa có ai chứng minh được sự thành công ngoại trừ Nicolas Flammel, một thủ thư người Pháp sống từ năm 1330 đến năm 1418 ở Paris với những câu chuyện đầy giai thoại xung quanh hòn đá này.

Chân dung Nicolas Flammel. (Ảnh: Wikipedia)

Theo lời kể, Nicolas đã tình cờ có được một cuốn sách huyền bí được viết bởi một người Do Thái tên là Abraham và đã dành cả đời mình để nghiên cứu cuốn sách này. Đó là một quyển sách huyền bí với vỏn vẹn 21 trang được viết bằng tiếng Do Thái và Hy Lạp kèm theo những hình vẽ mô tả chi tiết từng bước quá trình chế tạo ra Hòn đá phù thuỷ. Do không hiểu được nội dung cuốn sách, vào năm 1378, ông tới Tây Ban Nha tìm sự hỗ trợ dịch thuật từ một người Do Thái cải đạo sang Công giáo.

Trở về từ Tây Ban Nha, nhờ sử dụng những kiến thức có trong quyển sách, Flamel và vợ ông đã dùng đá giả kim tạo ra bạc vào năm 1382 và sau đó là vàng. Thành công giúp Nicolas nhanh chóng trở nên giàu có. Ông mở bệnh viện, nhà thờ làm rất nhiều việc từ thiện nhưng kiên quyết giữ bí mật về thành công của mình, có lẽ do lo ngại những hậu quả nó có thể mang lại.

Ngôi nhà Nicolas Flamel từng sinh sống tại Paris, Pháp (Ảnh: Internet)

Flamel sống đến năm 88 tuổi, trên bia mộ của ông có khắc các dấu hiệu giả kim thuật phức tạp và các ký hiệu. Một số người tin rằng ông đã chết ngay sau khi bia mộ được tạo ra. Nhưng có không ít lời đồn đoán ông chỉ giả chết và đã đạt được cuộc sống trường tồn.

Người ta đồn rằng, không lâu sau khi Flamel chết có một người dân muốn mua vàng tinh khiết của ông. Người này đã tìm đến nhà ông và thất vọng vì ông không còn tại thế. Không nản lòng, người đó đã đào mộ của ông lên với hi vọng cướp số vàng tuẫn táng. Ngạc nhiên thay, trong ngôi mộ đó, chẳng những không có vàng mà cũng không thấy thi thể của Nicolas đâu. Một số cho rằng đó là sự nhầm lẫn. Nhưng cũng có người cho rằng ông đã giả chết. Bằng chứng là sau năm 1418 rất lâu, vẫn thấy những quyển sách, những bản chép tay mang tên ông được rao bán trên phố.

Vào thế kỷ 18, một khách du lịch tên là Paul Lucas tuyên bố rằng ông đã gặp một số người Arab trong sa mạc và những người này cho biết họ đã gặp cặp vợ chồng nhà giả kim nổi tiếng ấy hiện vẫn còn sống.

Alexis Monteiln, trong cuốn sách “Lịch sử nước Pháp từ những vùng đất khác”, đã kể về việc tình cờ gặp được một trí tuệ thiên tài người Pháp và người này cũng kể về việc đã gặp Nicolas Flammel, không những còn sống mà vẫn tiến hành rất nhiều những nghiên cứu bí mật dưới lòng đất.

Một bức họa mang biểu tượng hòn đá phù thủy (Ảnh: Internet)

Cuối thế kỷ 20, Averroes Secundus, một người Syria cải đạo sang Công giáo, viết cuốn sách “Terra incognita Perpetua” kể về việc ông đã đến thăm hệ thống mê cung bí mật nằm dưới lòng đất Tây Ban Nha, đâu đó bên dưới cao nguyên Sierra Morena.

Ông ta cho biết có rất nhiều lối vào hệ thống mê cung đường hầm từ những toà nhà bỏ hoang và mê cung đường hầm bí ẩn này lớn đến nỗi vươn xa đến tận Castilia, Galicia, Catalunya và xứ Basque – tức là kéo dài hàng trăm km.

Mê cung được mô tả là chứa đầy báu vật của cải quá sức tưởng tượng và là nơi cư trú của cả một dòng tu. Họ được cho là đang nắm giữ những cuốn sách quý giá, những bí ẩn to lớn được canh gác bảo vệ kỹ lưỡng cẩn mật nhất cùng với đó là những gì chưa từng được phát hiện ra vẫn đang được nghiên cứu và thử nghiệm trong những cơ sở bí mật dưới lòng đất.

Averroes Secundus thậm chí tuyên bố rằng ông đã gặp Nicolas Flammel nổi danh bằng xương bằng thịt, đang sống cùng các đạo hữu của dòng tu trong mê cung. Averroes Secundus còn được nghe Nicolas Flammel nói về việc đang tiến hành những nghiên cứu biến vật chất hữu hình thành vô hình, mục đích chính là tìm ra phương thức tối ưu để bảo vệ thế giới ngầm khỏi lòng tham vô đáy của người ngoài.

Hòn đá phù thủy là nguồn cảm hứng cho phần thứ nhất của bộ truyện lừng danh Harry Potter (Ảnh: Internet)

Không dễ để biết được sự thật về những câu chuyện huyền bí này, nhưng nhiều người tin rằng một hòn đá cho phép con người có cuộc sống vĩnh hằng rất khó tồn tại. Sinh mệnh của một người vốn dĩ do thiên định dựa trên phúc phận và tâm tính.

Các ghi chép trong sử sách cho thấy những người có thọ mệnh lớn đều là người sử dụng các kỹ thuật nội đan (luyện thở và tu tâm tính) thay vì sử dụng những kỹ thuật ngoại đan (chế thuốc). Rất nhiều các bậc quân vương sử dụng các loại đan dược thậm chí mất mạng sớm do trúng độc. Bởi đơn giản, những người có tâm tính không cao nếu có cuộc sống bất tử chắc chắn sẽ gây ra những hậu quả lớn cho thế giới con người.

Xem thêm:

Thế giới chính tà lẫn lộn, muốn phân biệt rõ cần phải dùng con mắt trí tuệ

Xưa nay, chính và tà là hai phạm trù đối lập nhưng lại luôn song hành với nhau, biểu hiện ở xã hội chính là có chính ắt có tà, có thiện thì có ác, có thật thì có giả,… Đặc biệt đến hiện nay, chính tà lẫn lộn, muốn phân biệt được nó quả thực không hề dễ dàng.

Thế giới chính tà lẫn lộn, muốn phân biệt rõ cần phải dùng con mắt trí tuệ.
Thế giới chính tà lẫn lộn, muốn phân biệt rõ cần phải dùng con mắt trí tuệ. (Ảnh t/h)

Chính – tà theo quan điểm Nho gia

Trong lịch sử xã hội nhân loại hàng nghìn năm nay, bất kể thời đại nào, phương Đông hay phương Tây đều ca ngợi khuyến khích con người tu dưỡng những đức tính tốt đẹp, thiện lương, nghĩa hiệp, trung trinh, tiết tháo. Có rất nhiều đức tính tốt đẹp tiêu biểu cho người chính trực, trong đó các tiêu chuẩn của bậc chính nhân quân tử của Nho gia có tính khái quát và được người đời qua các thế hệ đều đánh giá cao.

Trong các quan hệ xã hội người thường, Nho giáo được đánh giá là một chính giáo. Tiêu chuẩn của chính nhân quân tử theo quan điểm của Nho gia là Nhân – Nghĩa – Lễ – Trí – Tín. Ngược lại với cái chính sẽ là cái tà, theo Nho gia, kẻ tiểu nhân gian tà sẽ Bất nhân – Bất nghĩa – Vô lễ – Vô trí – Bất tín.

Khổng Tử đưa ra tiêu chuẩn nhận biết quân tử và tiểu nhân: “Quân tử hiểu rõ về nghĩa, vì nhân nghĩa; tiểu nhân hiểu rõ về lợi, vì tư lợi”, “Quân tử cầu đức hạnh, tiểu nhân cầu tiền tài”, và “Người quân tử thành tựu việc tốt đẹp cho người khác chứ không làm cái xấu cho người khác”…

Còn về các mối quan hệ chủ yếu trong xã hội, Nho gia yêu cầu cấp dưới với cấp trên phải Trung, cấp trên với cấp dưới phải Nhân, giữa vợ chồng phải Hòa thuận, con cái đối cha mẹ phải Hiếu, em đối với anh chị phải Lễ, bạn bè đối với nhau phải Tín, hậu bối đối với tiền bối phải Kính.

heo quan điểm Nho gia tiêu chuẩn của chính nhân quân tử là phải hội tụ đủ Nhân – Nghĩa – Lễ – Trí – Tín. (Ảnh: wikipedia.org)

Đó là lý tưởng nhân cách con người trong xã hội, đều hướng theo tiêu chuẩn đó mà tu sửa, hoàn thiện bản thân. Như vậy, Nho gia được mọi người coi là chính đạo. Có thể tóm lại, chính đạo theo Nho gia là vì nhân nghĩa, vì người khác, còn tà đạo là vì bản thân mình, gia đình, dòng tộc, bè phái, vì danh vọng, vì quyền lực, vì tư lợi.

Từ thời Khổng Tử, xã hội rất rối loạn với nhiều thuyết, đó là thời “Bách gia chư tử”, trăm hoa đua nở. Chính giáo thì ít mà tà giáo thì nhiều, ai ai cũng nói thuyết của mình là chính, là đúng và phê phán công kích thuyết giáo người khác.

Vì vậy Khổng Tử cũng dạy học trò cách phân biệt: “Duy người nhân đức mới có đủ năng lực đánh giá khen chê người khác được”. Người nhân đức là người đã tu dưỡng đắc đạo, họ làm gì, nghĩ gì, nói gì đều hợp với đạo, họ có tiêu chuẩn chính xác, và là người sống vì nhân nghĩa, vì người khác, nên đánh giá của họ mới chính xác, đáng tin cậy.

Chính tà theo ghi nhận của các nhà khoa học

Những năm đầu thế kỷ 20, Hoàng gia Anh cử một đoàn các nhà khoa học danh giá sang phương Đông nghiên cứu các pháp tu và tôn giáo huyền bí, đánh giá dựa trên cơ sở khoa học và được sự đồng thuận của tất cả các thành viên.

Trong hồi ký Hành trình về phương Đông nổi tiếng của giáo sư Blair T. Spalding (1857–1953), nguyên tác “Life and Teaching of the Masters of the Far East” (xuất bản năm 1935) có tất cả sáu quyển, ghi nhận đầy đủ về cuộc hành trình gay go nhưng lý thú và tràn đầy sự huyền bí ở Ấn Độ, Tây Tạng, Trung Hoa và Ba Tư. Dưới đây là trích đoạn trong cuộc tranh luận, hỏi đáp giữa các nhà khoa học và một đạo sĩ cao đạo về chính đạo và tà đạo:

Ðúng thế, quan niệm xấu tốt, thiện ác ít nhiều chịu ảnh hưởng xã hội nhưng vượt lên cao hơn nữa chúng ta vẫn có luật vũ trụ kia mà. Theo sự hiểu biết của tôi thì có hai con đường: Chính đạo và tà đạo.

Con người làm chuyện tà đạo là khi dùng quyền năng tiềm tàng của mình để mưu lợi riêng cho sự phát triển cá nhân và sẵn sàng hy sinh hạnh phúc của kẻ khác. Phát triển cá nhân ở đây có nghĩa là sự bành trướng về giác quan, cảm xúc hay tri thức của cá nhân mà không đếm xỉa đến sự thiệt hại cho kẻ khác. Một người lợi dụng sự ngu dốt, yếu đuối của kẻ khác để thu lấy ít lợi lộc về tiền bạc hay thỏa mãn tham vọng cá nhân tức là đang đi trên con đường tà đạo. Nếu y có chút quyền năng y sẽ trở nên ghê gớm như thế nào?

Chánh đạo cũng là việc sử dụng những quyền năng của mình nhưng để phụng sự nhân loại. Trong khi phụng sự, con người sẵn sàng hy sinh mọi tiện nghi, tham vọng cá nhân mình để làm việc hữu ích cho kẻ khác. Kẻ phụng sự dứt tuyệt các thú vui về giác quan, từ bỏ mọi tôn kính chính đáng mà y có quyền hưởng thụ, dẹp bỏ cái phàm ngã cá nhân mà chỉ chú trọng đến mục đích là đạt đến sự toàn thiện.

Tà đạo là sử dụng quyền năng qua các hình thức lễ nghi, cúng bái trợ lực để tạo nên các đoàn thể, hình thức, các hình thức này có thể là vật chất hay một tổ chức mà công cụ của nó không phải lo cho đời sống chung hay một lý tưởng cao thượng mà chỉ là một hình thức cho quan niệm riêng của mình phát biểu.

Chánh đạo là sử dụng các quyền năng cố hữu của bản chất con người để vượt qua mọi hạn định của hình thức, để giải thoát tâm hồn khỏi các trói buộc của cảm giác, sự tưởng tượng hay xu hướng nhất thời, để tránh các cám dỗ, lừa gạt của vô minh để phục vụ cái phần bất tử thiêng liêng của bản thể, chân như”.

Có thể thấy, chính đạo là dạy con người xả bỏ cái tôi, cái vị tư ích kỷ cá nhân để phụng sự xã hội. Còn tà đạo thì vì lợi ích, quyền lực cá nhân. Chính đạo là để giải thoát con người khỏi các cảm thụ, dục vọng ham muốn, nên nó vượt qua mọi hạn định về hình thức, không bó buộc vào hình thức. Còn tà đạo thì sử dụng các hình thức lễ nghi, cúng bái, các đoàn thể, tổ chức, cấp bậc để đạt được cái danh và lợi cá nhân trong xã hội.

Nhưng tà nếu rõ ràng thế thì ai ai cũng nhận biết được và không có người theo, nên nó ắt phải mượn danh cái chính, mượn kinh sách Thánh nhân rồi cắt xén, thêm bớt, diễn giải sai lệch, nhân danh vì mọi người, nhân danh mục đích cao cả, nhưng mục đích cũng là vì cái danh và cái lợi cá nhân cả.

Chính tà theo quan điểm Phật giáo

Kết quả hình ảnh cho phật painting
(Ảnh minh họa: Internet)

Thời Đức Phật thuyết Pháp, có 8 tôn giáo cổ đang tồn tại, trong đó Bà La Môn giáo là tôn giáo lâu đời nhất, có ảnh hưởng sâu rộng nhất trong xã hội. Bà La Môn giáo sử dụng bộ kinh chính là kinh Vệ Đà, đã có cách ngày nay 3.500 năm, tức 1000 năm trước khi Đức Phật Thích Ca truyền giáo. Căn cứ vào kinh Vệ Đà thì Bà La Môn cũng là chính giáo.

Nhưng trải qua 1000 năm, giới tu sĩ Bà La Môn đã trở thành tầng lớp có địa vị rất cao trong xã hội, đã có nhiều thêm bớt, giải thích Kinh để củng cố địa vị mà họ cho là cao quý, trác việt, vì chỉ có họ mới có thể câu thông với Thần, từ đó giành được sự trọng vọng của xã hội và những đặc quyền đặc lợi cho giới tu sỹ. Do đó cho đến khi Đức Phật truyền giáo thì Bà La Môn lúc ấy đã suy thoái thành tà giáo.

Để giúp đệ tử phân biệt chính và tà, Đức Phật giảng trong Kinh Tăng chi bộ rằng: “Đừng tin tưởng vào một điều gì vì phong văn. Đừng tin tưởng điều gì vì vin vào một tập quán lưu truyền.

Đừng tin tưởng điều gì vì cớ được nhiều người nói đi nhắc lại. Đừng tin tưởng điều gì dù là bút tích của Thánh nhân. Đừng tin tưởng điều gì dù thói quen từ lâu khiến ta nhận là điều ấy đúng.

Đừng tin tưởng điều gì do ta tưởng tượng ra lại nghĩ rằng một vị tối linh đã khai thị cho ta. Đừng tin tưởng bất cứ một điều gì chỉ vin vào uy tín của các thầy dạy các người.

Nhưng khi nào tự mình biết rõ như sau: ‘Các pháp này là bất thiện; các pháp này là đáng chê; các pháp này bị các người có trí quở trách; các pháp này nếu thực hiện và chấp nhận đưa đến bất hạnh khổ đau”, thì hãy từ bỏ chúng.

Nhưng chỉ tin tưởng cái gì mà chính các người đã từng trải, kinh nghiệm và nhận là đúng, có lợi cho mình và người khác. Chỉ có cái đó mới là đích tối hậu thăng hoa cho con người và cuộc đời. Các người hãy lấy đó làm chỉ chuẩn”.

Hiện nay xã hội nhiều biến động, thật giả khó phân, vàng thau lẫn lộn. Khi kẻ gian tà được cất nhắc thì người quân tử phải ra đi. Khi kẻ siểm nịnh đắc ý thì người chính trực phải chịu oan uổng. Khi cái giả được coi là thật thì cái thật sẽ bị coi là giả.

Do đó, chúng ta có thể tham khảo cách phân biệt thật giả, chính tà của các Thánh Nhân, Giác Giả, rồi dùng lý trí suy xét, tự mình kiểm nghiệm, thì có lẽ cũng không quá khó để phân biệt.

Theo DKN.TV

Sáng Thế Chủ đã tới cõi người, Nhưng loài người không hề hay biết

Có một câu chuyện cổ có tính tiếp diễn trong vũ trụ bao la. Đó là câu chuyện bắt đầu từ rất xa xưa, nhưng lại đang diễn ra trong thời hiện đại. Câu chuyện ấy liên tục tiếp diễn từng ngày, và đến bây giờ vẫn còn đang kể, cho chính con người hôm nay. Giai đoạn này đây đã là thời điểm cuối cùng của cuối cùng trong câu chuyện ấy, là thời điểm để mỗi sinh mệnh được lựa chọn cho bản thân những điều chân chính nhất.

Có một câu chuyện cổ bắt đầu từ rất xa xưa và vẫn đang tiếp diễn ở hiện tại… (Ảnh: t/h)

Chuyện kể rằng, từ rất rất xa xưa, bắt đầu từ khi vũ trụ mới được sinh thành, các sinh mệnh và vạn vật được thần sáng tạo nên cứ thế mà sinh tồn trong vũ trụ. Trong đó ở một nơi rất rất xa xôi, có một hành tinh tên là Trái Đất, cũng được các thần sáng tạo nên.

Trái Đất ấy thực sự là một hành tinh xinh đẹp. Nhưng nó lại là nơi thấp nhất trong vũ trụ bao la. Từ vũ trụ, những sinh mệnh mỗi khi trở nên không còn tốt nữa lại bị đánh hạ xuống tầng phía dưới, nếu lại không tốt lại bị hạ xuống, cứ bị đánh hạ mãi như thế cho đến tận tầng thấp nhất nơi Trái Đất này. Đến nơi Trái Đất thì sinh mệnh đã hoàn toàn không còn những phép thần thông của các vị thần. Sinh mệnh phải trú ngụ trong một thân xác khác. Vì thế, mà con người được sinh ra. Con người chính là hình hài mới mà các vị thần sáng tạo nên cho những sinh mệnh gây ra tội, bị đánh hạ đến tận nơi này. Đồng thời, các vị thần cũng sáng tạo nên cho con người hoàn cảnh sinh tồn trong Trái Đất.

Phạm tội rồi, nhưng các sinh mệnh không nhất định là bị hủy đi. Họ được các thần cho thêm một lần cơ hội nữa để có thể hồi quy về thế giới thần tiên, về thế giới của thần. Vì thế với lòng từ bi, các thần đã chuyển sinh thành người hướng dẫn con người tu luyện, chính là hướng dẫn con người cách thức để trở về nhà. Con người vì thế có được cơ hội để trở về nơi tiên giới.

Ở trong Trái Đất, các thần đã tạo nên một Thần Châu, nơi các thần có thể đến để hướng dẫn con người tu luyện và bảo hộ con người trong tu luyện trở về. Nơi Thần Châu ấy, con người bình yên sinh sống với lòng kính ngưỡng và hàm ơn các vị thần.

Lại trải qua thời gian đằng đẵng ở nơi Trái Đất xa xôi ấy, con người cứ thế tiếp tục luân hồi vạn kiếp. Dần dần họ đã quên đi thế nào là tu luyện, quên đi cách thức mà các thần đã hướng dẫn cho họ trở về nơi mà từ đó họ đã đến đây, nơi Trái Đất này, họ cũng quên luôn nguồn gốc chân chính của bản thân mình là đến từ thiên thượng.

Khi lịch sử loài người càng ngày càng trở nên lâu dài bất tận, thì bản tính tốt đẹp của con người khi mới từ tiên giới hạ xuống cũng bị mai một dần đi. Họ càng ngày càng trở nên xấu ác, thậm chí “Thần Châu” cũng bị họ đổi tên rồi. Họ đã quên, Thần Châu chính là nơi con người có thể giao hội với thần.

Khi con người trở nên ngày càng xấu xa thì ma quỷ cũng bắt đầu xuất hiện ở cõi nhân gian. Có những ma quỷ là do chính sự xấu ác của con người chiêu mời đến. Những ma quỷ ấy muốn tiêu diệt con người, muốn phá hủy con người, muốn con người ngày càng trở nên xấu ác, như thế chúng mới có đất dung thân. Có những ma quỷ đã chuyển sinh dưới hình dáng con người mà tuyên truyền những điều của nó, mục đích là khiến con người càng ngày càng quên đi nguồn gốc tốt đẹp của bản thân, không tin vào thần và quên đi tu luyện.

Dù là tầng thấp nhất trong vũ trụ, nhưng sự việc diễn ra nơi Trái Đất cũng liên quan đến đại khung cự đại nơi vũ trụ này. Tất thảy toàn bộ khung thể rộng lớn của vũ trụ bao la cũng đang càng ngày càng trở nên không tốt.

Từ một nơi tối cao tối cao trong vũ trụ, vị Phật chủ sáng tạo ra thế giới đã nhìn thấy những điều ấy, đã thấy được tương lai của con người, cũng đã thấy được dã tâm của những thế lực đen tối đang muốn hủy hoại con người, hủy hoại đi những đứa con lầm lạc nơi Trái Đất. Đồng thời, Ngài cũng thấy sự nguy hiểm đang đến của vũ trụ mênh mang.

Với lòng từ bi vô hạn, Phật chủ tự mình hạ dần xuống, cuối cùng cũng đến nơi Trái Đất nhiều hiểm ác. Ngài muốn đánh thức những linh hồn đi lạc, những đứa con lầm lỗi của Ngài, muốn đón chúng trở về nơi đã sinh ra chúng. Đồng thời, Phật chủ cũng muốn sửa chữa lại những điều đã trở nên bại hoại trong vũ trụ bao la.

Ở mỗi tầng trời, trong quá trình hạ xuống, lại có rất nhiều những vị Thần, Phật nguyện ý theo ngài, trợ giúp Phật chủ trong việc thức tỉnh những linh hồn lầm lạc, trợ giúp ngài chính lại đại khung của vũ trụ rộng lớn. Cứ như vậy, qua mỗi tầng trời, đều có những vị thần đi theo Phật chủ đến nơi Trái Đất nhiều hiểm ác. Nơi Trái Đất đầy nguy hại ấy, bất cứ vị thần nào đến đây đều sẽ quên mất bản thân mình chân chính. Chỉ có Phật chủ vĩ đại là không như thế. Vì thế, các vị thần đã hứa với nhau rằng, bất cứ ai khi đã thức tỉnh rồi sẽ toàn lực đánh thức những người còn lại, để tất cả mọi người đều có được cơ hội theo Phật chủ trở về nhà.   

Qua mỗi tầng trời, đều có những vị thần nguyện ý đi theo Phật chủ đến nơi Trái Đất hiểm ác để trợ giúp Ngài thức tỉnh những linh hồn lầm lạc. (Tranh qua Minghui.org)

Với lời hứa ấy, các vị thần lần lượt chuyển sinh vào cõi Thần Châu, kết duyên với nhau, và kết duyên với Phật chủ của mình. Họ muốn đảm bảo có thể tự cứu được bản thân, cứu được người khác cùng quay về nơi chân chính đã sinh ra họ.

Lại trải qua năm tháng đằng đẵng lâu dài, tại nơi Thần Châu ấy, những vị thần rất rất cao trong vũ trụ đã kết duyên xong với Phật chủ tối cao. Họ đều chuyển sinh thành người vào Thần Châu chờ đợi khoảnh khắc Phật chủ truyền Pháp độ nhân. Nhưng, vì họ đã không còn nhớ quá khứ của mình nên khi Phật chủ truyền Phật Pháp, hướng dẫn con người tu luyện trở về, đã có rất rất ít người nhận ra ngài, rất rất ít người nhận ra Phật chủ. Ngay khi họ nhận ra, họ đã vô cùng chấn động. Sự chấn động ấy không thể nói lên lời, không thể nào miêu tả.

Những ma quỷ kia cũng nhận thấy Phật chủ đang truyền dạy con người tu luyện, đang hướng dẫn con người trở về với bản tính tiên thiên, đánh thức con người, khiến họ nhớ ra bản tính nguyên lai của họ, khiến con người từ bỏ những thứ xấu xa mà theo Phật chủ về nhà. Vì thế, ma quỷ cũng đến nơi Thần Châu mà quấy phá Phật chủ truyền Pháp. Chúng không từ bất cứ thủ đoạn nào mà quấy phá Ngài.

Những người vừa thức tỉnh đã nhận ra ma quỷ trong cõi người đang quấy phá nên họ quyết tâm trợ giúp Phật chủ kết nối nhiều nhất những sinh mệnh trên Trái Đất đến với Pháp của Ngài. Họ biết rằng, chỉ có như thế mới có thể khiến con người thức tỉnh, chỉ có Phật Pháp mà Phật chủ đã truyền mới có thể khiến con người thức tỉnh.

Với những nỗ lực của những người đi trước, con người lần lượt đều được tiếp cận với Đại Pháp mà Phật chủ truyền trong cõi nhân gian, càng ngày càng có nhiều người hơn thức tỉnh. Những người thức tỉnh ấy lại giúp cho Đại Pháp của Phật chủ đến được với nhiều người hơn nữa, lại tiếp tục có người thức tỉnh. Cứ như vậy, Những người đã thức tỉnh đang tu chỉnh bản thân trong Đại Pháp, đã hỗ trợ Phật chủ ngày càng truyền rộng Đại Pháp trong cõi nhân gian, cứu vớt được nhiều hơn nữa những linh hồn lầm lạc nơi Trái Đất được đắc Pháp mà tu luyện, quy chính trở về.

Những ma kia cũng nhìn thấy rồi. Con người nếu đều tu Đại Pháp, đều có thể hồi quy thì chúng không còn nơi ẩn nấp. Chúng liền tạo ra một đại nạn khủng khiếp chưa từng có  từ trước đến nay đối với người tu luyện. Chúng bức hại những đệ tử của Phật chủ đang tu tại cõi người. Nhưng độc ác hơn, thông qua việc bức hại các đệ tử của Phật chủ, những ma quỷ ấy đầu độc con người, khiến con người không tin vào Đại Pháp, khiến con người xa lánh Đại Pháp tại cõi nhân gian.

Giữa hồng trần cuồn cuộn, những đệ tử Đại Pháp trong ma nạn, vẫn đang tận sức trợ giúp Sư phụ của họ cứu chúng sinh.
Giữa hồng trần cuồn cuộn, những đệ tử Đại Pháp trong ma nạn, vẫn đang tận sức trợ giúp Sư phụ của họ cứu chúng sinh. (Tranh qua classicalpoets.org)

Những đệ tử của Phật chủ vẫn kiên tâm vào Đại Pháp để trở về. Nhưng con người nơi nhân thế thì quả thực không còn nhiều cơ hội nữa, họ đang phải đối diện với sự hủy diệt mà hoàn toàn không hay biết. Phật chủ từ bi đã liên tục kéo dài thời gian truyền Phật Pháp với hy vọng những sinh mệnh còn đi lạc có thể có được cơ hội đắc Đại Pháp trở về. Ngài cũng tiêu trừ những ma phá hoại và can nhiễu con người đắc Pháp, giúp con người có thêm cơ hội biết đến Pháp để trở về.

Giữa hồng trần cuồn cuộn, những đệ tử Đại Pháp trong ma nạn, vẫn đang tận sức trợ giúp Sư phụ của họ cứu chúng sinh. Tuy nhiên, trong nhân gian mê lạc, con người đã rất khó rất khó nhận ra Phật chủ, đã rất khó tin vào những vị thần vĩ đại. Đại Pháp vẫn đang truyền, Phật chủ vẫn đang từ bi chờ đợi những đứa con của Ngài nhận ra Đại Pháp, nhận ra Ngài đã đến thế nhân. Con người hãy thức tỉnh! Hãy nhận ra ý nghĩa chân chính của sinh mệnh trong vũ trụ này! Hãy trở về nơi chân chính mà chúng ta đã từng ở đó!

Đây chính là câu chuyện cổ tích lâu dài nhất cho đến tận bây giờ mới bắt đầu viết lại. Là câu chuyện không phải cho tương lai, mà là cho thực tại của nhân loại bây giờ. Là câu chuyện còn đang tiếp diễn, câu chuyện còn chưa kết thúc. Sự kết thúc của câu chuyện ấy chỉ diễn ra khi mỗi sinh mệnh, mỗi con người nơi Trái Đất đều đã lựa chọn cho bản thân mình, lựa chọn tin vào điều gì ở nơi nhân gian ấy. Hồng trần cuồn cuộn. Hy vọng rằng, kết thúc của câu chuyện này là viên mãn, có hậu, để không phụ sự từ bi của Phật chủ tối chung.

Melanie Mai

Những câu chuyện có thật gây ngạc nhiên về thần thông

Thần thông trong con mắt của Đại Đạo chân chính thì không là gì cả, đều là những thứ thuật loại nhỏ bé, những người có năng lực thật sự thường không đem chúng ra biểu diễn. Dưới đây là những câu chuyện ghi lại về thần thông triển hiện ngay trong xã hội con người.

dam dao
Thần thông đối với người tu Đạo trong quá khứ không phải là điều gì lạ lùng, bởi đó chính là bản năng tiên thiên của con người, do tu hành mà có thể khiến chúng xuất lai. (Ảnh từ Internet)

1. Thuật thu người vào trong bình

Trong “Tây Du Ký” có một tình tiết là Tôn Ngộ Không bị thu vào trong hồ lô. Thật ra, đây là một loại năng lực của Đạo gia, cũng có thể gọi là phép thuật vậy!

Vào thời Đường Huyền Tông, khi Dương quý phi còn chưa nhập cung, có một phi tần tên là Võ Huệ rất được đắc sủng. Huyền Tông tuy tôn sùng Đạo gia, nhưng Huệ Phi đó lại hết lòng tin theo Phật giáo, mỗi người một sở thích.

Phật tử mà Huệ phi tin theo, tên gọi Kim Cang Tam Tạng, cũng là một kì nhân, đạo thuật có thể sánh ngang với hai người là La Công Viễn, Diệp Pháp Thiện.

Có một ngày, Huyền Tông đi đến viện Công Đức, bỗng nhiên bị ngứa lưng. La Công Viễn bẻ gãy cành trúc, hóa thành cây Thất Bảo Như Ý, bước lên gãi lưng cho Huyền Tông. Huyền Tông mừng rỡ, quay người lại nói với Tam Tạng rằng: “Ngài cũng có thể làm được vậy chăng?”

Tam Tạng đáp: “Thuật biến hóa của Công Viễn, thần sẽ lấy vật thật cho bệ hạ”. Trong tay áo lấy ra một cây Lục Bảo Như Ý dâng lên. Huyền Tông một tay đón lấy, cây Như Ý của Công Viễn cầm trong tay trước đó, lập tức lại biến thành cành trúc. Huyền Tông về cung nói lại với Huệ phi, Huệ phi mừng lắm.

Huyền Tông nói với Tam Tạng rằng: “Pháp sư đã có thần lực, Diệp tôn sư thật không thể sánh bằng. Nay có cái bình ở đây, chẳng hay pháp sư có thể làm cho Diệp tôn sư vào trong cái bình này chăng?”.

Tam Tạng nhận lấy cái bình, bảo Diệp Pháp Thiện xếp bằng theo pháp của Thiền môn, miệng niệm thần chú, còn chưa niệm xong, thân thể của Pháp Thiện bị thu nhỏ lại. Niệm thêm lần hai, Pháp Thiện đã ở trên miệng của chiếc bình, rồi bị thu vào trong.

Huyền Tông trong lòng có chút không vui. Một lát sau, không thấy Pháp Thiện đi ra, lại nói với Tam Tạng rằng: “Pháp sư đã có thể thu người này vào trong chiếc bình, vậy cũng có thể khiến ông ta ra khỏi chiếc bình chứ?”.

Tam Tạng nói: “Đi vào thì khó khăn phiền phức, ra ngoài cũng là pháp này thôi”.

Liền bắt đầu niệm chú, niệm xong không thấy Diệp Pháp Thiện ra, Tam Tạng sốt ruột, một hơi niệm cả mấy lần, nhưng vẫn không có động tĩnh gì. Huyền Tông kinh ngạc nói: “Phải chăng tôn sư đã không còn nữa?”. Sắc mặt liền biến đổi hẳn.

Huệ phi sắc mặt tái nhợt, Tam Tạng cũng hoảng hốt, chỉ có La Công Viễn che miệng lại cười. Huyền Tông hỏi ông rằng: “Bây giờ phải làm sao đây?”.

Công Viễn cười đáp: “Bệ hạ không cần phải lo lắng, Pháp Thiện ở cách đây không xa”. Tam Tạng lại niệm chú một lúc, vẫn không thấy đi ra. Đang lúc không biết làm thế nào, Cao Lực Sĩ ở bên ngoài báo rằng: “Diệp tôn sư đi vào”.

Huyền Tông vội cho gọi vào, rồi kinh ngạc nói: “Chiếc bình còn ở đây, người lại từ đâu đến chứ?“.

Pháp Thiện nói rằng: “Ninh vương mời thần dùng cơm, trong lúc làm phép, nếu tâu với bệ hạ, nhất định sẽ không cho đi, vừa khéo mượn cơ hội vào trong chiếc bình, đến chỗ Ninh vương dùng cơm. Nếu không phải nhờ một câu chú của pháp sư, e rằng đã đi không được rồi”. Huyền Tồng cười lớn. Huệ phi, Tam Tạng mới thở phào nhẹ nhõm.

2. Bạch nhật phi thăng

Trong những sách cổ của Trung Quốc, nhất là những sách cổ điển của Đạo gia  như “Đan kinh”, “Đạo tạng” v.v…, đều có ghi lại những hiện tượng “bạch nhật phi thăng”. Thời đó, đối với một số kỳ nhân sau khi trải qua tu luyện gian khổ có thể bay lên không trung, người ta không gọi là công năng đặc dị, mà trực tiếp gọi là thiền tiên. Dưới đây là một số câu chuyện người hóa thành tiên bay lên trời được trích dẫn từ trong “Tập tiên lục”, “Tục tiên truyền”.

Thời triều Hán, Nam Dương Công Chúa hóa thành tiên

Trong “Tập tiên lục” ghi chép lại chuyện của Nam Dương công chúa thời triều Hán, cô luôn ngưỡng mộ những điều huyền ảo, tôn kính tu Đạo. Mỗi lần nhớ lại thời Khởi Văn Đế thái bình thịnh thế, thời Hán Vũ Đế thường xuyên có thần tiên hiển hiện tại nhân gian, cô nói vị hôn thê Vương Thành của mình rằng: “Nếu kiếp này thế đạo hỗn loạn, quốc nạn ập đến, là một nữ giới, ta đối việc việc này hoàn toàn bất lực. Nhưng ta có thể điềm tĩnh, bình thản, lui thân tu đạo, rời xa tranh đua của nhân thế, như vậy sẽ kéo dài được tuổi thọ. Nếu cứ theo thời thế tiến thoái, khó tránh khỏi trôi dạt lênh đênh khổ sở mệt mỏi”. Vị hôn phu Vương Thành nói muốn tận lực làm việc cho triều đình, không thể làm theo lời khuyên của công chúa được.

Công chúa đành phải đi đến Hoa Sơn một mình dựng nhà độc tu, ở đó rất nhiều năm. Bởi cô chuyên tâm tu luyện, nên đã đạt đến cảnh giới chân linh cảm ứng, thế là công chúa không sống trong túp lều ấy nữa mà rời đi. Có người nhìn thấy công chúa đạp mây từ từ nâng mình lên ở trong khe vách đá dựng đứng. Sau khi Vương Thành nghe chuyện này, liền đến Hoa Sơn tìm công chúa, đi qua từng khe núi, từng khe núi, leo lên tầng tầng đỉnh núi, trông mòn con mắt, nhưng bốn phía lặng yên im ắng, không tìm thấy tung tích của vợ đâu.

Bỗng một ngày, anh ta đứng trên đỉnh núi nhìn thấy một đôi giày hồng mà công chúa để lại, liền đi đến phía trước muốn nhặt lên, không ngờ đôi giày liền biến thành đá. Sau này đỉnh núi đó được gọi là đỉnh núi Công Chúa.

Đổng Thượng Tiên lột da bay lên trời

Trong “Tập tiên lục” có ghi lại, Đổng Thượng Tiên là con gái của một quan huyện. Khi cô 17 tuổi, dung mạo thanh tú, ăn cơm và uống nước ít, thích trầm tĩnh, bình lặng, sống rất hòa đồng với mọi người.

Nhìn vào dung mạo và phẩm đức của cô, những người hàng xóm ai cũng nói cô là tiên ở trên trời, vì thế nên gọi cô là Thượng Tiên.

Có một ngày, bỗng nhiên mây tím buông xuống dày đặc, nghe thấy tiếng nhạc thiên thượng nổi lên từng hồi từng hồi, Thanh Đồng và Tiên Nhạc cùng nhau hạ xuống sân nhà cô. Hai đồng tử dẫn cô chầm chậm bay lên trên trời, khi Thượng Tiên đã cách mặt đất mấy mét, cha mẹ của cô đứng thần người ra, khóc lóc gọi cô, lúc này Thượng Tiên đành phải hạ xuống, ngay lập tức mây tím và đồng tử không thấy bóng dáng nữa.

Thời bấy giờ đang là thời gian Đường triều khai nguyên, Đường Huyền Tông là người rất kính ngưỡng thần tiên. Sau khi chuyện Thượng Tiên bay lên trời truyền ra, hoàng đế liền hạ chỉ triệu tập Thượng Tiên đến Trường An và được phép ở trong cung.

Khoảng hơn một tháng, Thượng Tiên xin được trở về nhà, Hoàng đế cho phép, và phái sứ giả đưa cô về quê nhà. Hơn một năm sau, Thượng Tiên lại bay lên trời, cha mẹ vẫn như lần trước khóc nỉ non không thôi, nhưng lần này cô không hạ xuống nữa, cô chỉ lột bỏ da để lại. Hình thể bộ da trông giống hệt cô, vẫn mặc quần áo, giống như xác của ve sầu. Hoàng đế sau khi nghe chuyện này, liền hạ lệnh xây hai tòa miếu tại chỗ Thượng Tiên bỏ lại bộ da của mình.

Lê Hiếu, Tiểu Thiện

Vượt sông bằng một cọng lau – Kỳ tích của người tu luyện thời cổ đại

Những ghi chép trong lịch sử đã chứng minh được rằng người tu luyện có thần thông và công năng siêu thường.

Bồ Đề Đạt Ma vượt sông bằng một cây lau. (Tranh từ Internet)

Đạt Ma vượt sông bằng cây lau

Bồ Đề Đạt Ma là ông tổ của phái Thiền tông trong Phật giáo Trung Quốc, được tôn là “ông tổ Đạt Ma”.

Thời Lương Vũ Đế (464 – 549) (Nam Triều), Bồ Đề Đạt Ma từ nước Thiên Trúc vượt biển đến Trung Quốc. Đến Nam Hải được Huyện lệnh Quảng Châu là Tiêu Ngang đón tiếp và tâu lên vua, Võ Đế sai sứ giả đến đón. Đến ngày một tháng mười năm sau thì đến Nam Kinh.

Theo ghi chép trong “Bích nham lục”: “Đạt Ma nhìn từ xa thấy vùng đất này có căn tính của Phật liền quyết định vượt biển đến truyền tâm ấn khai mở; bất lập văn tự, trực chỉ nhân tâm, kiến tính thành Phật”.

Đạt Ma nghe nói Lương Vũ Đế tin Phật pháp liền đến Kim Lăng giảng pháp.

Tương truyền, khi gặp Đạt Ma, Hoàng đế Vũ Đế đã hỏi ông: “Sau khi ta lên ngôi, đã xây không biết bao chùa chiền và tạo nơi ở cho các thầy tu. Ta đã tích được bao nhiêu công đức?”.

Bồ Đề Đạt Ma đã trả lời: “Không có công đức”.

Hoàng đế lại hỏi ông tại sao. Bồ Đề Đạt Ma đáp: “Đó là bởi vì sự thiếu sót. Mặc dù nó trông có vẻ ông có công đức, nhưng lại không phải là công đức thật”.

Vũ Đế hỏi tiếp: “Vậy thì công đức thật sự là gi?”.

Bồ Đề Đạt Ma đáp: “Sống mà không có lo lắng và không có suy nghĩ gì trong tâm. Loại công đức này không thể cưỡng cầu”.

Hoàng đế lại hỏi: “Điều quan trọng nhất của Phật Pháp là gì?”.

Bồ Đề Đạt Ma nói: “Khi một người có ràng buộc, thì không đắc được Phật Pháp”.

Nhưng dường như Lương Vũ Đế không thể lĩnh ngộ được những lời của Đạt Ma, thế là Đạt Ma liền rời Giang Nam.

Ông đã dùng một cọng lau để vượt sông Dương Tử và đã đi đến miền Nam của Ngụy. Rồi ông đi đến Lạc Dương (tại tỉnh Hà Nam) và đã tu luyện tại chùa Thiếu Lâm trên núi Tung Sơn. Ông đã thiền định trong suốt 9 năm.

Vì Đạt Ma ông đứng trên cây lau vượt qua sông Trường Giang, từ đó có điển tích “vượt sông bằng cây lau” (nhất vĩ độ giang).

Rẽ nước vượt sông

Theo ghi chép trong “Bắc Tề thư”, vào thời Nam – Bắc triều ở Bắc Tề có người tu đạo gọi là Do Ngô Đạo Vinh, thích Đạo pháp từ nhỏ, đã đi đến núi Trường Bạch cùng một người đồng chí hướng và ẩn cư tu đạo trong núi, thông hiểu đạo pháp.

Do Ngô Đạo Vinh nghe nói có người Tấn Dương am hiểu đạo pháp liền đến thăm hỏi. Người này đang làm thuê ở nhà một người khác và không ai quen biết anh ta, vì thế Do Ngô Đạo Vinh mất nhiều công sức mới tìm được. Người kia thấy Do Ngô Đạo Vinh một lòng cầu đạo nên đã truyền thụ cho anh ta.

Người Tấn Dương kia nói với Do Ngô Đạo Vinh: “Ta là tiên Hằng Nhạc ở trên trời, vì phạm tội nhỏ nên bị đày xuống thế gian. Đến nay cũng hết kỳ hạn án phạt nên phải trở lại thiên đình. Anh tiễn ta đến Sông Phần nhé”.

Khi đến sông Phần thì gặp lúc nước dâng cao làm cây cầu bị gẫy, tiên Hằng Nhạc liền dùng pháp thuật rẽ nước ra và đi qua đáy sông. Cảnh tượng này chỉ có mình Do Ngô Đạo Vinh được trông thấy, còn những người xung quanh không thể trông thấy, ai cũng nói: “Nước chảy xiết như thế mà người này cũng bơi qua được”. Mọi người ai cũng sửng sốt.

Do Ngô Đạo Vinh trở lại núi Lang Nha ẩn cư tu đạo, chỉ ăn tùng tử và phục linh, tìm bí quyết trường sinh.

Bảo An tổng hợp

Những thần thông và phép thuật kỳ lạ lưu truyền trong dân gian

Những người tu luyện trong trường phái Phật và Đạo sau khi đạt đến một cảnh giới nhất định thì có thể xuất hiện thần thông. Tuy nhiên, những thế gian tiểu đạo hay một số kỳ nhân dị sĩ trong dân gian cũng có rất nhiều người mang thần thông.

 Không chỉ những người tu Phật và Đạo mới có công năng. (Ảnh: Internet)

Phép thuật mà ngày nay người ta nhắc tới, ở thời cổ đại được gọi là ma thuật. Một vài ma thuật là do kĩ xảo, một số là có sự góp mặt của những bí thuật thần thông. Những thứ thần thông và pháp thuật này, đều có những tính năng đặc biệt, không phải là ai cũng có. Vì người thường không hiểu được, nên đều nói đó là giả dối.

Từ Quang trồng dưa trên đường

Nước Ngô có một người tên là Từ Quang, từng biểu diễn pháp thuật trước mặt hàng xóm láng giềng. Ông xin dưa của người bán dưa để ăn, người bán dưa không đồng ý, ông bèn xin ông ta hạt dưa, sau đó dùng gậy chọc một lỗ trên mặt đất rồi gieo hạt.

Một lúc sau hạt dưa nảy mầm, dây leo mọc dài ra, nở hoa đơm trái, ông liền hái xuống ăn, còn tặng cho mọi người đứng xem. Người bán dưa nhìn lại đống dưa ông ta đang bán, đã không cánh mà bay.

Pháp thuật của Cát Huyền

Cát Huyền, tự Hiếu Tiên, từng theo Tả Nguyên Phương học “Cửu đan kim dịch tiên kinh”. Ông từng cùng khách mời ngồi mặt đối mặt ăn cơm, khi nói đến chuyện biến hóa, khách mời nói: “Sau khi ăn cơm xong, mời tiên sinh làm phép biến hóa xem cho vui”.

Cát Huyền nói: “Ông không muốn xem luôn bây giờ sao?”. Sau đó liền nhổ cơm ở trong miệng ra, số cơm đó đều biến thành một bầy ong bắp cày, tổng cộng có mấy trăm con, tất cả đều bám trên người của vị khách, nhưng cũng không đốt người. Sau một hồi, Cát Huyền liền mở miệng để bầy ong bay vào.

Cát Huyền nuốt xuống, vẫn là cơm như lúc đầu, ông lại điều khiển mấy loại bò sát và chim yến tước nhảy múa, mấy loài động vật đó nhảy có nhịp điệu tiết tấu như người.

Mùa đông buốt giá ông mời khách những trái dưa, trái ớt tươi rói, mùa hè lại tặng khách băng lạnh tuyết trắng. Ông từng đem hàng chục đồng tiền xu, bảo mọi người ném xuống giếng, sau đó ông dùng một cái thùng đựng, đứng trên thành giếng hô hoán đám đồng xu, từng đồng xu lần lượt từ dưới giếng bay lên. Ông bày tiệc rượu mời khách, không cần người đưa chén, mà chén sẽ tự đến trước mặt khách, nếu không uống hết, chén sẽ đứng lì ở đó.

Kết quả hình ảnh cho tôn quyền
Tôn Quyền hỏi Cát Huyền cách cầu mưa. (Ảnh minh họa)

Một lần, ông và Tôn Quyền ngồi ở trên lầu, thấy mọi người đang làm tượng đất cầu mưa. Tôn Quyền nói: “Bách tính mong mưa, nhưng làm những tượng đất này lẽ nào có thể được như ý?”.

Cát Huyền nói: “Thực ra tạo ra nước mưa rất dễ”. Nói xong liền viết một lá bùa đặt ở trong miếu Thổ địa, trong nháy mắt, trời đất âm u, mưa như trút nước, tích được nước mưa dồi dào. Tôn Quyền hỏi: “Trong nước có cá không?” Cát Huyền lại viết một tấm bùa ném vào trong nước. Lát sau, trong nước liền xuất hiện mấy trăm con cá lớn. Tôn Quyền phái người đi bắt mấy con cá về ăn.

Ngô Mãnh rẽ nước vượt sông

Ngô Mãnh, người huyện Bộc Dương, là quan lại nước Ngô, nhậm chức Huyện lệnh Tây An, nhà ở huyện Phân Ninh. Bản tính của ông rất hiếu thuận, từng gặp thánh nhân Đinh Nghĩa, Đinh Nghĩa đã dạy tiên đạo cho ông. Ông lại học được tuyệt kỹ Thần phù, vì thế pháp thuật của ông vô cùng cao siêu.

Lần nọ Ngô Mãnh gặp phải gió lớn, bèn viết một lá bùa ném vào trong phòng, thì có một con chim xanh ba chân bay ra, gió to lập tức ngừng lại. Có người hỏi duyên cớ sao lại làm vậy, ông nói: “Ở Nam Hồ có một chiếc thuyền, bị cơn gió lớn này tấn công, đạo sĩ ở trên thuyền đang khẩn cầu”. Mọi người đi kiểm chứng, quả đúng là như vậy.

Ba ngày sau khi Can Khánh – huyện lệnh Tây An mất, Ngô Mãnh nói: “Số của ông ta vẫn chưa tận, nên lên trên trời khiếu nại”. Rồi nằm xuống bên cạnh cái xác. Vài ngày sau, ông cùng Can Khánh thức dậy.

Ngô Mãnh nằm xuống bên cạnh cái xác. Vài ngày sau, ông cùng Can Khánh thức dậy. (Ảnh minh họa qua xuehua.us)

Sau đó ông dẫn đồ đệ trở về quận Dự Chương, nước sông Trường Giang chảy rất xiết, mọi người không thể qua sông. Ngô Mãnh liền dùng chiếc quạt trắng trong tay vạch một đường lên mặt sông, nước sông liền rẽ ngang, nơi đó liền trở thành một con đường, họ từ từ đi qua Trường Giang. Sau khi họ đi qua sông, nước sông liền trở về như cũ, mọi người đều cảm thấy vô cùng kinh ngạc.

Ngô Mãnh từng nhậm chức ở huyện Tầm Dương, trong nhà Chu tam quân nổi trận cuồng phong, Ngô Mãnh bèn viết một lá bùa ném lên nóc nhà, một lát sau gió liền ngừng thổi.

Bồ Đề Đạt Ma qua sông bằng cây lau

Tranh vẽ đạt ma vượt sông bằng cọng lau. (Ảnh: Internet)

Bồ Đề Đạt Ma là ông tổ của phái Thiền tông trong Phật giáo Trung Quốc, được tôn là “ông tổ Đạt Ma”. Thời Lương Vũ Đế (464 – 549) (Nam Triều), Bồ Đề Đạt Ma từ nước Thiên Trúc vượt biển đến Trung Quốc. Đến Nam Hải được Huyện lệnh Quảng Châu là Tiêu Ngang đón tiếp và tâu lên vua, Võ Đế sai sứ giả đến đón. Đến ngày một tháng mười năm sau thì đến Nam Kinh.

Theo ghi chép trong «Bích nham lục»: “Đạt Ma nhìn từ xa thấy vùng đất này có căn tính của Phật liền quyết định vượt biển đến truyền tâm ấn khai mở; bất lập văn tự, trực chỉ nhân tâm, kiến tính thành Phật”.

Đạt Ma nghe nói Lương Vũ Đế tin Phật pháp liền đến Kim Lăng giảng pháp. Nhưng Lương Vũ Đế không hiểu gì về Phật pháp nên không thể lĩnh ngộ được những lời của Đạt Ma, thế là Đạt Ma liền rời Giang Nam.

Sau đó Đạt Ma lại băng qua Trường Giang lên phương Bắc giảng Phật pháp, ông đứng trên cây lau vượt qua sông Trường Giang, vì thế mà có điển tích “vượt sông bằng cây lau” (nhất vĩ độ giang). Hiện nay, ở Thiếu Lâm Tự có bức điêu khắc bằng đá về điển tích này.

Khi băng qua sông, Đạt Ma đến kinh đô Lạc Dương của Bắc Ngụy, sau đó lên Thiếu Lâm Tự trên núi Tung Sơn và sống suốt 9 năm trong hang đá tu luyện khổ cực.

Tuệ Tâm, theo Secret China