Chuyên mục: Tâm Linh Thường Thức

Những nhà ngoại cảm làm việc thiện nổi tiếng thế giới

Lịch sử thế giới đã chứng kiến nhiều nhà ngoại cảm với khả năng siêu nhiên đã không quản khó khăn đóng góp năng lực phi thường của mình để làm việc thiện, giúp đỡ mọi người xung quanh.

Như chúng ta đã biết, ngoại cảm là một khả năng đặc biệt của con người, mà cho tới bây giờ chưa được khoa học chứng minh.

Người có khả năng ngoại cảm không chỉ sử dụng những giác quan bình thường.

TIN LIÊN QUAN

1. Daniel Dunglas Home (1833 – 1886)


Daniel Dunglas Home

Daniel Dunglas Home

Vào một dịp Home tới thăm Hartford, ông cùng nhóm người đã tiến hành tổ chức nghi lễ chiêu hồn.

Một ngọn đèn được đặt phía trên chiếc khăn trải bàn rồi cả nhóm đứng vòng tròn vây quanh, hi vọng linh hồn được chiêu gọi sẽ xuất hiện ở chính miếng vải đó.

Các nghi lễ gọi hồn được Home tiến hành.

Quả không ngoài dự đoán, chỉ một lát sau, các góc của tấm khăn trải bàn lần lượt được nâng cao như bị treo lên ở phía gần với Home.

Có một cái gì đó di chuyển phía dưới tấm khăn mà tất cả mọi người đều nhìn thấy.

Dần dần, hình ảnh một bàn tay hiện ra, cả nhóm cùng lắc tấm khăn để xem bàn tay có di chuyển qua lại hay không.

Bàn tay biến mất ngay khi Home nhấc bỏ tấm khăn trải bàn ra.

Một lát sau, tuy không còn nhìn thấy bằng mắt thường, nhưng những người có mặt đều cảm nhận thấy bàn tay bí ẩn kia lần lượt chạm vào từng thành viên trong nhóm chiêu hồn.

Điều kỳ lạ hơn xảy ra trong buổi hôm đó chính là những âm thanh phát ra từ cây đàn guitar của một thành viên trong nhóm.

Ban đầu, cây đàn được đặt phía dưới bàn và nó bất chợt được xướng lên như thể có ai đang chơi nhạc vậy.

Để chứng thực về việc cây đàn đang tự phát ra âm thanh, chứ không phải một trò ảo thuật khéo léo nào đó nên mọi người lần lượt truyền tay nhau.

Nhưng cây đàn không ngừng phát ra âm thanh cùng những giai điệu vô cùng kỳ lạ, càng ngày càng to rõ ràng hơn.

Ngay cả khi Home đặt cây đàn gần bức tường, nó vẫn tiếp tục tự chơi, rồi bay lên cao, chạm vào vai một thành viên trong nhóm rồi tiến gần tới chỗ Home trước sự chứng kiến của tất cả mọi người.


Daniel Dunglas Home có khả năng làm cho đồ vật di chuyển mà trong một buổi kiểm chứng, các giáo sư từ ĐH Harvard cũng không thể lý giải điều này

Daniel Dunglas Home có khả năng làm cho đồ vật di chuyển mà trong một buổi kiểm chứng, các giáo sư từ ĐH Harvard cũng không thể lý giải điều này

Sửng sốt hơn, mọi người còn thấy một bàn tay viết lại dòng thông điệp trên mặt bàn.

Tuy nhiên, khi có người lại gần, cố gắng chứng thực xem bàn tay đó làm bằng chất liệu gì thì nó biến mất.

Trên tờ giấy chỉ còn duy nhất một chữ DEAR (nghĩa là “thân gửi”, hoặc “yêu quý”) mà sau khi xác nhận, không ai trong phòng có chữ viết tương tự vậy.

Một lát sau, bàn tay ma thuật này xuất hiện trở lại và di chuyển khắp phòng, lần lượt bắt tay của từng người.

Các thành viên có mặt hôm đó kể lại, họ cảm thấy đó là một bàn tay mềm mại, có hơi ấm, nhưng chỉ có thể nhìn thấy tới phần cổ tay mà thôi.

2. Gerard Croiset aka Gerard Boekbinder (1909 – 1980)

Gerard Croiset aka Gerard Boekbinder sinh năm 1909 tại Hà Lan. Ông nổi tiếng là một nhà ngoại cảm với khả năng thấu thị. Năng lực siêu nhiên của ông được phát hiện ra trong khoảng thời gian làm việc tại tiệm sửa chữa đồng hồ.


Gerard Croiset aka Gerard Boekbinder

Gerard Croiset aka Gerard Boekbinder

Một lần, khi cầm vào chiếc thước kẻ của người chủ cửa hàng, ông đột nhiên thấy hàng loạt những hình ảnh về các sự kiện liên quan tới người đó.

Croiset đã sửng sốt hỏi lại ông chủ của mình và nhận được lời khẳng định, những thông tin đó hoàn toàn chính xác.

Với khả năng đặc biệt này, ông Croiset đã giúp cảnh sát Hà Lan và quốc tế phá được hơn 800 vụ mất tích.


Với khả năng đặc biệt này, ông Croiset đã giúp cảnh sát Hà Lan và quốc tế phá được hơn 800 vụ mất tích.

Với khả năng đặc biệt này, ông Croiset đã giúp cảnh sát Hà Lan và quốc tế phá được hơn 800 vụ mất tích.

Một trong những cuộc tìm kiếm thành công nổi tiếng nhất của nhà thấu thị Gerard Croiset đã được một tờ báo Nhật Bản tường thuật lại.

Tháng 5/1976, một bé gái 7 tuổi đến từ Chiba, Nhật Bản tên là Miwa Kikuchi đã bị mất tích trên đường trở về nhà sau giờ học.

Những người bạn cùng lớp cho biết, lần cuối chúng nhìn thấy cô bé là lúc Miwa ở gần đường quốc lộ, cách nhà khoảng 50m.

Đã có hơn 750 cảnh sát được huy động, lùng sục khắp mọi ngóc ngách để tìm kiếm cô bé mà vẫn bặt vô âm tín. Đến ngày 3/5/1976, họ đành nhờ tới sự giúp đỡ của Gerard Croiset.

Cô bé đang ngâm mình trong hồ nước lạnh lẽo cạnh bến cảng tàu và một công trình kiến trúc có màu vàng.

Tất cả mọi người sửng sốt vì manh mối duy nhất họ cung cấp cho ông Croiset chỉ là một bức ảnh, không kèm theo địa chỉ nhà Miwa.

Tất cả diễn biến của cuộc truy tìm này đều được Đài truyền hình Nhật Bản ghi hình cẩn thận.

Team TGBA sưu tầm.

Xem thêm :

Categories: Nhà Tiên Tri

Sau chấn thương, bỗng nhiên nhớ chuyện “tiền kiếp”, nói ngôn ngữ lạ: Giới khoa học nói gì?

Nhớ chuyện “tiền kiếp” luôn là một trong những bí ẩn hàng đầu của các nhà khoa học.

Năm 20 tuổi, cô gái Elina Markand (người Đức) bị tai nạn. Khi tỉnh dậy, Elina bỗng nói tiếng Italy rất thông thạo, mặc dù trước đó cô chưa từng học một ngoại ngữ nào. Cô còn tự nhận mình là Rozetta Caste Liani, công dân Italy và yêu cầu được trở về thăm quê hương.

Về tới “nhà”, Elina mới biết rằng người có tên Rozetta Caste đã mất từ năm 1917. Đón cô là một bà già lụ khụ, xưng là con gái của Rozetta Caste. Elina chỉ tay vào bà già, nói:

Đây là Fransa, con gái tôi!”. Lúc ấy, tất cả mọi người đều giật mình, vì người đàn bà quả thực tên là Fransa, đúng như Elina gọi.

Câu chuyện của Elina Markand đã trở thành đề tài đầy hấp dẫn cho khoa học. Thực tế, trong lịch sử từng có không ít trường hợp tương tự và hiện tượng “nhớ về quá khứ” không nhất thiết phải bắt đầu từ một chấn thương nào đó, như trường hợp của Elina Markand.

Trong lịch sử từng có không ít trường hợp tương tự và hiện tượng "nhớ về quá khứ".


Trong lịch sử từng có không ít trường hợp tương tự và hiện tượng “nhớ về quá khứ”.

Vào thập niên trước, một cô gái nhỏ người Anh đã biến thành “một người xa lạ” sau khi thức dậy vào một buổi sáng. Em không nhận ra mẹ và người thân của mình, không nói được tiếng mẹ đẻ trong khi lại thông thạo tiếng Tây Ban Nha và lúc nào cũng tỏ ra sợ sệt.

Các bác sĩ đều có kết luận giống nhau: Em bé 10 tuổi này không có biểu hiện gì về bệnh lý hoặc tâm thần, sức khỏe tốt. Em nhận mình là người Tây Ban Nha và sống ở thành phố Toledo.

Em kể lại rằng một người cùng phố do ghen ghét và đố kỵ đã đâm chết em năm em 22 tuổi. Cảnh sát Tây Ban Nha đã thẩm tra câu chuyện kỳ quặc về “tiền kiếp” của em và kết luận, đúng như lời em kể.

Ở số nhà đó trong thành phố Toledo từng có một cô gái 22 tuổi bị hãm hại. Những người hàng xóm đã tìm thấy xác cô ngay trong nhà. Câu chuyện càng sáng tỏ hơn khi hung thủ (lúc này đã già) tự đến gặp cảnh sát để thú tội.

Các nhà khoa học còn tiếp tục ghi nhận nhiều trường hợp khác. Chẳng hạn có một người đột nhiên “biến thành” công dân La Mã cổ đại, với bằng chứng khó chối cãi là anh ta biết sử dụng thứ ngôn ngữ “nguyên thủy” của mình, mà không ai hiểu được.

Tương tự như vậy, có người châu Âu bỗng nói tiếng Ai Cập, mất khả năng nói tiếng mẹ đẻ. Rồi anh ta mô tả chính xác cảnh vật ở sông Nile và tự nhận có nguồn gốc Ai Cập.

“Trí nhớ gene”

Một số nhà khoa học đã thử đưa ra một lý thuyết giải thích hiện tượng trên với khái niệm “trí nhớ gene”: Nếu các vùng “ngủ” trong ADN bị kích thích, con người có thể trở về “tiền kiếp”. Họ bỗng nhớ lại nguồn gốc La Mã hoặc Ai Cập từ xa xưa.

Cũng do ảnh hưởng bởi tiền kiếp mà nhiều người có thói quen xoa râu quai nón, mặc dù trên mặt không hề có râu. Người khác lại có thói quen nhấc vạt áo vét, y như động tác vén váy dài đang mặc khi vượt qua vũng nước của phụ nữ.

Như ở cô Elina người Đức và bé gái người Anh thì rõ ràng không hề có quan hệ nào về “gene di truyền” với người mà mình hóa thân, có nghĩa là trường hợp của họ không thể giải thích bằng “trí nhớ gene”. Vậy nghĩa là thế nào?

Những người theo đạo phật rất quen thuộc với thuyết luân hồi cho rằng thể xác con người – tức là cái “bề ngoài” – luôn thay đổi. Còn cái “bên trong thể xác” – tức linh hồn – là vĩnh cửu.

Theo thuyết luân hồi, cuộc sống không khởi đầu bằng sự sinh ra và cũng không kết thúc bằng sự mất đi. Cuộc sống cứ trôi vô tận. Linh hồn ở mỗi “kiếp” lại nhập vào một thân xác mới. Vì thế, sẽ không lạ khi cô Elina và bé gái người Anh đột nhiên nhớ lại kiếp trước của mình.

Thuyết về kết cấu “phách”

Lại có một số nhà vật lý và sinh học đưa ra cách giải thích vấn đề trên bằng “kết cấu phách”. “Phách” ở đây tất nhiên không phải là “phách” trong âm nhạc, mà là một khái niệm chỉ “phần bất biến” của con người, còn được hiểu là “phần năng lượng tách ra dưới dạng sóng”.

Khi người chết, “phách” liền tan vào vũ trụ. Vì thế, “phách” có thể hiểu là một loại “trường sóng hạt cơ bản nhẹ, hoặc là “tập hợp những năng lượng thông tin cá thể”.

"Phách" có thể hiểu là một loại "trường sóng hạt cơ bản nhẹ, hoặc là "tập hợp những năng lượng thông tin cá thể.


“Phách” có thể hiểu là một loại “trường sóng hạt cơ bản nhẹ, hoặc là “tập hợp những năng lượng thông tin cá thể. (Hình minh họa).

Theo các nhà khoa học này, thuyết về phách lý giải được gần như đa phần hiện tượng thần đồng (trong âm nhạc, thi ca, khoa học…). Ở tuổi trẻ, những thần đồng này đã tích tụ được lượng kiến thức khổng lồ mà người bình thường cả đời dù học tập chăm chỉ cũng khó có được.

Theo thuyết này, “phách” của các thiên tài là sản phẩm của hàng vạn kiếp trong quá khứ dồn lại trong một cơ thể hiện hữu. Nói cách khác, “trường sóng hạt cơ bản nhẹ” hay những “tập hợp thông tin cá thể” đã tập trung vào cơ thể họ theo một quy luật nào đó.

Nhiều nhà khoa học đã mạnh dạn đề cập tới những khái niệm rất mới về hiện tượng “nhớ về quá khứ”. Họ đã lập ra một quy trình công nghệ “cho phép bằng thực nghiệm đưa con người vào trạng thái giữa mơ và thực”.

Ở trạng thái lơ lửng kỳ ảo này, người tham gia thực nghiệm vẫn nhìn thấy những gì quanh mình, nhưng trong tiềm thức, họ lại thấy quá khứ. Phương pháp thực nghiệm này đã được áp dụng để chữa một số bệnh tâm thần và đem lại kết quả.

Mặc dù đã có những thành tựu nhất định, nhưng đến nay, những chuyện về “siêu trí nhớ” gần như vẫn nằm ngoài vòng nghiên cứu của khoa học chính thống.

Tất nhiên, điều đó không có nghĩa là nhân loại chịu bỏ cuộc để rơi tự do vào vòng “bất khả tri”, các nhà khoa học vẫn đang tìm cách để nghiên cứu những điều khó giải thích nhất.

Xem thêm:

Phù thủy và huyền thoại về những chiếc chổi bay

Với sự mở rộng giao lưu văn hóa và thành công từ những bộ phim đình đám như Harry Potter, hình ảnh về những phù thủy quyền năng đầu đội mũ nhọn, cưỡi chổi ma thuật đã không còn xa lạ với chúng ta. Nhưng có bao giờ bạn tự hỏi vì sao phù thủy lại cưỡi chổi chứ không phải một thứ gì khác?

Những ai được xem là phù thủy?

Phù thủy là những người thực hành thuật phù thủy, được cho là có năng lực siêu nhiên như bói toán, gọi hồn, giải hạn, chữa bệnh, hoặc nguyền rủa. Phù thủy thường bị coi là gây hại cho một cá nhân hay một tập thể.

Những người bị xem là phù thủy phần lớn là phụ nữ – đặc biệt là những góa phụ – những người không ai bênh vực. Ngoài ra những người già, người nghèo và những phụ nữ bào chế thuốc cũng thường được xem là phù thủy.

Phù thủy thường là phụ nữ và có nhiều quyền năng đặc biệt (Ảnh: Pinterest)

Thời xưa, thuật phù thủy thường khiến người ta kinh sợ. Trong tài liệu cổ của một du khách Ả rập ghi lại mô tả về buổi hành lễ ở Trung Hoa có đoạn: “ Trước đám đông, phù thủy dùng quả cầu gỗ có buộc dây thừng và ném lên trời. Quả cầu bay cao và biến mất, còn lại sợi dây treo lơ lửng rồi phù thủy sai một cậu bé bám vào sợi dây để leo lên trời. Ít phút sau, cậu bé biến mất. Tộc trưởng nói gì đó với phù thủy, phù thủy lập tức dùng dao cắt dây, từng phần cơ thể của cậu bé rớt xuống đất. Quang cảnh ghê rợn làm cho những người nhìn thấy kinh hãi. Sau đó, tộc trưởng khấn vái, các bộ phận của cậu bé dính vào nhau và cậu ta sống lại bình thường.”

Kinh Mật tông Phật giáo cũng đề cập đến việc các pháp sư tạo ra những đám đông và làm họ biến mất trong chớp mắt từ hàng nghìn năm trước. Những người theo môn phái tu luyện này cũng thừa nhận sức mạnh của bùa chú, pháp thuật và cho rằng chúng góp phần tạo thành niềm tin tôn giáo.

Phép thuật của phù thủy được xem là nguyên nhân của nhiều tai họa (Ảnh: alternateending.com)

Thời Trung cổ, người ta tin rằng phù thủy chính là nguyên nhân đứng đằng sau các vấn đề như dịch hạch, bão tố, băng giá, nạn sâu bọ hay những cái chết không rõ nguyên nhân…. Chính bởi vậy phù thủy bị cộng đồng khinh ghét và luôn tìm cách bắt bớ sát hại.

Bất cứ ai biểu diễn ảo thuật hoặc có những hành vi kì quặc đều bị quy kết có liên hệ vời ma quỷ và sẽ bị thiêu sống để làm vật tế thần.

Vậy tại sao phù thủy lại cưỡi chổi?

Giả thuyết đầu tiên giải thích cho vấn đề này là thời xưa con người tôn kính mẹ thiên nhiên và tin vào sự tồn tại của các vị thần. Vì vậy, để mong có được một vụ mùa bội thu, tất cả người dân hàng năm đều tổ chức tụ họp nhảy múa, ăn mừng dưới ánh trăng tròn trong đêm, mà các phù thủy hiện đại ngày này gọi đó là lễ Esbat.

Và một trong số những vũ điệu dân gian của họ là dựng đứng cây chổi và nhảy lên cao, để tượng trưng cho cây trồng cũng sẽ vươn cao giống như vậy. Họ cũng ngồi lên chiếc chổi và chạy vòng vòng xung quanh, giống như đang cưỡi ngựa để tượng trưng cho đàn gia súc sẽ được mắn đẻ và khỏe mạnh.

Phù thủy thời đó được xem là những người quyền phép và do đó người ta tin rằng họ sẽ có thể phi thân trên chổi và biến những ước mơ của họ thành hiện thực.

Harry Potter trên cây chổi bay Nimbus 2000 và đũa phép ma thuật (Ảnh: Pinterest)

Một giả thuyết khác liên quan đến thói quen điều chế mê dược của các phù thủy xưa kia.

Từ “phù thuỷ” trong tiếng Việt bắt nguồn từ tiếng Trung Quốc. “Phù” có nghĩa là “bùa”, “thuỷ” có nghĩa là “nước”, “phù thuỷ” dịch sát nghĩa từng chữ là “nước bùa”. Nó xuất phát từ việc các phù thủy thường hay sử dụng thảo dược và khoáng vật để luyện ra những thứ nước có khả năng mê hoặc con người và giúp cho việc thi triển ma thuật của các phù thủy trở nên ảo mộng và đầy huyền bí.

Một trong những loại mê dược nổi tiếng nhất tạo ra ảo giác cây chổi bay. Và kể từ đó, truyền thuyết về cây chổi bắt đầu.

Một cảnh điều chế độc dược trong tập phim Harry Potter và Hoàng tử lai (Ảnh: Pinterest)

Các thành phần của mê dược gây ra “ảo giác cây chổi” bao gồm: Bột bóng tối (Atropa belladonna), cạm bẫy ma quỷ, (Datura stramonium), cây phỉ ốc tư đen (Hyoscyamus niger), và giống cây độc (Mandragora officinarum).

Hợp chất này khá độc. Tuy nhiên nếu bôi lượng nhỏ vào một số bộ phận nhất định trên cơ thể sẽ tạo ra ảo giác lâng lâng.

Trong một cuốn sách của Jordanes Bergamo, một nhà văn thời trung cổ chuyên nghiên cứu về phù thủy có viết: “Những phù thủy thừa nhận rằng vào những đêm trăng họ xức loại mê dược gây ảo giác cho phu đánh xe ở khu vực dưới cánh tay và một vài vị trí khác trên cơ thể”.

Phù thủy luôn gắn liền với hình ảnh người đàn bà cưỡi chổi phép bay trong đêm cùng tiếng cười lanh lảnh đầy ma quái (Ảnh: Cafebiz)

Những người trúng phải loại mê dược này kể lại rằng: Khi các chất này bắt đầu phát huy tác dụng, cơ thể có cảm giác không trọng lượng giống như đang bay là là trên mặt đất. Đặc biệt, họ còn có cảm giác như đang ngồi trên một cái chổi và có thể điều chỉnh hướng của cây chổi này bay qua bay lại.

Và kể từ đó trở đi người ta cứ nghĩ đến phù thủy thì liên tưởng đến hình ảnh những góa bụa xấu xí khoác trên mình bộ đồ đen, chiếc mũ chóp nhọn, cưỡi chổi phép bay trong đêm cùng tiếng cười lanh lảnh đầy ma quái.

Xem thêm:

Nicolas Flammel và bí ẩn về hòn đá phù thủy

Ít người biết rằng Nicolas Flammel – chủ nhân của hòn đá phù thủy nổi tiếng trong bộ truyện lừng danh Harry Potter là một nhân vật được lấy cảm hứng từ một nhà giả kim người Pháp cùng tên. Viên đá phù thủy do ông tạo ra được cho có thể biến những kim loại bình thường thành vàng cũng như điều chế thuốc trường sinh.

Ngay từ thời khắc bình minh của nền văn minh nhân loại, trường sinh bất tử đã là điều mà con người luôn mong mỏi và những nỗ lực tìm kiếm phương cách để sở hữu sự sống vô thời hạn trong cơ thể vật chất đã được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau.

Với các nhà giả kim thuật, giải pháp được đưa ra là bằng mọi cách tạo ra hòn đá phù thuỷ – Lapis Philosophorum, một vật chất xúc tác huyền thoại có khả năng biến kim loại bình thường thành vàng với độ tinh khiết gần như tuyệt đối.

Hòn đá phù thủy được mô tả là có màu đỏ, trong suốt giống thuỷ tinh, nặng hơn vàng, tan trong bất kì dung dịch nào, nhưng không cháy trong lửa (Ảnh: Internet)

Họ tin rằng những tính chất huyền diệu trên giúp ngăn chặn cái chết đồng thời mang lại cho người uống thuốc cuộc sống trường sinh. Trong khi đa số các nhà giả kim cho rằng phải liên tục uống liều thuốc này ở một lượng nhất định mới có thể duy trì cuộc sống vĩnh hằng của con người, một số khác khẳng định chỉ cần uống thuốc một lần là có thể vĩnh viễn bất tử.

Trong thế giới của thuật giả kim, hòn đá phù thủy thường được mô tả là có màu đỏ, trong suốt giống thuỷ tinh, nặng hơn vàng, tan trong bất kì dung dịch nào, nhưng không cháy trong lửa. Trên các thư tịch cổ, hòn đá này mang biểu tượng của một quả trứng kèm theo một con rắn. Có không ít các nhà giả kim tuyên bố đã tạo ra được hòn đá phù thuỷ đồng thời chế ra thuốc trường sinh bất tử, tuy nhiên chưa có ai chứng minh được sự thành công ngoại trừ Nicolas Flammel, một thủ thư người Pháp sống từ năm 1330 đến năm 1418 ở Paris với những câu chuyện đầy giai thoại xung quanh hòn đá này.

Chân dung Nicolas Flammel. (Ảnh: Wikipedia)

Theo lời kể, Nicolas đã tình cờ có được một cuốn sách huyền bí được viết bởi một người Do Thái tên là Abraham và đã dành cả đời mình để nghiên cứu cuốn sách này. Đó là một quyển sách huyền bí với vỏn vẹn 21 trang được viết bằng tiếng Do Thái và Hy Lạp kèm theo những hình vẽ mô tả chi tiết từng bước quá trình chế tạo ra Hòn đá phù thuỷ. Do không hiểu được nội dung cuốn sách, vào năm 1378, ông tới Tây Ban Nha tìm sự hỗ trợ dịch thuật từ một người Do Thái cải đạo sang Công giáo.

Trở về từ Tây Ban Nha, nhờ sử dụng những kiến thức có trong quyển sách, Flamel và vợ ông đã dùng đá giả kim tạo ra bạc vào năm 1382 và sau đó là vàng. Thành công giúp Nicolas nhanh chóng trở nên giàu có. Ông mở bệnh viện, nhà thờ làm rất nhiều việc từ thiện nhưng kiên quyết giữ bí mật về thành công của mình, có lẽ do lo ngại những hậu quả nó có thể mang lại.

Ngôi nhà Nicolas Flamel từng sinh sống tại Paris, Pháp (Ảnh: Internet)

Flamel sống đến năm 88 tuổi, trên bia mộ của ông có khắc các dấu hiệu giả kim thuật phức tạp và các ký hiệu. Một số người tin rằng ông đã chết ngay sau khi bia mộ được tạo ra. Nhưng có không ít lời đồn đoán ông chỉ giả chết và đã đạt được cuộc sống trường tồn.

Người ta đồn rằng, không lâu sau khi Flamel chết có một người dân muốn mua vàng tinh khiết của ông. Người này đã tìm đến nhà ông và thất vọng vì ông không còn tại thế. Không nản lòng, người đó đã đào mộ của ông lên với hi vọng cướp số vàng tuẫn táng. Ngạc nhiên thay, trong ngôi mộ đó, chẳng những không có vàng mà cũng không thấy thi thể của Nicolas đâu. Một số cho rằng đó là sự nhầm lẫn. Nhưng cũng có người cho rằng ông đã giả chết. Bằng chứng là sau năm 1418 rất lâu, vẫn thấy những quyển sách, những bản chép tay mang tên ông được rao bán trên phố.

Vào thế kỷ 18, một khách du lịch tên là Paul Lucas tuyên bố rằng ông đã gặp một số người Arab trong sa mạc và những người này cho biết họ đã gặp cặp vợ chồng nhà giả kim nổi tiếng ấy hiện vẫn còn sống.

Alexis Monteiln, trong cuốn sách “Lịch sử nước Pháp từ những vùng đất khác”, đã kể về việc tình cờ gặp được một trí tuệ thiên tài người Pháp và người này cũng kể về việc đã gặp Nicolas Flammel, không những còn sống mà vẫn tiến hành rất nhiều những nghiên cứu bí mật dưới lòng đất.

Một bức họa mang biểu tượng hòn đá phù thủy (Ảnh: Internet)

Cuối thế kỷ 20, Averroes Secundus, một người Syria cải đạo sang Công giáo, viết cuốn sách “Terra incognita Perpetua” kể về việc ông đã đến thăm hệ thống mê cung bí mật nằm dưới lòng đất Tây Ban Nha, đâu đó bên dưới cao nguyên Sierra Morena.

Ông ta cho biết có rất nhiều lối vào hệ thống mê cung đường hầm từ những toà nhà bỏ hoang và mê cung đường hầm bí ẩn này lớn đến nỗi vươn xa đến tận Castilia, Galicia, Catalunya và xứ Basque – tức là kéo dài hàng trăm km.

Mê cung được mô tả là chứa đầy báu vật của cải quá sức tưởng tượng và là nơi cư trú của cả một dòng tu. Họ được cho là đang nắm giữ những cuốn sách quý giá, những bí ẩn to lớn được canh gác bảo vệ kỹ lưỡng cẩn mật nhất cùng với đó là những gì chưa từng được phát hiện ra vẫn đang được nghiên cứu và thử nghiệm trong những cơ sở bí mật dưới lòng đất.

Averroes Secundus thậm chí tuyên bố rằng ông đã gặp Nicolas Flammel nổi danh bằng xương bằng thịt, đang sống cùng các đạo hữu của dòng tu trong mê cung. Averroes Secundus còn được nghe Nicolas Flammel nói về việc đang tiến hành những nghiên cứu biến vật chất hữu hình thành vô hình, mục đích chính là tìm ra phương thức tối ưu để bảo vệ thế giới ngầm khỏi lòng tham vô đáy của người ngoài.

Hòn đá phù thủy là nguồn cảm hứng cho phần thứ nhất của bộ truyện lừng danh Harry Potter (Ảnh: Internet)

Không dễ để biết được sự thật về những câu chuyện huyền bí này, nhưng nhiều người tin rằng một hòn đá cho phép con người có cuộc sống vĩnh hằng rất khó tồn tại. Sinh mệnh của một người vốn dĩ do thiên định dựa trên phúc phận và tâm tính.

Các ghi chép trong sử sách cho thấy những người có thọ mệnh lớn đều là người sử dụng các kỹ thuật nội đan (luyện thở và tu tâm tính) thay vì sử dụng những kỹ thuật ngoại đan (chế thuốc). Rất nhiều các bậc quân vương sử dụng các loại đan dược thậm chí mất mạng sớm do trúng độc. Bởi đơn giản, những người có tâm tính không cao nếu có cuộc sống bất tử chắc chắn sẽ gây ra những hậu quả lớn cho thế giới con người.

Xem thêm:

Giải mã Búp bê Kuman Thong – Búp bê bí ẩn nhất thế giới

Búp bê Kuman Thong (Kuman Tong hay Guman Thong) còn được gọi là “Cậu bé vàng” hay “Quỷ Linh Nhi”, một loại bùa ngải huyền bí chỉ có thể tìm thấy ở Thái Lan.

1. Sự thật đằng sau một em bé Kuman Thong đáng yêu

Kuman Thong được tạo ra từ lòng trắc ẩn đối với nỗi đau khổ của những đứa trẻ vì thiếu điều kiện để được tái sinh vào nơi tốt hơn. Các nhà sư hoặc thấy bùa sẽ giúp đỡ những đứa trẻ đáng thương này bằng cách đưa chúng vào một nơi tạm thời để trú ẩn, chẳng hạn như mặt dây chuyền hoạ tiết hoặc bức tượng nhỏ hình em bé.

Búp bê Kuman thong

Các nhà sư sẽ lấy thi hài của trẻ sơ sinh và sử dụng xương hoặc lông, tóc của chúng để tạo thành các mẫu bùa hộ mệnh. Đối với những em bé chưa sinh (có nghĩa là mất trong bụng mẹ) sẽ được đưa vào hình tượng em bé đang nằm và mút núm vú giả (nhìn trông rất dễ thương), những đứa bé ở độ tuổi từ 2 đến 8 tuổi, hình dáng thông thường là đứng hoặc ngồi và bạn cũng có thể thấy chúng mang theo một số vũ khí như cung tên hoặc giáo mác (tùy hình dạng). 

Mặc dù luật pháp Thái Lan đã nghiêm cấm việc “chế tạo” và sử dụng Kuman Thong từ rất lâu. Song những đồn thổi truyền tai nhau về quyền năng siêu phàm khiến cho nó vẫn luôn là một thứ hàng chợ đen đắt giá và được nhiều người tìm kiếm kể cả trong và ngoài nước.

2. Cách nuôi dạy Kuman Thong “nên người”

Bùa ngải Kuman Thong được tạo ra để những linh hồn đáng thương đó có cơ hội được yêu thương, đó cũng là cơ hội để chúng tích lũy nghiệp lành và giúp đỡ cha mẹ (chủ nhân của Kuman Thong), chúng sẽ được tái sinh trong cõi tốt hơn. 

Nếu một người thực sự chăm sóc tốt Kuman Thong, nó sẽ giúp đỡ ân nhân của mình trong việc hoàn thành những ước muốn lành mạnh trong cuộc sống. Ngay cả khi Kuman Thong được tái sinh, nó vẫn sẽ trở lại như một vị thần hay một qúy nhân giúp đỡ chủ nhân của nó. Rất nhiều người không nhận ra rằng, búp bê Kuman Thong có thể làm điều tốt hay xấu tùy theo mong muốn của chủ sở hữu.

Giống như hầu hết những đứa trẻ khác, đôi khi Kuman Thong cũng có thể nghịch ngợm, phá phách chủ nhân. Những lúc đó, người chủ cũng phải trừng phạt bằng cách đánh nó nhẹ nhàng với một cây gậy gỗ, đồng thời trách mắng bằng một giọng điệu nghiêm khắc, giống như cách mà họ dạy dỗ trẻ con vậy.

Và cuối cùng khi một người nào đó không còn khả năng chăm sóc cho một Kuman Thong được nữa, họ phải đưa nó đến một ngôi chùa rồi lặng lẽ ra về, chứ không phải là quăng đại một nơi nào đó hay cố tình phá hủy nó. 

3. Hiểm họa khó lường từ lòng tham 

Kuman Thong chỉ là những đứa trẻ nhỏ và tâm trí mong manh của chúng bị ảnh hưởng bởi hành động xấu xa hoặc tốt đẹp theo ý chủ nhân. Nếu chủ sở hữu dạy Kuman Thong làm những điều tà ác thì họ sẽ chịu ảnh hưởng bởi luật nhân quả và họ sẽ nhận quả xấu trong chu kỳ tái sinh của mình

Có rất nhiều người tò mò về công dụng thần thánh của Kuman Thong

Có một số trường hợp, Kuman Thong sẽ “khắc” cả chủ nếu linh hồn của nó quá tà ác và không thể kiểm soát được. 

4. Sự thật vô nhân tính được hé lộ

Mỗi Kuman Thong được bán với giá từ vài nghìn đến vài chục nghìn USD. Thậm chí có nơi nó được bán với giá tới gần 100 triệu đồng. Đắt là vậy nhưng niềm tin vào khả năng đặc biệt của loại bùa này khiến giới doanh nhân, người làm ăn buôn bán ở Thái Lan, Đài Loan, Hồng Kông,… Vẫn ra sức săn lùng. 

Tháng 06/2010, có 14 thi hài của trẻ sơ sinh đã được phát hiện tại một ngôi nhà hoang ở nông thôn thuộc tỉnh Ubon Ratchathani, Thái Lan. Một cựu y tá bị buộc tội đã bán những cái này với giá 30 USD/thai nhi.

Nghiêm trọng hơn, vào tháng 10/2011, có đến gần 350 thai nhi bị đã được tìm thấy bọc trong các túi nhựa và đang thối rữa tại một tu viện Phật giáo tại Wat Phai Ngoen, ngay giữa trung tâm thành phố Bangkok. Những cái này được thu gom từ năm phòng phá thai bất hợp pháp khác nhau với mục đích là bán lại cho những tay thầy pháp để làm thành bùa hộ mệnh cho các vị “khách quý”.

5. Ý kiến từ các chuyên gia văn hóa

Theo các nhà nghiên cứu văn hóa cho rằng, bùa ngải cũng giống như những loại tín ngưỡng khác, nó chỉ là nơi để chúng ta gửi gắm hy vọng và niềm tin của mình giúp tâm lý được thoải mái chứ nó không hề có những công dụng như những lời quảng cáo. Cho đến nay, khi trình độ khoa học đã phát triển vượt bậc, người ta vẫn không tìm ra bất cứ bằng chứng nào chứng minh có một thế giới khác tồn tại xung quanh chúng ta. Cũng như việc sử dụng bùa ngải có thể giúp con người thăng quan tiến chức hay kiếm được nhiều tiền.

Và cũng chưa có bất kỳ nhà khoa học nào nói rằng việc thờ cúng người đã khuất có thể đem lại may mắn cho chúng ta, đặc biệt là thi hài của những đứa trẻ vô tội.

Dù mục đích nuôi bùa ngải Kuman Thong là tốt và hướng thiện đi chăng nữa thì hãy để những nhà sư, thầy pháp làm việc đó. Một người bình thường như chúng ta chỉ cần sống tốt, suy nghĩ tích cực và hành động hướng thiện, thì mọi khó khăn, đau khổ trong cuộc sống chúng ta cũng đều sẽ vượt qua dễ dàng.

Theo We25.

Xem thêm :

Nhà tiên tri Vanga và những dự đoán về các thảm họa

Không có nhiều người tin vào tiên đoán của nhà tiên tri Vanga. Tuy nhiên, người ta không thể làm ngơ khi những tiên đoán đó thành hiện thực tới 70%.

Nhà tiên tri Vanga sinh ngày 31/1/1911, mất ngày 11/8/1996. Bà sống ẩn dật cả đời mình ở vùng làng quê hẻo lánh Kozhuth thuộc Petrich, Bungary. Năm lên 12 tuổi, bà Vanga mất đi thị lực sau khi bị cuốn bởi một cơn lốc lớn. Người ta tìm thấy cô gái nhỏ vẫn còn thoi thóp hơi thở nằm vùi lấp giữa bụi và đá, hai hốc mắt chứa đầy cát.

Vanga làm bạn với bóng tối từ đó và đưa ra lời tiên tri đầu tiên vào năm bà 16 tuổi để tìm lại bầy cừu bị mất trộm bằng cách mô tả chính xác về cái sân nơi bọn trộm cất giấu đàn gia súc.

Tuy nhiên, khả năng tiên tri của Vanga chỉ thực sự đạt đến độ chín năm 30 tuổi. Nhiều người tìm đến bà để xin những lời tiên tri. Trong đó có cả trùm phát xít Adolf Hitler. Hắn từng ghé thăm nhà Vanga và rời đi với gương mặt nặng trĩu. Khả năng phi thường của bà Vanga liên quan đến sự hiện diện của những sinh vật vô hình không rõ nguồn gốc cho bà thông tin về con người – từ khi họ sinh ra đến lúc họ chết đi.

Nhà tiên tri Vanga dự đoán về thảm họa năm 2014


Nhà tiên tri Vanga.

Nhà tiên tri Vanga còn có khả năng giao tiếp với những người đã chết cách đây hàng trăm năm. Thậm chí theo bà tiết lộ người ngoài hành tinh vẫn đang sống trên trái đất từ hàng trăm năm rồi. Họ đến từ những hành tinh mà ở đó dùng thứ ngôn ngữ Vamfirm.

Những tiên đoán nổi tiếng gắn liền với tên tuổi của bà Vanga

1. Tàu ngầm Krusk

Đúng 20 năm trước khi thảm kịch xảy ra, vào năm 1980, Vanga đã tiên tri rằng: “Cuối thế kỷ này, vào tháng 8/1999 hoặc 2000, Kursk sẽ chìm dưới nước, và cả thế giới sẽ than khóc vì nó”. Ngày đó, không một ai quan tâm đến lời tiên tri buồn cười này. Nhưng rồi người ta mới biết rằng Kursk bà nói không phải là về thành phố mang tên Kursk. Con tàu ngầm nguyên tử của Nga được đặt tên theo thành phố này đã gặp sự cố khủng khiếp và mãi mãi chìm dưới đáy đại dương. Cả thế giới đều luyến tiếc và rơi lệ cho những nạn nhân mắc kẹt trong tai nạn này.

2. Sự bùng nổ của chiến tranh

Nhà tiên tri dự đoán trong năm 2008, sẽ diễn ra nhiều cuộc xung đột trong tiểu lục địa Ấn Độ (gồm Ấn Độ, Afghanistan, Pakistan, Trung Quốc, Tây Tạng), trong thế giới của những người Hindu. Sau đó cuộc mưu sát 4 nhà lãnh đạo chính phủ cố gắng vào bốn người đứng đầu chính phủ sẽ trở thành một trong những nguyên nhân bùng nổ Thế chiến III vào năm 2010.

Nhà tiên tri Vanga dự đoán về thảm họa năm 2014

3. Tiên đoán về vụ khủng bố tháp đôi ngày 11/9/2001

Lời tiên đoán năm 1989: “Đáng sợ! Đáng sợ! Những anh em sinh đôi của Mỹ sẽ ngã xuống sau khi bị những con chim sắt tấn công. Những con sói sẽ gầm rú trong lùm cây và máu của những người vô tội sẽ chảy” dường như đã được ứng nghiệm với sự kiện tòa tháp đôi của Trung tâm Thương mại Thế giới (New York) đổ sập bởi vụ tấn công khủng bố ngày 11/9/2001.

Tháp đôi cũng có nghĩa khác là“sinh đôi” (Twins) hay còn gọi là anh em. Những kẻ khủng bố đã khống chế toàn bộ hành khách trên máy bay – “những con chim sắt” – và lao vào tòa tháp. Lùm cây trong tiếng Anh có nghĩa là “bush” nên ở đây có thể cũng ám chỉ đến tên của vị Tổng thống đương nhiệm của G. Bush.

4. Sự hồi sinh của nước Nga

Năm 1988 khi tiên tri về nước Nga, bà Vanga vẽ một vòng tròn lớn trong lòng bàn tay và nói: “Nga sẽ một lần nữa trở thành đế chế vĩ đại, chỗ dựa tinh thần cho toàn thế giới. Tuy nhiên phải đợi rất lâu khi con số 8 xuất hiện và có những ký kết về Trái đất”. Và trên thực tế, nếu nước Nga trở thành cường quốc lớn mạnh và tham gia nhóm G7 đến biến nó thành G8 thì họ sẽ có tác động tới tiến trình chiến tranh và hòa bình thế giới.

5. Khủng hoảng di cư ở Châu Âu

“Rất nhiều người chịu đau khổ. Bất hạnh sẽ tràn đến từ khắp nơi, động chạm đến tất cả các dân tộc… Mọi người sẽ đi chân không, không giày dép, không quần áo, không nhiên liệu, không ánh sáng…”.

Lời dự đoán của bà Vanga khiến người ta liên tưởng đến cuộc khủng hoảng di cư lớn nhất trong nhiều thập kỷ qua đang diễn ra ở Châu Âu.

6. Sự trỗi dậy lớn mạnh của phiến quân IS

Dường như bà Vanga đã nhìn thấy trước sự xuất hiện của lực lượng Nhà nước Hồi giáo (IS). Tổ chức khủng bố quốc tế này đang phát triển nhanh chóng và không chỉ thẳng tay sát hại vô số người vô tội mà còn hủy hoại những di tích lịch sử có ý nghĩa toàn nhân loại.

Rồi sẽ đến thời buổi khổ nạn. Con người sẽ chia rẽ nhau theo đặc điểm tôn giáo… Syria sẽ đổ sụp dưới chân kẻ chiến thắng, nhưng kẻ chiến thắng lại là kẻ không xứng đáng…”, lời dự đoán của nữ tiên tri mù vào năm 1978.

Theo như lời dự đoán của bà Vanga, “đến năm 2043, người Hồi giáo sẽ làm chủ châu Âu”.

Các lời tiên đoán về nhân loại trong hàng ngàn năm sau:

Năm 2014 – Phần lớn loài người sẽ bị mắc chứng bệnh mưng mủ, ung thư da và các loại bệnh khác về da do hậu quả cuộc chiến tranh hóa học.

Năm 2016 – Châu Âu gần như không có người sinh sống.

Năm 2018 – Trung Quốc sẽ trở thành cường quốc thế giới mới. Những nước phát triển sẽ trở thành kẻ bóc lột các nước khác từ việc khai thác các nguồn tài nguyên khoáng sản.

Năm 2019 – Nhà tiên tri Vanga tiên đoán rằng, vào năm 2019 sẽ có một“cuộc khủng hoảng lớn” dẫn đến việc nhiều người mất nền kinh tế, việc làm. Bên cạnh đó, bà Vanga cũng dự đoán những cuộc thảm sát sẽ xảy ra trong năm 2019 mà nhiều người “sẽ phải chịu đựng”. Một tiểu hành tinh khổng lồ có thể rơi ra khỏi không gian, gây thiệt hại lớn cho Trái đất.

Năm 2023 – Quỹ đạo Trái đất thay đổi.

Năm 2025 – Xuất hiện một bộ phận nhỏ người di cư đến Châu Âu.

Năm 2028 – Loài người sẽ tạo ra một nguồn năng lượng mới, kiểm soát được các phản ứng nhiệt hạch và nạn đói dần dần được khắc phục. Cũng trong thời gian này, con tàu vũ trụ có người lái lần đầu tiên sẽ đổ bộ lên sao Kim.

Năm 2033 – Băng ở các vùng cực sẽ tan chảy. Mực nước ở Thái Bình Dương sẽ dâng cao.

Nhà tiên tri Vanga dự đoán về thảm họa năm 2014

Năm 2043 – Nền Kinh tế thế giới phát triển rất phồn thịnh. Người Hồi giáo sẽ cai trị toàn bộ lãnh thổ Châu Âu.

Năm 2046 – Bất kỳ cơ quan nào trong cơ thể người điều có thể được tiến hành cấy ghép. Việc thay thế các cơ quan trong cơ thể sẽ trở thành một trong những phương pháp chữa bệnh hữu hiệu nhất.

Năm 2066 – Trong lúc tấn công thành Roma của người hồi giáo, Mỹ sẽ lợi dụng một loại hình vũ khí mới – vũ khí thời tiết. Trong thời gian này, trời trở lạnh đột ngột.

Năm 2076 – Xã hội không giai cấp hay còn gọi là Chủ nghĩa Cộng sản hình thành.

Năm 2084 – Loài người sẽ khôi phục lại thiên nhiên.

Năm 2088 – Xuất hiện một căn bệnh lạ “lão hóa chỉ trong vài giây”.

Nhà tiên tri Vanga dự đoán về thảm họa năm 2014

Năm 2097 – Căn bệnh lão hóa khủng khiếp này sẽ lan tràn trên toàn cầu.

Năm 2100 – Loài người sẽ tạo ra những mặt trời nhân tạo chiếu sáng phần tối của quả đất.

Năm 2111 – Con người sẽ trở nên kiệt sức.

Năm 2123 – Sẽ xảy ra các cuộc chiến tranh giữa những nước nhỏ.

Năm 2125 – Tại Hung-ga-ri, người ta sẽ nhận được những tín hiệu lạ từ vũ trụ. Cùng thời gian này, loài người lại một lần nữa tưởng nhớ về nữ tiên tri Vanga.

Năm 2130 – Nhiều vùng đất sẽ bị ngập trong nước.

Năm 2164 – Con người sẽ biến thành một loài động vật kinh dị (nửa người, nửa thú).

Năm 2167 – Xuất hiện tôn giáo mới.

Năm 2170 – Xảy ra một đợt hạn hán kéo dài trên Trái đất.

Năm 2187 – Hai miệng núi lửa lớn nhất thế giới sẽ ngừng quá trình phun trào nham thạch.

Năm 2195 – Những quốc gia dọc bờ biển sẽ trở nên khá giả cả về năng lượng lẫn lương thực.

Năm 2196 – Người Châu Á và Châu Âu sẽ sinh sống trà trộn nhau.

Năm 2201 – Quá trình phản ứng nhiệt hạch trên Mặt trời sẽ chấm dứt và bắt đầu thời kỳ nguội lạnh.

Năm 2221 – Trong quá trình tìm kiếm sự sống ngoài Trái đất, loài người sẽ có cuộc chạm trán rùng rợn.

Năm 2256 – Tàu vũ trụ mang một căn bệnh khủng khiếp về Trái đất.

Năm 2262 – Quỹ đạo của các hành tinh dần bị thay đổi. Cũng thời gian này, sao chổi sẽ đe dọa đến sự sống còn của sao Hỏa.

Năm 2271 – Các hằng số vật lý lại một lần nữa bị thay đổi.

Năm 2273 – Xảy ra sự xáo trộn giữa các chủng tộc da màu: da vàng, da trắng và da đen. Tiếp đó sẽ xuất hiện các chủng tộc mới.

Nhà tiên tri Vanga dự đoán về thảm họa năm 2014

Năm 2279 – Loài người sẽ lấy năng lượng từ khoảng chân không hoặc từ những lỗ đen.

Năm 2288 – Xuất hiện những cuộc va chạm với người ngoài hành tinh.

Năm 2291 – Mặt trời trở nên nguội lạnh và sau đó lại bùng cháy trở lại.

Năm 2296 – Mặt trời hoạt động mạnh hơn, lực hút vũ trụ bị thay đổi làm cho các trạm vũ trụ và vệ tinh rơi vào tình trạng hỗn loạn, mất phương hướng.

Năm 2299 – Tại Pháp xuất hiện một đảng mới chống lại người theo Đạo hồi.

Năm 2302 – Phát hiện quy luật và bí mật mới của vũ trụ.

Năm 2304 – Khám phá bí mật Mặt trăng.

Năm 2341 – Xuất hiện một thiên thể vô cùng nguy hiểm tiến gần Trái đất.

Năm 2354 – Một trong những mặt trời nhân tạo bị hỏng, kết quả dẫn tới đợt hạn hán kéo dài.

Năm 2371 – Xảy ra nạn đói lớn.

Năm 2378 – Các bộ tộc mới nhanh chóng được hình thành.

Năm 2480 – Hai mặt trời nhân tạo va vào nhau, Trái đất bị rơi vào tình trạng hỗn loạn.

Năm 3005 – Xuất hiện các “cuộc chiến” mới trên sao Hỏa, quỹ đạo của các hành tinh bị rối loạn.

Năm 3010 – Sao chổi sẽ va vào Mặt trăng, quanh Trái đất lúc này xuất hiện một vành đai toàn đá và bụi.

Năm 3797 – Đây là thời kỳ kết thúc sự sống trên Trái đất. Thời gian này cũng là cơ sở để loài người bắt đầu cuộc sống mới trên một “hệ Mặt trời” khác. Cuối cùng cũng kết thúc.

Từ năm 4302 – 4674 – Con người sẽ bất tử và đồng hóa với người ngoài hành tinh. 340 tỉ người phân tán khắp vũ trụ có thể trò chuyện với Chúa.

Năm 5079 – Vũ trụ sẽ kết thúc.

Theo edaily, Báo Giao Thông

Categories: Nhà Tiên Tri

Nhà tiên tri Vanga nổi tiếng và một cuộc đời kỳ lạ

Nhà tiên tri Vanga vừa là nhà tiên tri, nhà nghiên cứu thảo dược nổi tiếng của Bulgaria. Bà sinh ngày 31 tháng 1 năm 1911 và mất ngày 11 tháng 8 năm 1996. 

Tên khai sinh của bà là Vangelia Pandeva Dimitrova, sau khi kết hôn đổi thành Vangelia Gushcherova.

Bà bị mù từ năm 12 tuổi và sống gần trọn cuộc đời ở vùng Rupite, thuộc dãy núi Kozhuh, Bulgaria. Sinh thời, rất nhiều người từ khắp nơi trên thế giới đã đến gặp bà để chữa bệnh hoặc xin lời khuyên về những vướng mắc trong cuộc sống, và tiên đoán tương lai. Sau đây chúng tôi xin trân trọng giới thiệu một số chương trong cuốn sách “Con đường của Vanga” của tác giả Bogdanovich V.F.

Phần 1: Thời thơ ấu của Vanga

Thời trẻ, ông Pande Surchev tham gia đội nghĩa quân vũ trang chiến đấu chống lại ách đô hộ của đế quốc Osman. Ông bị người Thổ Nhĩ Kỳ bắt và kết án chung thân. Trong nhà tù “Edi kule”, ông bị tra tấn dã man và tưởng như mất hy vọng được cứu thoát, nhưng năm 1908, những người Thổ trẻ tuyên bố Thổ Nhĩ Kỳ là nước quân chủ lập hiến, và chính phủ mới đã giải phóng các tù nhân.

Pande trở về làng quê Novo-Selo của mình, nhưng ở đấy không còn ai thân thích. Bố mẹ đã qua đời mà không kịp gặp con trai, còn người em trai bỏ đi đâu đấy và mất tích. Ít lâu sau, được tin ở thành phố Strumitsa, công xã phân phát những ngôi nhà bị người Thổ bỏ lại cho những người di cư, Pande lên đường tới đó tìm kiếm hạnh phúc.

Ông được phân một ngôi nhà cũ nằm ở ngoại ô thành phố.

Khu phố có tên là “Svetiko” nằm cạnh nhà thờ Mười lăm vị Thánh Tử vì đạo.Những ngôi nhà ở đây được xây bằng gạch, giống hệt nhau, trông rất cũ kỹ. “Svetiko” giống một ngôi làng bị bỏ hoang hơn là vùng ngoại ô thành phố. Những con đường hẹp, lầy lội và bẩn thỉu, vào ban đêm, không nhìn thấy gì. Những khoảng sân nhỏ được bao quanh bởi bờ giậu bằng cây mận gai. Trong sân, lũ súc vật nhởn nhơ đi lại, ban đêm chúng bị nhốt ở tầng dưới các ngôi nhà hoặc ngay trong các phòng ở. Tất cả cư dân ở đều mới chuyển đến thành phố từ các làng lân cận để kiếm việc làm. Họ chủ yếu là nông dân, thợ thủ công hay tiểu thương.

Nổi bật trong khu phố là một vài gia đình người Zigan ồn ào và một gia đình người Thổ tên là Gyul-baba không muốn hồi hương. Người ta nói đùa rằng ông ta không muốn đi vì vườn hồng không cho phép. Thực ra, trong khu vườn của ông ta, hoa hồng nở từ đầu xuân đến cuối thu, tỏa hương thơm ngát khắp cả vùng.

Pande bắt đầu thích nghi với nơi ở mới. Cơ thể trẻ trung nhanh chóng hồi phục sau những năm tháng lao tù và hoạn nạn. Anh mua một miếng đất nhỏ và chăm chỉ làm việc. Anh là một chàng trai hiền lành, yêu lao động, sống chan hòa với những người láng giềng của mình, cũng là dân di cư như anh.

Một thời gian, Pande sống độc thân. Nhưng sau đó anh phải lòng một cô gái dịu dàng và nhanh nhẹn tên là Paraskeva. Nàng có thân hình mảnh dẻ, nhưng nhanh nhẹn và dễ thương. Pande ngỏ lời cầu hôn và được nàng ưng thuận. Chẳng bao lâu họ bắt đầu cuộc sống gia đình. Người vợ trẻ tính tình vui vẻ, sống ngăn nắp, sạch sẽ và biết vun vén cho tổ ấm gia đình. Nàng giúp chồng làm ruộng và thường xuyên hỗ trợ anh.

Ngày 31 tháng Giêng năm 1911, con gái đầu lòng của họ ra đời.

Nhà tiên tri Vanga.


Nhà tiên tri Vanga.

Cô bé đẻ non lúc mới được 7 tháng và rất yếu, các ngón tay và ngón chân dính liền với nhau, và không cất tiếng khóc chào đời. Ngay cả các cụ già từng trải cũng không tin rằng cô bé có thể sống sót.Người ta quấn đứa hài nhi vào mảnh vải len, rồi đặt nằm cạnh bếp lò.

Một thời gian sau, ấy là vào dịp tháng Ba, đứa bé bỗng nhiên khóc thét lên giữa đêm khuya. Những bà cụ thông thái giải thích cho người mẹ đang lo lắng rằng cô bé thực sự ra đời vào chính thời điểm đó.

Ở Strumitsa, thông thường người ta chưa đặt tên cho đứa trẻ nếu không tin chắc rằng nó sống sót. Cũng theo phong tục cổ, bố mẹ hoặc những người thân không được đặt tên cho đứa trẻ. Một người nào đó trong gia đình phải đi ra đường và nhờ người gặp đầu tiên đặt tên cho nó.

Và vào buổi sáng sau khi cô bé bắt đầu cất tiếng khóc, bà ngoại của cô ra đường và nhờ một người phụ nữ gặp đầu tiên đặt tên cho đứa trẻ sơ sinh. Bà ta đặt là “Andromaha”.Nhưng bà ngoại không thích cái tên ấy, bà đến gặp một phụ nữ qua đường khác; bà này đặt là“Vangelia”. Cái tên Hy Lạp này có nghĩa là “người mang đến tin lành”.Và mặc dù đây là cái tên “ngoại lai”, nhưng ở Strumitsa, nó rất phổ biến, và bà ngoại đồng ý đặt cho cháu bé.

Trong gia đình, mọi người gọi cô bé là Vanga. Cô bé ngày càng cứng cáp và chẳng bao lâu, trông chẳng khác gì các bạn cùng trang lứa. Năm Vangelia lên ba tuổi, mẹ qua đời trong lần sinh con thứ hai. Nỗi bất hạnh không dừng lại ở đó. Thế chiến thứ nhất bùng nổ, và năm 1915, bố cô được động viên vào quân đội Bungaria.

Một người đàn bà Thổ rất hiền lành và nhân hậu tên là Asanitsa, sống cạnh nhà, đã đưa cô bé về nuôi. Năm tháng nối nhau trôi qua, cuộc sống đầy khó khăn, cực nhọc. Người ta chờ ông bố của Vanga trở về, nhưng đã ba năm trôi qua rồi mà ông vẫn biệt vô âm tín. Mọi người bắt đầu nghĩ rằng ông đã chết?.. Có thể, cô bé đã mồ côi cả cha lẫn mẹ?

Tuy nhiên, mọi sự hoài nghi hóa ra vô ích. Chẳng bao lâu ông bố sống sót trở về và vẫn khỏe mạnh. Nhưng không chỉ con gái mà cả những người hàng xóm cũng khó khăn lắm mới nhận ra ông vì ông quá gầy gò và hốc hác.

Vanga và bố vẫn tiếp tục sống trong ngôi nhà cũ. Nhưng ông Pande sống độc thân không dễ dàng. Còn Vanga – cô bé có mái tóc màu hạt dẻ và cặp mắt xanh da trời – đã tròn 7 tuổi. Vốn hiếu động và thất thường, cô cần tình cảm và sự chăm sóc của một người mẹ. Ông bố hết sức lo lắng cho tương lai của Vanga.

Mặc dù chiến tranh đã kết thúc, nhưng vẫn như xưa, những người dân sợ hãi và cảm thấy bất an. Chính quyền mới được thiết lập ở Strumitsa, nó chuyển về tay của một thị trưởng người Serbia. Bây giờ người dân thành phố phải nói và viết bằng tiếng Serbia. Các quan chức địa phương áp dụng những luật lệ hà khắc và bao điều cấm kỵ khác nhau. Nhiều người dân khó khăn lắm mới hiểu được những mệnh lệnh phức tạp, và lo lắng nhìn về tương lai. Một số người bỏ quê hương xứ sở. Cả ông Pande cũng nghĩ rằng tốt nhất là nên ra đi, nhưng vì con gái nên không quyết định làm điều đó.

Nhưng bọn trẻ con thì có cuộc sống riêng của chúng. Trong nhà ông Pande, lúc nào cũng vang lên tiếng trẻ nô đùa. Lũ trẻ con trong vùng chết mê chết mệt vì những trò chơi Vanga bày ra nhờ tính tình sôi nổi và vui nhộn của mình. Trò chơi yêu thích của cô bé có tên là “ở bệnh viện”. Vanga đóng vai “thầy thuốc”. “Bệnh nhân” ngồi chờ trong sân, còn thuốc là các thứ cỏ mọc nhan nhản khắp xung quanh giúp chữa khỏi các loại “bệnh” khác nhau.

Giống như mẹ mình, cô bé rất thích sạch sẽ và ngăn nắp. Cô cũng yêu cầu các bạn quét sân sau khi “chữa bệnh”. Quét xong, Vanga bảo tất cả ngồi quanh mình trên một tấm chiếu gai. Lũ trẻ sốt ruột chờ đợi giây phút này. Còn Vanga bắt đầu kể cho chúng vô số chuyện do cô tự bịa ra. Cả bọn nín thở lắng nghe.

Một mình ông Pande rất vất vả trong việc quản lý kinh tế và giáo dục con gái. Ông thường nghĩ về việc đi bước nữa. Không thể nói ông là một đám béo bở: đã nghèo, góa vợ lại còn phải nuôi con nhỏ.

Nhưng may mắn đã mỉm cười với ông. Ít lâu sau, một trong những cô gái xinh đẹp nhất thành phố, Tanka Georgievna, đã trở thành vợ ông. Một sự kiện không may trong gia đình Tanka đã trở thành cơ hội đối với ông. Tanka chuẩn bị cưới một sĩ quan Bungaria, nhưng cuộc hôn nhân tan vỡ vì một chỉ thị vô lý của ban lãnh đạo Serbia. Theo đó tất cả phụ nữ ít nhiều có dính líu tới các sĩ quan hay binh sĩ Bungaria phải ngay lập tức cùng gia đình rời khỏi Strumitsa. Để tránh điều ong tiếng ve và bị trục xuất khỏi thành phố, Tanka nhận lời cầu hôn của Pande và lấy ông làm chồng.

Người vợ trẻ trở thành một nữ nội trợ giỏi và người mẹ tận tình, nhưng chồng cô cũng không có lý do gì làm vợ thất vọng, ông là một con người tử tế, chu đáo và cần cù lao động. Mọi chuyện diễn ra không thể nào tốt đẹp hơn. Bầu không khí gia đình bình yên và hòa thuận.

Nhờ sự cần cù lao động và kiên nhẫn của ông Pande, công việc gia đình ngày càng tấn tới, diện tích đất của gia đình dần dần mở rộng lên 9 hecta. Vào mùa thu hoạch, khi các thành viên trong gia đình làm không xuể, ông Pande thậm chí phải thuê mướn nhân công. Mọi người tỏ ra kính trọng ông.

Nhưng sự bình yên và hạnh phúc kéo dài không lâu. Những đám mây đen lại bao phủ bầu trời Strumitsa. Ban lãnh đạo mới tìm mọi cách biến những người dân địa phương thành người Serbia. Một gã có tên Popchevsky đã trở thành người thực hiện đắc lực chiến dịch này. Y được lệnh quyết định số phận mọi người theo ý mình.

Và ngay lập tức bắt tay “xử lý” những người gốc Bungaria hoặc những người có cảm tình với dân Bungaria. Popchevsky không bỏ qua quá khứ của Pande. Một lần, trong lúc thu hoạch vụ mùa, Pande bị bắt và giải lên đồn. Ông bị đánh đập và tra tấn, rồi trả về nhà, nhưng chẳng bao lâu ruộng đất bị tịch thu.

Tai họa lớn đến mức gia đình ông Pande nhiều năm liền không kịp hoàn hồn và rơi vào cảnh bần cùng. Ông Pande không còn lối thoát nào khác là đi làm thuê. Một sự kiện tưởng vui mừng như sinh con, trong hoàn cảnh mới của họ, chỉ thêm gánh nặng.

Năm 1932, bà Tanka sinh một bé trai, được đặt tên là Vasil. Ông bố đi chăn súc vật thuê ở một làng bên cạnh, sau chuyển sang làng khác… Ông không thể gượng dậy được nữa.

Vanga đã lên 11 tuổi. Cô chăm chỉ giúp đỡ việc nhà. Vừa trông em vừa nghĩ ra những trò chơi để tự chơi một mình. Nhưng một trong những trò chơi “huyền diệu” của cô đã khiến bố mẹ lo lắng.

Sự bất thường của nó ở chỗ cô đóng vai một “người mù”. Ví dụ, cô để ngoài đường hay cạnh nhà một vật nào đấy và bắt đầu đi tìm nó, sờ soạng khắp nơi, như là người mù. Bố mẹ tìm cách cấm Vanga chơi trò đó, nhưng cô không nghe.

Trong thời gian đó, em trai của ông Pande, Konstadin, được tin về hoàn cảnh gia đình của anh trai. Số phận của Konstadin diễn ra may mắn hơn: ông trở nên giàu có, cưới vợ, nhưng Trời không cho ông con cái.

Biết tin gia đình anh trai gặp hoạn nạn, Konstadin mời họ chuyển đến ở với mình. “Việc gì phải chịu khổ ở Strumitsa, tốt nhất hãy đến giúp em chăn súc vật, em sẽ không phụ công anh”. Lời mời được chấp nhận, và năm 1923, gia đình chuyển về Novo-Selo.

(Còn nữa)

Categories: Nhà Tiên Tri

Các nhà tiên tri đã tiên đoán rợn người về năm 2017 đúng thế nào?

Các nhà tiên tri lừng danh thế giới như Vanga, Nostradamus đã để lại những tiên đoán kinh hoàng nói về những sự kiện sẽ xảy ra trong năm 2017. Và ngay cả những nhà tiên tri hiện tại cũng tiếp tục đưa ra những tiên đoán trong năm 2017.

Nhà tiên tri Vanga đã có những tiên đoán rợn người


Nhà tiên tri Vanga đã có những tiên đoán rợn người.

Thế giới đã rất sửng sốt với nhiều lời tiên đoán của nhà tiên tri người Pháp Nostradamus (1503-1566). Từ một số nội dung trong quyển sách Les Propheties (tạm dịch: Những lời tiên tri) của Nostradamus xuất bản lần đầu vào năm 1555, nhiều cách diễn giải có thể khác nhau nhưng phần lớn đều không phải là những nhận định tích cực cho nước Mỹ trong năm 2017.

Một trong những lời tiên tri gây lo ngại nhất là sự cảnh báo về “Chiến tranh nóng”. Theo đó, tình trạng nóng ấm toàn cầu ngày càng phức tạp trong khi nguồn tài nguyên dần cạn kiệt. Những mối đe doạ khác cũng được nêu ra như chủ nghĩa khủng bố gia tăng và chiến tranh sinh học. Theo nhà tiên tri Nostradamus, Thế chiến III sẽ bắt đầu vào năm 2016 hoặc 2017 và nó sẽ tiếp tục kéo dài trong 27 năm.

Nhà tiên tri Nostradamus tiên đoán chiến tranh thế giới 3 xảy ra năm 2017

Nhà tiên tri Nostradamus tiên đoán chiến tranh thế giới 3 xảy ra năm 2017.

Trong khi đó, theo dự đoán của nhà tiên tri mù người Bulgaria Baba Vanga năm 2017, thảm hoạ lớn sẽ xảy ra, nhân loại vẫn chưa có hoà bình. “Chiến tranh sẽ nổ ra từ phía Đông và trong bối cảnh nóng lên toàn cầu, sẽ có nhiều người chết”, tiên đoán được giải nghĩa.

Tờ Mirror của Anh cũng dẫn một tiên đoán khác của bà Vanga về việc sử dụng vũ khí hạt nhân và Thế chiến thứ 3. Bà Vanga cho biết: “Mọi người sẽ đặt hy vọng của mình vào ông ta để kết thúc nó, nhưng điều ngược lại sẽ xảy ra; Ông ta sẽ đưa đất nước đi xuống và mâu thuẫn giữa Bắc và Nam sẽ leo thang”. Một số người cho rằng các tài liệu tham khảo về “Bắc và Nam” mà bà Vanga nói đến có thể có nghĩa là hai miền Nam-Bắc Triều Tiên.

Bà Vanga cũng tiên đoá, Trung Quốc có thể sẽ trở thành nền kinh tế hàng đầu thế giới vào năm 2018, chấm dứt thời kỳ “thống trị” kéo dài của nước Mỹ. Cũng liên quan đến năm 2017, bà Vanga cũng đã tiên đoán rằng người Hồi giáo, đứng đầu là những kẻ Hồi giáo cực đoan cuối cùng sẽ xâm lược lục địa châu Âu và sẽ có thể sự “hủy diệt” trên diện rộng. Sự phá huỷ này sẽ tiếp tục trong nhiều năm cho đến khi lục địa châu Âu không còn tồn tại. Nhà tiên tri mù còn tiết lộ rằng tâm chấn của cuộc chiến Hồi giáo đầy sóng gió này sẽ bắt đầu ở Syria.

Nhà ngoại cảm Craig Hamilton-Parker, 62 tuổi người Anh đều công bố các dự đoán của mình trong một năm trước đó, và dự đoán những sự kiện sẽ xảy ra trên thế giới vào năm tới.

Hồi tháng 1.2017, nhà ngoại cảm đăng Craig Hamilton-Parker đã đăng tải những dự đoán của ông lên trên trang web psychics.co.uk và tiết lộ những điều ông đã dự đoán chính xác.

Dưới đây là những sự kiện được nhà ngoại cảm người Anh tuyên bố sẽ xảy ra trong năm 2017: Hillary Clinton từ bỏ chính trị; Đan Mạch và Ý là 2 nước tiếp theo rời khỏi EU và đồng Euro sụp đổ; Hỗn loạn kinh tế ở châu Âu và Mỹ dẫn đến các cuộc bạo loạn ở Rome, Madrid, Berlin, Paris và Prague; Cháy lớn tại tòa nhà Quốc hội Anh;Xảy ra một cuộc tấn công độc hại hoặc tấn công sinh học vào một trường học ở châu Âu; Dịch cúm lan rộng trên toàn thế giới; Nhật thực xảy ra ở Mỹ vào tháng 8 — thời điểm thị trường chứng khoán sụp đổ.

Trong bối cảnh tình hình thế giới có nhiều biến động, đặc biệt là căng thẳng giữa Triều Tiên và Mỹ sau vụ phóng tên lửa mới nhất của Triều Tiên càng dấy lên lo ngại về chiến tranh thế giới lần 3.

Tuy nhiên, trên thực tế, có nhiều dự đoán của các nhà tiên tri đã không xảy ra.

Theo Dân Việt.

Xem thêm :

Categories: Nhà Tiên Tri

Nhà tiên tri Edgar Cayce đã tiên đoán điều gì về thế kỷ 21?

Edgar Cayce (1877-1945) là nhà tiên tri rất nổi tiếng ở phương Tây, lời tiên tri của ông bao hàm nhiều lĩnh vực, độ chuẩn xác cực cao, đề cập đến các cá nhân, đoàn thể, quốc gia, tình thế thế giới, và cả hướng đi trong tương lai của nhân loại.

Nhà tiên tri Edgar Cayce có những tiên đoán chuẩn xác. (Ảnh: Internet)

Edgar Cayce đã từng tiên đoán chính xác về hai lần thế chiến, khủng hoảng kinh tế năm 1929, việc giành độc lập của Ấn Độ, Israel lập quốc, tổng thống nước Mỹ qua đời khi đang đương nhiệm, cùng với sự kiện từ bỏ chủ nghĩa cộng sản và thành lập thể chế xã hội mới của Nga trong vài thập niên sau đó. Những lời tiên đoán này của ông hết thảy đều đã được nghiệm chứng. Người ta còn thành lập “Quỹ Cayce” (Edgar Cayce Foundation) để tiến hành tổng hợp và kiểm tra tất cả những lời tiên đoán của ông, kết quả thống kê đưa ra xác suất chuẩn xác khiến cả thế giới thán phục.

Cayce có niềm yêu thích đặc biệt đối với nền văn minh tiền sử Atlantis đã chìm dưới Đại Tây Dương. Cả đời ông đã từng đề cập vấn đề này hàng trăm lần, không chỉ tường thuật lại chi tiết, tỉ mỉ, mà còn tiên đoán Atlantis vào năm 1968 mới được con người phát hiện. Năm 1968, người ta quả nhiên phát hiện dưới đáy biển Bimini ở Đại Tây Dương có một con đường hình vuông bằng đá lớn, đây chính là vùng biển Atlantis mà Cayce đã miêu tả.

Nhưng Cayce lại không cho mình là có siêu năng lực, ông nói rằng những năng lực này là bản năng bẩm sinh của bất kỳ ai; chỉ có người đã loại bỏ đi dục vọng đối với lợi ích cá nhân đến mức nhất định (detachment from self-interest) mới có thể có được năng lực này, và rằng khả năng của con người là vượt quá trí tưởng tượng của con người hiện đại.

Cả đời ông để lại gần 15.000 lời tiên tri, trong đó tiên tri về tương lai của nền văn minh nhân loại chỉ chiếm một bộ phận rất nhỏ, nhưng gây rất nhiều hứng thú đối với rất nhiều người, dẫu cho có một ít nội dung cho đến nay vẫn không thể hoàn toàn giải mã.

Thế chiến lần thứ II chính là đại nạn trong lịch sử của nhân loại, bởi vậy đối mặt với tương lai của thế giới đang đi về hướng mờ mịt, rất nhiều người đã đến xin sự chỉ dẫn của Cayce. Trước khi thế chiến thứ II bắt đầu, Cayce đã tiên đoán rằng có sự trỗi dậy của Hitler, Nhật Bản, sau chiến tranh Nga cuối cùng sẽ từ bỏ chủ nghĩa cộng sản để hướng về dân chủ.

Khi giảng đến chiến tranh thế giới và cục diện thế giới thật ra đều liên quan đến ý thức và tội nghiệp của nhân loại. Cayce đánh giá một cách sinh động tình huống của các quốc gia như sau:

Như trùm tài chính, một hội kín cùng nước Đức—nơi phát nguyên chủ nghĩa cộng sản—được xưng là “khoác lên mình tấm áo của Hội huynh đệ, trở thành quỷ hút máu của thế giới”.

Italia là “vì một bát súp thịt mà bán rẻ chính mình”; Nhật Bản năm 1931 xâm nhập vào Trung Quốc là muốn “trở thành lực lượng chi phối”; đế quốc Anh già nua “mặt trời không bao giờ lặn” lại “một mực tự cho là có cách nghĩ cao minh hơn các quốc gia khác”, tội của nước Pháp là “phóng đại dục vọng thân thể”; tội của Ấn Độ là “ngoại trừ tìm kiếm trong nội tâm ra, có văn minh xán lạn nhưng lại khước từ thực hiện”; tội của nước Mỹ là “đã quên mất nguyên tắc Thượng Đế là đồng tại với chúng ta”. Những bình luận trực quan này khiến người ta cảm thấy thú vị, cũng rất sâu sắc.

Tuy nhiên, những lời tiên đoán và đánh giá của Cayce đối với Trung Quốc mới là tường tận nhất.

Ngày 24/1/1925, trong trạng thái tiên tri Cayce đã chủ động kể ra sự tình sẽ phát sinh ở Trung Quốc: “Giữa năm 1931, Trung Quốc sẽ ở vào một giai đoạn đặc biệt, tại Mãn Châu sẽ xuất hiện tai hoạ đổ máu…”, đây chính là nói về sự kiện Nhật Bản xâm Hoa vào 6 năm sau.

Ngày 30/7/1927, ông tiếp tục đọc lên tình hình mà bản thân thấy được: “Một vài sự kiện đặc biệt phát sinh ở trên thân thể người Trung Quốc, ở trên thân thể người Nhật, một số lực lượng người ngoài hành tinh xâm lấn từ bên ngoài đã có được thế lực rồi…”, điều này có chút khiến người ta khó hiểu, bởi vì lúc đó mọi người không có nhiều khái niệm về người ngoài hành tinh và sự can thiệp của họ đối với nền văn minh nhân loại, nhưng Cayce cũng đã nói ra.

Nhưng khiến người phương Tây kinh ngạc nhất chính là ông đã đưa ra lời tiên đoán cho một giai đoạn của Trung Quốc:

“Trung Quốc thông qua sự phát triển chậm chạp mà bảo tồn nền văn minh của mình… Nàng có một ngày sẽ thức tỉnh, cắt đứt bím tóc! Bắt đầu suy nghĩ thực tế!” Cayce tuyên bố: “Có một ngày, nơi Trung Quốc ấy sẽ là cái nôi thai nghén ra Christianity (Christianity có nghĩa bề mặt là Cơ Đốc giáo), cũng áp dụng trong sinh hoạt của mọi người. Đúng vậy, sự kiện này đối với mọi người mà nói thì rất xa xôi, nhưng đối với Thần thì rất nhanh—rất nhanh, Trung Quốc sẽ tỉnh lại!”.

Đoạn câu sau khiến người ta khó lý giải, bởi vì Cơ Đốc giáo đã ra đời từ sớm, nhưng người ta vẫn trung thực ghi lại nguyên văn tiếng Anh lời của ông như sau: “Yea, there in China one day will be the cradle of Christianity, as applied in the lives of men. It is far off, as man counts tune, but only a day in the heart of God. For tomorrow China will awake”.

Đối với điều này, các học giả phương Tây đã đưa ra một cách giải thích, tức là lời tiên đoán có thể chỉ về việc Trung Quốc sẽ xuất hiện một tín ngưỡng tương tự như Phật giáo, Cơ Đốc giáo, một tín ngưỡng và văn minh mới sẽ được sinh ra đời, đối với tương lai rất có ảnh hưởng, đây là lý giải không ở trên chữ nghĩa bề mặt đối với từ Christianity (Cơ Đốc giáo).

Cayce đối với sự biến đổi của tương lai cũng đề cập rất cụ thể: Ở thế kỷ 21, mọi người sẽ nhận ra trục trái đất đang di động; khí hậu biến đổi, toàn cầu sẽ ấm lên, vùng băng giá sẽ ấm áp; động đất phát sinh nhiều lần, nước biển dâng lên, một phần nước Mỹ sẽ bị ngập, phần lớn nước Nhật sẽ bị chìm; thế giới thiếu lương thực, miền Trung nước Mỹ, Argentina và Châu Phi sẽ trở thành vựa lúa của thế giới; Washington vẫn là trung tâm quyền lực của thế giới…

Mark Thueston là chuyên gia nghiên cứu các lời tiên tri của Cayce. Khi phát hiện ra tính chuẩn xác khiến người ta thán phục trong những lời tiên tri của Cayce, ông bắt đầu tiến hành biên soạn lại một cách chu đáo hơn 10.000 lời tiên đoán, đặt tên là “Lời tiên tri của Cayce về thế kỷ 21” (Cayce’s Prediction for the 21th Century), sau còn chỉnh lý thêm “Những lời tiên tri chưa trở thành hiện thực của Cayce trong thế kỷ 20″, cung cấp nghiệm chứng và tham khảo cho người đời sau.

Và dưới đây là 9 lời tiên đoán quan trọng trong số đó:

1. Một phương pháp chữa bệnh mới sẽ xuất hiện – căn cứ vào sự lưu động và chuyển hoán trong hệ thống năng lượng của thân thể người và tâm linh.

Hình ảnh các học viên Pháp Luân Công – môn khí công tu luyện của Phật gia đang thịnh hành trên thế giới. (Ảnh: Internet)

2. Linh hồn không chết, sự luân hồi sẽ được đại chúng phổ biến và tiếp nhận;

3. Khoa học và tâm linh chấm dứt tranh luận;

4. Bề mặt trái đất sẽ phát sinh biến đổi to lớn, kể cả sự thay đổi khí hậu;

5. Trọng tâm của thế giới sẽ chuyển về phương Đông, Trung Quốc sẽ chiếm vị trí quan trọng;

6. Các phát hiện khảo cổ về văn minh tiền sử sẽ dần dần thay đổi nhận thức của nhân loại đối với lịch sử;

7. Trực giác và siêu năng lực sẽ xuất hiện rộng rãi, rất nhiều người có thể trực tiếp liên lạc với các không gian khác;

8. Nguyên tắc vũ trụ “Thái Nhất” (chỉ về bản nguyên và cội nguồn của vạn vật trong vũ trụ) sẽ trở thành phép tuân thủ trong mọi hoạt động của nhân loại: một tín ngưỡng mới hoàn toàn sẽ xuất hiện, cũng chỉ đạo tất cả khoa học, chỉnh thể “Thái Nhất” của nhân loại sẽ trở thành căn bản cho tất cả hoạt động chính trị và kinh tế của thế giới, tín ngưỡng mới này là ánh sáng của vũ trụ.

9. Chúa Cứu Thế sẽ đến.

Thời điểm Cayce giảng thuật những lời tiên tri này, nhân loại vẫn chưa tiến vào thời đại điện tử, và thế chiến thứ II cũng chưa kết thúc; rất rõ ràng, Cayce có năng lực và trí tuệ vượt xa phạm vi hiểu biết của thời đại ông.

“Các chòm sao và thiên tượng đang biến hoá, đến lúc đó, bản thân nhân loại sẽ bắt đầu thức tỉnh và thay đổi. Rất nhiều linh hồn vĩ đại trong lịch sử đã qua đời sẽ trở về, sinh ra ảnh hưởng cực lớn đến thế giới”. Cayce nói, đợi “khi thời gian Điều Chỉnh kết thúc”, “chính nghĩa sẽ tồn tại vĩnh viễn trên Trái đất”.

Theo Chanhkien.org

Categories: Nhà Tiên Tri

Thế giới chính tà lẫn lộn, muốn phân biệt rõ cần phải dùng con mắt trí tuệ

Xưa nay, chính và tà là hai phạm trù đối lập nhưng lại luôn song hành với nhau, biểu hiện ở xã hội chính là có chính ắt có tà, có thiện thì có ác, có thật thì có giả,… Đặc biệt đến hiện nay, chính tà lẫn lộn, muốn phân biệt được nó quả thực không hề dễ dàng.

Thế giới chính tà lẫn lộn, muốn phân biệt rõ cần phải dùng con mắt trí tuệ.
Thế giới chính tà lẫn lộn, muốn phân biệt rõ cần phải dùng con mắt trí tuệ. (Ảnh t/h)

Chính – tà theo quan điểm Nho gia

Trong lịch sử xã hội nhân loại hàng nghìn năm nay, bất kể thời đại nào, phương Đông hay phương Tây đều ca ngợi khuyến khích con người tu dưỡng những đức tính tốt đẹp, thiện lương, nghĩa hiệp, trung trinh, tiết tháo. Có rất nhiều đức tính tốt đẹp tiêu biểu cho người chính trực, trong đó các tiêu chuẩn của bậc chính nhân quân tử của Nho gia có tính khái quát và được người đời qua các thế hệ đều đánh giá cao.

Trong các quan hệ xã hội người thường, Nho giáo được đánh giá là một chính giáo. Tiêu chuẩn của chính nhân quân tử theo quan điểm của Nho gia là Nhân – Nghĩa – Lễ – Trí – Tín. Ngược lại với cái chính sẽ là cái tà, theo Nho gia, kẻ tiểu nhân gian tà sẽ Bất nhân – Bất nghĩa – Vô lễ – Vô trí – Bất tín.

Khổng Tử đưa ra tiêu chuẩn nhận biết quân tử và tiểu nhân: “Quân tử hiểu rõ về nghĩa, vì nhân nghĩa; tiểu nhân hiểu rõ về lợi, vì tư lợi”, “Quân tử cầu đức hạnh, tiểu nhân cầu tiền tài”, và “Người quân tử thành tựu việc tốt đẹp cho người khác chứ không làm cái xấu cho người khác”…

Còn về các mối quan hệ chủ yếu trong xã hội, Nho gia yêu cầu cấp dưới với cấp trên phải Trung, cấp trên với cấp dưới phải Nhân, giữa vợ chồng phải Hòa thuận, con cái đối cha mẹ phải Hiếu, em đối với anh chị phải Lễ, bạn bè đối với nhau phải Tín, hậu bối đối với tiền bối phải Kính.

heo quan điểm Nho gia tiêu chuẩn của chính nhân quân tử là phải hội tụ đủ Nhân – Nghĩa – Lễ – Trí – Tín. (Ảnh: wikipedia.org)

Đó là lý tưởng nhân cách con người trong xã hội, đều hướng theo tiêu chuẩn đó mà tu sửa, hoàn thiện bản thân. Như vậy, Nho gia được mọi người coi là chính đạo. Có thể tóm lại, chính đạo theo Nho gia là vì nhân nghĩa, vì người khác, còn tà đạo là vì bản thân mình, gia đình, dòng tộc, bè phái, vì danh vọng, vì quyền lực, vì tư lợi.

Từ thời Khổng Tử, xã hội rất rối loạn với nhiều thuyết, đó là thời “Bách gia chư tử”, trăm hoa đua nở. Chính giáo thì ít mà tà giáo thì nhiều, ai ai cũng nói thuyết của mình là chính, là đúng và phê phán công kích thuyết giáo người khác.

Vì vậy Khổng Tử cũng dạy học trò cách phân biệt: “Duy người nhân đức mới có đủ năng lực đánh giá khen chê người khác được”. Người nhân đức là người đã tu dưỡng đắc đạo, họ làm gì, nghĩ gì, nói gì đều hợp với đạo, họ có tiêu chuẩn chính xác, và là người sống vì nhân nghĩa, vì người khác, nên đánh giá của họ mới chính xác, đáng tin cậy.

Chính tà theo ghi nhận của các nhà khoa học

Những năm đầu thế kỷ 20, Hoàng gia Anh cử một đoàn các nhà khoa học danh giá sang phương Đông nghiên cứu các pháp tu và tôn giáo huyền bí, đánh giá dựa trên cơ sở khoa học và được sự đồng thuận của tất cả các thành viên.

Trong hồi ký Hành trình về phương Đông nổi tiếng của giáo sư Blair T. Spalding (1857–1953), nguyên tác “Life and Teaching of the Masters of the Far East” (xuất bản năm 1935) có tất cả sáu quyển, ghi nhận đầy đủ về cuộc hành trình gay go nhưng lý thú và tràn đầy sự huyền bí ở Ấn Độ, Tây Tạng, Trung Hoa và Ba Tư. Dưới đây là trích đoạn trong cuộc tranh luận, hỏi đáp giữa các nhà khoa học và một đạo sĩ cao đạo về chính đạo và tà đạo:

Ðúng thế, quan niệm xấu tốt, thiện ác ít nhiều chịu ảnh hưởng xã hội nhưng vượt lên cao hơn nữa chúng ta vẫn có luật vũ trụ kia mà. Theo sự hiểu biết của tôi thì có hai con đường: Chính đạo và tà đạo.

Con người làm chuyện tà đạo là khi dùng quyền năng tiềm tàng của mình để mưu lợi riêng cho sự phát triển cá nhân và sẵn sàng hy sinh hạnh phúc của kẻ khác. Phát triển cá nhân ở đây có nghĩa là sự bành trướng về giác quan, cảm xúc hay tri thức của cá nhân mà không đếm xỉa đến sự thiệt hại cho kẻ khác. Một người lợi dụng sự ngu dốt, yếu đuối của kẻ khác để thu lấy ít lợi lộc về tiền bạc hay thỏa mãn tham vọng cá nhân tức là đang đi trên con đường tà đạo. Nếu y có chút quyền năng y sẽ trở nên ghê gớm như thế nào?

Chánh đạo cũng là việc sử dụng những quyền năng của mình nhưng để phụng sự nhân loại. Trong khi phụng sự, con người sẵn sàng hy sinh mọi tiện nghi, tham vọng cá nhân mình để làm việc hữu ích cho kẻ khác. Kẻ phụng sự dứt tuyệt các thú vui về giác quan, từ bỏ mọi tôn kính chính đáng mà y có quyền hưởng thụ, dẹp bỏ cái phàm ngã cá nhân mà chỉ chú trọng đến mục đích là đạt đến sự toàn thiện.

Tà đạo là sử dụng quyền năng qua các hình thức lễ nghi, cúng bái trợ lực để tạo nên các đoàn thể, hình thức, các hình thức này có thể là vật chất hay một tổ chức mà công cụ của nó không phải lo cho đời sống chung hay một lý tưởng cao thượng mà chỉ là một hình thức cho quan niệm riêng của mình phát biểu.

Chánh đạo là sử dụng các quyền năng cố hữu của bản chất con người để vượt qua mọi hạn định của hình thức, để giải thoát tâm hồn khỏi các trói buộc của cảm giác, sự tưởng tượng hay xu hướng nhất thời, để tránh các cám dỗ, lừa gạt của vô minh để phục vụ cái phần bất tử thiêng liêng của bản thể, chân như”.

Có thể thấy, chính đạo là dạy con người xả bỏ cái tôi, cái vị tư ích kỷ cá nhân để phụng sự xã hội. Còn tà đạo thì vì lợi ích, quyền lực cá nhân. Chính đạo là để giải thoát con người khỏi các cảm thụ, dục vọng ham muốn, nên nó vượt qua mọi hạn định về hình thức, không bó buộc vào hình thức. Còn tà đạo thì sử dụng các hình thức lễ nghi, cúng bái, các đoàn thể, tổ chức, cấp bậc để đạt được cái danh và lợi cá nhân trong xã hội.

Nhưng tà nếu rõ ràng thế thì ai ai cũng nhận biết được và không có người theo, nên nó ắt phải mượn danh cái chính, mượn kinh sách Thánh nhân rồi cắt xén, thêm bớt, diễn giải sai lệch, nhân danh vì mọi người, nhân danh mục đích cao cả, nhưng mục đích cũng là vì cái danh và cái lợi cá nhân cả.

Chính tà theo quan điểm Phật giáo

Kết quả hình ảnh cho phật painting
(Ảnh minh họa: Internet)

Thời Đức Phật thuyết Pháp, có 8 tôn giáo cổ đang tồn tại, trong đó Bà La Môn giáo là tôn giáo lâu đời nhất, có ảnh hưởng sâu rộng nhất trong xã hội. Bà La Môn giáo sử dụng bộ kinh chính là kinh Vệ Đà, đã có cách ngày nay 3.500 năm, tức 1000 năm trước khi Đức Phật Thích Ca truyền giáo. Căn cứ vào kinh Vệ Đà thì Bà La Môn cũng là chính giáo.

Nhưng trải qua 1000 năm, giới tu sĩ Bà La Môn đã trở thành tầng lớp có địa vị rất cao trong xã hội, đã có nhiều thêm bớt, giải thích Kinh để củng cố địa vị mà họ cho là cao quý, trác việt, vì chỉ có họ mới có thể câu thông với Thần, từ đó giành được sự trọng vọng của xã hội và những đặc quyền đặc lợi cho giới tu sỹ. Do đó cho đến khi Đức Phật truyền giáo thì Bà La Môn lúc ấy đã suy thoái thành tà giáo.

Để giúp đệ tử phân biệt chính và tà, Đức Phật giảng trong Kinh Tăng chi bộ rằng: “Đừng tin tưởng vào một điều gì vì phong văn. Đừng tin tưởng điều gì vì vin vào một tập quán lưu truyền.

Đừng tin tưởng điều gì vì cớ được nhiều người nói đi nhắc lại. Đừng tin tưởng điều gì dù là bút tích của Thánh nhân. Đừng tin tưởng điều gì dù thói quen từ lâu khiến ta nhận là điều ấy đúng.

Đừng tin tưởng điều gì do ta tưởng tượng ra lại nghĩ rằng một vị tối linh đã khai thị cho ta. Đừng tin tưởng bất cứ một điều gì chỉ vin vào uy tín của các thầy dạy các người.

Nhưng khi nào tự mình biết rõ như sau: ‘Các pháp này là bất thiện; các pháp này là đáng chê; các pháp này bị các người có trí quở trách; các pháp này nếu thực hiện và chấp nhận đưa đến bất hạnh khổ đau”, thì hãy từ bỏ chúng.

Nhưng chỉ tin tưởng cái gì mà chính các người đã từng trải, kinh nghiệm và nhận là đúng, có lợi cho mình và người khác. Chỉ có cái đó mới là đích tối hậu thăng hoa cho con người và cuộc đời. Các người hãy lấy đó làm chỉ chuẩn”.

Hiện nay xã hội nhiều biến động, thật giả khó phân, vàng thau lẫn lộn. Khi kẻ gian tà được cất nhắc thì người quân tử phải ra đi. Khi kẻ siểm nịnh đắc ý thì người chính trực phải chịu oan uổng. Khi cái giả được coi là thật thì cái thật sẽ bị coi là giả.

Do đó, chúng ta có thể tham khảo cách phân biệt thật giả, chính tà của các Thánh Nhân, Giác Giả, rồi dùng lý trí suy xét, tự mình kiểm nghiệm, thì có lẽ cũng không quá khó để phân biệt.

Theo DKN.TV

Nhà tiên tri thiên tài của thế kỷ 20: ‘Niềm hy vọng của nhân loại là ở phương Đông’

Câu chuyện về một nhà ngoại cảm có lời tiên tri chính xác số phận những chính khách và người nổi tiếng trong thế kỷ 20 đến giờ vẫn được lan truyền và thu hút sự chú ý của dư luận khắp thế giới.

Lời tiên tri Tổng thống John Frank Kennedy, Mỹ bị ám sát

Đầu tháng 11/1963, một vị khách không mời đã đột nhiên xuất hiện trước mặt bà Kay Halle – người bạn thân thiết của gia đình Tống thống Mỹ Kennedy. Với vẻ mặt thất thần và hối hả, vị khách đi thẳng luôn vào vấn đề:

Tổng thống vừa mới ra quyết định sẽ công du tới một nơi nào đó ở phía Nam. Tôi biết bà và Tổng thống Kennedy thân thiết như người một nhà, vậy xin bà nói với Tổng thống hãy hủy bỏ chuyến công du này”.

Nhận thấy bà Kay Halle có vẻ không hiểu lời mình đang nói, vị khách tiếp tục:

Trong thời gian rất lâu đã có một đám mây đen che phủ toàn bộ Nhà Trắng. Đám mây kéo đến càng ngày càng nhiều, và bây giờ nó đang ép xuống Nhà Trắng. Điều này có nghĩa là đại họa sắp xảy ra… khi Tổng thống rời khỏi Nhà Trắng, ngài sẽ bị ám sát”.

Bà Kay Halle cảm thấy người phụ nữ lạ mặt thật quá tùy tiện, nên chỉ trả lời qua loa: “Nếu những sự việc này đã được số phận định sẵn, vậy dù chúng ta có cố gắng thế nào thì cũng chỉ là vô ích, phải không?”.

Nhưng vị khách không chịu bỏ qua mà lại cố thuyết phục: “Đôi khi, cho dù chỉ còn một cơ hội rất nhỏ, nhưng chỉ cần vẫn còn kịp thời gian thì vẫn có khả năng thay đổi được cục diện, xin bà hãy khẩn báo cho Tổng thống ngay”.

Tuy nhiên, bà Kay Halle không thật sự tin vào lời cảnh báo này và thầm nghĩ: “Cho đến thời điểm này, các nhân viên trong Nhà Trắng đều coi mình là một người có hiểu biết, nếu bây giờ mà nói ra cảnh báo kỳ lạ này thì họ sẽ nghĩ gì về mình đây?”. Tuy nhiên, vì vị khách quá kiên trì khẩn cầu, bà Kay mới trả lời đồng ý và hứa sẽ cố gắng thuyết phục Tổng thống Kennedy. Nhưng ngay sau khi vị khách rời đi, bà đã vội quên ngay câu chuyện “nhảm nhí” này.

Giữa trưa ngày 22/11/1963, tại một nhà hàng ở Washington, trong lúc đang vui vẻ trò chuyện với bạn bè, bà Kay Halle đã nhận được một cuộc điện thoại. Tại đầu bên kia điện thoại, một giọng nói nặng trĩu cất lên: “Tổng thống đã bị ám sát!”. Nét mặt bà Kay trở nên biến sắc.

Vậy là vị khách kỳ lạ ấy, bà Jeane Dixon, đã nói đúng!

Bà Jeane Dixon (1904-1997) và quả cầu thủy tinh nổi tiếng.

Thực ra câu chuyện khó tin kể trên đã bắt đầu khoảng 11 năm trước khi Jeane đến gặp Kay Halle. Trong nhà thờ, bà Jeane đã mua một vài ngọn nến, trong khi đang chuẩn bị quỳ xuống cầu nguyện trước tượng Đức mẹ Maria, đột nhiên trước mắt bà xuất hiện môt ánh lửa lập lòe, rồi những tia sáng này nhanh chóng tạo thành con số “1960”.

Bà còn nhìn thấy một đám mây đen lan ra từ những con số và chúng tạo thành hình tượng Nhà Trắng. Trong đó có một người đang đứng tại cửa trước – đó là một người trẻ tuổi, thân hình cao lớn, đôi mắt màu xanh lam, cùng mái tóc xoăn. Sau đó, một âm thanh vang lên bên tai bà Jeane: “Người này thuộc Đảng Dân Chủ, năm 1960 đắc cử Tổng thống, nhưng bị sát hại trong nhiệm kỳ”, những hình ảnh này xuất hiện rất nhanh rồi vụt biến mất.

Những lời tiên tri về tình hình chính trị thế giới

Cuốn sách ghi lại những lời tiên tri của Jeane Dixon.

Cũng giống như rất nhiều người phụ nữ khác, Jeane Dixon không hiểu rõ về tình hình chính trị cũng như tình hình thế giới. Nhưng nhờ khả năng tiên đoán chính xác nên danh tiếng của bà đã vang rất xa. Cùng với Edgar Cayce, bà được công nhận là một trong những nhà tiên tri vĩ đại. Vì vậy các thủ tướng hay các chính trị gia cả trong và ngoài nước đều đến xin thỉnh giáo bà. Điều khiến mọi người kinh ngạc là, những dự đoán của bà về các sự kiện quốc tế hầu hết đều được cho là “bách phát bách trúng”.

Jeane Dixon lần đầu tiên thể hiện tài năng của mình trước công chúng thế giới vào năm 1945, sau khi nhận được lời mời dự tiệc do Thủ tướng Anh lúc bấy giờ, Winston Churchill, tổ chức. Ngay trong lúc bắt tay thủ tướng Churchill, một linh cảm kỳ lạ đột nhiên đến với bà, và bà liền thỉnh cầu Thủ tướng: “Thủ tướng, tốt nhất ngài đừng nên tham gia tuyển cử quá sớm, nếu không, ngài sẽ không trúng tuyển đâu”.

Thủ tướng Winston Churchill là người lãnh đạo thế chiến thứ hai với chiến công hiển hách lẫy lừng, hơn nữa, ông lại có quyền lực cao trong giới chính trị. Lúc đó ông đã trừng mắt trước người phụ nữ trẻ tuổi và hừ lên một tiếng: “Nước Anh tuyệt đối sẽ không hạ bệ tôi đâu!”.

Jeane vẫn tiếp tục nói: “Tạm thời không trúng cử cũng không sao, qua mấy năm nữa, quyền lực của Anh Quốc lại một lần nữa rơi vào tay ngài thôi”.

Tháng 7/1945, nước Anh tổ chức một cuộc tổng tuyển cử. Đúng như những gì Jeane tiên đoán, Thủ tướng Churchill không trúng cử. Phải đến sáu năm sau đó, tức năm 1951, thời cơ mới quay trở lại để ông một lần nữa đắc cử chức thủ tướng. Ông vẫn giữ phong thái lẫm liệt tràn đầy như vậy cho đến năm 1955, khi ông tự nguyện từ chức. Sau này, Thủ tướng đã biểu thị sự ngưỡng mộ tới bà Jeane.

Tháng 10/1964, điện Kremli, Nga đột nhiên thay đổi nhân sự khiến các quan chức chính phủ trong và ngoài nước giật mình hoảng hốt. Thế nhưng, trước đó một năm, Jeane đã từng tiên đoán: “[Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô] Nikita Khrushchev sẽ bị hạ bệ”, trong bài tiên đoán của bà có viết:

Tiên đoán của tôi: Trong giai đoạn 1964─1967, Hoa Kỳ sẽ phải đối mặt với nguy cơ lớn trong và ngoài nước, nguy cơ này sẽ xảy ra trong vòng 18 tháng nữa và trở nên trầm trọng hơn với sự xuất hiện của thủ lĩnh mới do Nikita Khrushchev bị thay thế. Tên của người lãnh đạo Liên bang Xô Viết bắt đầu bằng chữ S, ông ta thuộc giới trí thức, đối với chúng ta mà nói, ông ta có sức uy hiếp lớn hơn cả Nikita Khrushchev”.

Người Trung Quốc đang tích cực nghiên cứu chế tạo vũ khí hạt nhân, mở rộng quân sự và âm thầm đọ sức với chúng ta. Nhưng ở họ sẽ sớm xuất hiện tranh chấp giữa những người lãnh đạo đứng đầu, và đẩy các nước này vào một loại hỗn loạn chưa từng có, độc tài cá nhân, sùng bái lạ thường. Một số lượng lớn các nhà lãnh đạo bị trục xuất khỏi bộ máy quyền lực, hơn một tỷ người Trung Quốc gần như điên cuồng. Tình trạng này sẽ tiếp tục chừng một thập kỷ, cho đến khi trận động đất lớn xảy ra và tàn phá một thành phố ở phía Bắc, hơn một nghìn người chết, nhân vật bí ẩn kia chết đi thì tình trạng hỗn loạn này mới dần dần lắng xuống”.

Dù chưa từng rời khỏi nước Mỹ, nhưng bà Jeane lại có thể tiên đoán một cách thần kỳ về sự chia cắt ở Ấn Độ. Bà từng nói với một thành viên mới của đoàn đại biểu Ấn Độ khi ông này đến thăm văn phòng làm việc của chồng bà tại Washington, D.C.: “Trong vòng hai năm tới, Ấn độ sẽ có sự chia cắt, thời điểm xảy ra là vào ngày 20/2/1947. Ông sẽ rời khỏi Ấn Độ để nhập vào phần bên kia, và cũng từ đó con đường tương lai của ông sẽ vô cùng rộng mở”. Trong sự nghi hoặc, vị quan viên người Ấn Độ này nói to lên rằng: “Tôi sẽ dành cả cuộc đời mình cho một Ấn Độ thống nhất”.

Buổi sáng ngày 20/2/1947, vị quan viên này đã gọi điện cho Jeane và cười nhạo khi nói rằng lời tiên tri của bà là không chính xác. Không chút do dự, bà Jeane phản bác lại: “Vẫn chưa hết ngày cơ mà”. Sáng sớm ngày hôm sau, báo chí đồng loạt đưa tin về việc một phần lãnh thổ Ấn Độ bị phân tách, và vị quan viên này đã không khỏi thán phục tài năng của bà Jeane.

Đương nhiên không có ai hỏi rằng không biết lời tiên tri của Jeane đã đến từ quả cầu thủy tinh hay đến từ những hình ảnh mà bà nhìn thấy? Mọi người đều chỉ chú ý đến những lời tiên đoán “bách phát bách trúng” trong quá khứ của bà.

Ấn tượng kì lạ của mọi người về bà

Jeane Dixon sinh ngày 3/1/1904 tại Medford, Wisconsin nhưng lớn lên ở California. Bà được nuôi dưỡng trong gia đình Công giáo La Mã và luôn cảm tạ Đức Chúa về khả năng ngoại cảm của mình.

Jeane từng kể được mẹ đưa tới gặp một nhà ngoại cảm khi mới lên 8. Nhà ngoại cảm sau khi nhìn vào bàn tay cô bé Jeane lúc đó mới 8 tuổi đã nói sau này cô sẽ trở thành một nữ tiên tri nổi tiếng tư vấn cho các chính khách đầy quyền lực.

Không chỉ báo chí tại Washington mà các kênh thông tấn trên cả nước đều đưa tin về Jeane Dixon. Một ấn tượng đặc biệt bà đã để lại cho rất nhiều người xa lạ là bà trông giống như một Thiên sứ, hay Đức mẹ Maria.

Một lần, khi Jeane nhận lời mời tham gia lễ hội âm nhạc, một quý phu nhân chưa từng gặp Jeane đứng tại đại sảnh tiếp đón khách đã nói: “Khi cửa thang máy vừa mở, tôi đã trông thấy một vị Thiên sứ đang đứng trong thang máy khiến tôi sợ đến ngẩn người. Sau đó tôi mới nhìn thấy rõ một phụ nữ xinh đẹp, mặc bộ váy trắng bông tuyết chói sáng, khoác chiếc áo choàng màu trắng đang bước ra ngoài thang máy, tóc của bà tạo nên một quầng sáng trắng, khuôn mặt của Thiên sứ giống như đang ngước nhìn Thượng đế… Cho đến giờ, cảm giác chấn động đó vẫn còn y nguyên trong tâm trí tôi”.

Trên thực tế, những sự việc Jeane từng thực hiện cũng khá giống với của Thiên Sứ. Mặc dù vẫn không thể tránh khỏi một vài lần sai sót, nhưng hầu hết những lời tiên đoán của bà đều vô cùng chuẩn xác. Dựa vào những tiên đoán của mình, Jeane có thể thu lời sau mỗi vụ làm ăn. Nhưng bà hiếm khi sử dụng năng lực kỳ diệu đó để mưu lợi cho bản thân.

Khi bà kết hôn cùng Jimmy, ông Jimmy lúc đó đã là một người giàu có, ông có cổ phiếu ở nhiều công ty lớn và sở hữu rất nhiều đất đai. Sau khi kết hôn, với khả năng của mình, bà hoàn toàn có thể kiếm được rất nhiều của cải tiền bạc cho gia đình, nhưng bà chỉ tập trung tinh lực vào làm việc thiện, làm một người giải trừ rất nhiều những tai họa và nguy hiểm tiềm tàng, chứ không để cho ông chồng sử dụng năng lực của mình để kiếm về dù chỉ một đồng một xu bất chính.

Sau khi Jeane đến văn phòng của chồng làm việc, thì trong lúc chồng làm kinh doanh, bà vẫn phải bề bộn với những việc công ích. Mọi người đều nói, bà có tấm lòng bao dung như của Thiên Sứ.

Câu chuyện tiên tri về phu nhân Danny

jeane-dixon-31
Bài viết đăng trên nhật báo Delaware County Daily Times, số ra ngày 15/1/1966, đề cập đến lời tiên đoán của Jeane Dix, trong đó có nhắc tới Kitty và George Racey Jordan (Ảnh: newspapers.com).

Trong một lần ngồi uống cà phê và trò chuyện với Jeane, phu nhân Danny đã cảm thấy ấn tượng rất sâu sắc với người phụ nữ có vóc dáng thon gọn, với bề ngoài trông giống Thiên sứ, và cách ăn nói cởi mở. Phu nhân Danny liền đem hết tâm tình trong lòng thổ lộ ra với bà.

Bà nói cho Jeane biết bản thân mình đang tiến hành thủ tục ly hôn, đồng thời đã trót yêu một anh chàng sĩ quan hải quân trẻ tuổi. Danny nói rằng: “Đợi sau khi tôi hoàn tất thủ tục ly hôn, chúng tôi sẽ kết hôn”.

Jeane từ chối không đưa ra ý kiến gì, và chỉ sau khi chạm vào ngón tay của Danny, bà mới lên tiếng: “Người đàn ông đó sẽ không thể kết hôn với chị được”, phu nhân Danny đang trong tình yêu say đắm đã vô cùng phản cảm  lời nói đó của Jeane, liền tức giận mà phản bác lại: “Cô sai rồi, không có bất kỳ điều gì trên đời này có thể ngăn cản được việc tôi kết hôn với anh ấy, cũng không thể ngăn cản được việc anh ấy cưới tôi”.

Jeane tiếp tục nói: “Người đàn ông này sẽ đột nhiên biến mất khỏi cuộc đời chị, cũng như việc anh ta đột nhiên xuất hiện trong cuộc đời chị, vì vậy tốt hơn hết chị nên chuẩn bị tâm lý trước đi”.

Ba tuần sau buổi trò chuyện đó, một máy bay hải quân đã bị rơi, trên máy bay có 7 người, 3 người trong số đó đã được cứu sống, và thi thể 3 người khác cũng được tìm thấy ngay sau đó, duy chỉ có vị hôn phu của phu nhân Danny là đã biến mất không rõ tăm tích. Jeane ở bên bạn mà an ủi: “Tôi nhìn trong quả cầu thủy tinh, thấy anh ta chuẩn bị một bộ quan tài. Anh ta sẽ chết và nhất định sẽ tìm thấy được thi thể”. Mấy ngày sau, một ngư dân đã vớt được thi thể người đàn ông này.

Phu nhân Danny lúc đó đang đau khổ tột cùng, nhưng Jeane lại nói: “Sau hai năm nữa, một người đàn ông xuất sắc sẽ đến bên chị, anh ta sẽ đem đến cho chị niềm hạnh phúc và sự thỏa mãn mà chị chưa từng thấy. Cho dù chị có kết hôn với vị sĩ quan hải quân kia đi chăng nữa, thì một khi gặp mặt người đàn ông này, chị cũng sẽ lại ly hôn mà cưới người này. Anh ấy có hàm răng trên thưa, và một ít tóc màu đỏ”.

Phu nhân Danny cho rằng đây chỉ là những lời an ủi của Jeane nên không mấy để ý.

Sau khi ly hôn với người chồng cũ, phu nhân Danny được gọi bằng cái tên Kitty. Khi đã bình tĩnh trở lại, Kitty tạm thời làm việc tại công ty bất động sản của Jimmy (chồng Jeane Dixon). Một hôm Jimmy nhờ bà đi lấy bảng giá nhà: Một vị thiếu tá mới từ Alaska trở về đang định bán đi một tòa nhà.

Vị thiếu tá này tên là George Racey Jordan, là tác giả của cuốn sách bán chạy kể về hồi ức của thiếu tá Jordan (tên tiếng Anh: “From Major Jordan’s Diaries”). Không phải Kitty và vị thiếu tá này vừa gặp mặt đã yêu nhau, mà tình bạn của họ dần dần trở thành tình yêu sâu đậm. Kitty nói: “Đó là một loại tình yêu mà tôi chưa từng cảm nhận, anh ấy là người mà tôi hài lòng nhất trong số những người đàn ông tôi từng quen biết”. Hai năm sau, họ kết hôn.

Từ hoài nghi đến tin tưởng

Kitty và người chồng cũ sinh được hai người con gái, trong đó một người con xinh đẹp như tiên nữ, nhưng lại trải qua một cuộc hôn nhân không như mong đợi. Một ngày, Jeane đã cảnh báo cho cô con gái của Kitty biết phải lập tức rời khỏi Washington, nếu không, sẽ có tai họa chết người. Cô gái này không tin theo những gì Jeane nói, và kết quả là vài ngày sau, đột nhiên cô bị chính chồng mình sát hại. Sau đó anh ta cũng tự sát theo vợ.

Giữa lúc Kitty rơi vào cảnh bi thương vì con gái chết thảm, Jeane lại muốn bà chuẩn bị tốt tâm lý cho sự kiện tiếp theo: “Mẹ của bạn sắp chết vì ung thư, xung quanh bà có con số 9, nhưng tôi không hiểu rõ ý nghĩa của chúng”.

Không đầy một năm, từ một người già khỏe mạnh, mẹ của Kitty qua đời vì căn bệnh ung thư tại căn phòng số 9 của bệnh viện. Khi giới thiệu về Jeane, Kitty nói: “Trên đời thực sự có Thiên sứ và người đó chính là Jeane. Nếu như mọi người chịu nghe lời cô ấy, thì có thể tránh được ít nhiều những rủi ro không may trong cuộc đời”.

Jeane có khả năng đoán biết được những sự việc xảy ra cách xa hàng nghìn dặm

Betty là một phụ nữ giàu có ở Châu Âu. Một ngày nọ, khi Betty đang ở New York, cô đã gọi điện đến Washington tìm gặp Jeane, và hỏi ý kiến Jeane về việc có nên mua một sợi dây chuyền đẹp hiếm có hay không, giá trị của nó lên đến 125.000 USD.

Jeane không trả lời câu hỏi của Betty mà chỉ cảnh báo rằng: “Hãy nhìn ra ngoài cửa sổ và cô sẽ thấy một người thanh niên. Ông ta đang dạo bộ trên đường và  theo dõi xem liệu cô có ở nhà hay không, vì hắn muốn sách nhiễu để vơ vét tài sản của cô… Ông ta sẽ nhấn chuông cửa nhà, nhưng dù thế nào cô cũng phải mặc kệ, đừng ra mở cửa, mà hãy để người giúp việc của cô đi ra và hỏi họ tên cùng số điện thoại của ông ta, sau đó cô hãy giao cho luật sư của cô xử lý”.

Betty nhìn qua cửa sổ, và quả thật đã nhìn thấy một người thanh niên đang tiến đến gần cửa nhà. Cô nhớ mang máng người này và đã làm theo lời căn dặn của Jeane. Vị luật sư nói với Betty rằng, người thanh niên kia từng là bạn của Betty trong một khoảng thời gian rất ngắn. Hiện anh ta muốn dùng mấy lá thư mà Betty viết đến để sách nhiễu cô. Người thanh niên này muốn kết hôn nên cần phải có tiền gấp.

Betty lập tức kể hết cho Jeane, rồi lại hỏi: “Sợi dây chuyền xinh đẹp kia phải làm thế nào bây giờ?”. Jeane cười lớn và cho Betty biết rằng cô có thể mua, tuy nhiên phải chờ vài tuần nữa, khi giá của sợi dây chuyền giảm xuống rất nhiều. Một tháng sau, giá sợi dây chuyền quả thật giảm xuống chỉ còn 65.000 USD, và Betty đã mua nó. Từ đó trở đi cô đặt niềm tin tuyệt đối vào Jeane.

Bà Hawley đã thỉnh mời Jeane xem bói cho mình. Jeane nói với bà rằng cô nhìn thấy “hai cháu nhỏ rất đáng yêu”, nhưng bà Hawley lắc đầu, bởi lúc đó bà chỉ có một đứa cháu trai. Jeane cười một cách bí hiểm: “Vậy là con gái bà vẫn chưa thông báo cho bà biết rằng cô ấy đang mang thai rồi”.

Bà Hawley liền lập tức gọi điện cho cô con gái đang sinh sống ở một thành phố khác để hỏi thăm. Con gái bà đã bị ngạc nhiên: “Làm sao mà mẹ biết được vậy? Chính con cũng vừa mới biết mà!”.

Danh tiếng của Jeane Dixon vang xa khắp nước Mỹ, người người đều biết đến nhà tiên tri lỗi lạc này. Nhưng dù vậy, vẫn có rất nhiều người không chịu tin vào khả năng của Jeane. Jeane thường xuyên được đài truyền hình và đài phát thanh phỏng vấn.

Một lần, một nhiếp ảnh gia đi cùng đoàn phỏng vấn đến gặp Jeane, đã không e dè gì khi cười nhạo bà. Jeane chưa từng gặp người này, nhưng bà vẫn hết sức độ lượng và khoan dung, không biện hộ một tiếng nào cho bản thân mình. Ngay trong lúc người này đang cười nhạo một cách hăng say, Jeane đột nhiên nói rằng bà nhìn thấy bên cạnh ông ta có tiếng khóc chào đời của một đứa trẻ sơ sinh. Nhà nhiếp ảnh bất thỉnh lình ngây người đến mức khoa chân múa tay. Hóa ra, tối hôm trước vợ anh ta đã sinh hạ một bé gái. Sau này vị nhiếp ảnh gia này trở thành một “tín đồ” trung thành của bà Jeane.

Dù không sử dụng quả cầu thủy tinh để trợ giúp chồng mình trong kinh doanh, nhưng bà lại giúp ông ở một phương diện khác. Một buổi sáng, bà gọi điện cho Kwan Tak, người quản lý của Công ty bất động sản, và nói: “Có một ngôi nhà đang bị cháy, hãy nhanh chóng đi kiểm tra!”. Kwan Tak không nói năng gì và cho rằng điều này quá hoang đường nên chỉ miễn cưỡng đi kiểm tra. Ông vừa đẩy cánh cửa nhà ra thì nhận thấy khói bốc lên ngùn ngụt. Kể từ đó, vô luận là Jeane nói gì, Kwan Tak đều tin theo và nói rằng: “Lời cô ấy nói vô cùng chuẩn xác”.

Jeane cũng từng “thách thức” nhà tiên tri lớn Nostradamus bằng một tiên đoán trái ngược của bản thân, bà nói: “Nhân loại không cần phải cảm thấy lo sợ trước lời tiên đoán của Nostradamus. Năm 1999, loài người sẽ không bị diệt vong, và hy vọng được cứu vớt của nhân loại là ở phương Đông, còn phương Tây chỉ là nơi kết nối”.

Theo daikynguyenvn.com

Categories: Nhà Tiên Tri

Sáng Thế Chủ đã tới cõi người, Nhưng loài người không hề hay biết

Có một câu chuyện cổ có tính tiếp diễn trong vũ trụ bao la. Đó là câu chuyện bắt đầu từ rất xa xưa, nhưng lại đang diễn ra trong thời hiện đại. Câu chuyện ấy liên tục tiếp diễn từng ngày, và đến bây giờ vẫn còn đang kể, cho chính con người hôm nay. Giai đoạn này đây đã là thời điểm cuối cùng của cuối cùng trong câu chuyện ấy, là thời điểm để mỗi sinh mệnh được lựa chọn cho bản thân những điều chân chính nhất.

Có một câu chuyện cổ bắt đầu từ rất xa xưa và vẫn đang tiếp diễn ở hiện tại… (Ảnh: t/h)

Chuyện kể rằng, từ rất rất xa xưa, bắt đầu từ khi vũ trụ mới được sinh thành, các sinh mệnh và vạn vật được thần sáng tạo nên cứ thế mà sinh tồn trong vũ trụ. Trong đó ở một nơi rất rất xa xôi, có một hành tinh tên là Trái Đất, cũng được các thần sáng tạo nên.

Trái Đất ấy thực sự là một hành tinh xinh đẹp. Nhưng nó lại là nơi thấp nhất trong vũ trụ bao la. Từ vũ trụ, những sinh mệnh mỗi khi trở nên không còn tốt nữa lại bị đánh hạ xuống tầng phía dưới, nếu lại không tốt lại bị hạ xuống, cứ bị đánh hạ mãi như thế cho đến tận tầng thấp nhất nơi Trái Đất này. Đến nơi Trái Đất thì sinh mệnh đã hoàn toàn không còn những phép thần thông của các vị thần. Sinh mệnh phải trú ngụ trong một thân xác khác. Vì thế, mà con người được sinh ra. Con người chính là hình hài mới mà các vị thần sáng tạo nên cho những sinh mệnh gây ra tội, bị đánh hạ đến tận nơi này. Đồng thời, các vị thần cũng sáng tạo nên cho con người hoàn cảnh sinh tồn trong Trái Đất.

Phạm tội rồi, nhưng các sinh mệnh không nhất định là bị hủy đi. Họ được các thần cho thêm một lần cơ hội nữa để có thể hồi quy về thế giới thần tiên, về thế giới của thần. Vì thế với lòng từ bi, các thần đã chuyển sinh thành người hướng dẫn con người tu luyện, chính là hướng dẫn con người cách thức để trở về nhà. Con người vì thế có được cơ hội để trở về nơi tiên giới.

Ở trong Trái Đất, các thần đã tạo nên một Thần Châu, nơi các thần có thể đến để hướng dẫn con người tu luyện và bảo hộ con người trong tu luyện trở về. Nơi Thần Châu ấy, con người bình yên sinh sống với lòng kính ngưỡng và hàm ơn các vị thần.

Lại trải qua thời gian đằng đẵng ở nơi Trái Đất xa xôi ấy, con người cứ thế tiếp tục luân hồi vạn kiếp. Dần dần họ đã quên đi thế nào là tu luyện, quên đi cách thức mà các thần đã hướng dẫn cho họ trở về nơi mà từ đó họ đã đến đây, nơi Trái Đất này, họ cũng quên luôn nguồn gốc chân chính của bản thân mình là đến từ thiên thượng.

Khi lịch sử loài người càng ngày càng trở nên lâu dài bất tận, thì bản tính tốt đẹp của con người khi mới từ tiên giới hạ xuống cũng bị mai một dần đi. Họ càng ngày càng trở nên xấu ác, thậm chí “Thần Châu” cũng bị họ đổi tên rồi. Họ đã quên, Thần Châu chính là nơi con người có thể giao hội với thần.

Khi con người trở nên ngày càng xấu xa thì ma quỷ cũng bắt đầu xuất hiện ở cõi nhân gian. Có những ma quỷ là do chính sự xấu ác của con người chiêu mời đến. Những ma quỷ ấy muốn tiêu diệt con người, muốn phá hủy con người, muốn con người ngày càng trở nên xấu ác, như thế chúng mới có đất dung thân. Có những ma quỷ đã chuyển sinh dưới hình dáng con người mà tuyên truyền những điều của nó, mục đích là khiến con người càng ngày càng quên đi nguồn gốc tốt đẹp của bản thân, không tin vào thần và quên đi tu luyện.

Dù là tầng thấp nhất trong vũ trụ, nhưng sự việc diễn ra nơi Trái Đất cũng liên quan đến đại khung cự đại nơi vũ trụ này. Tất thảy toàn bộ khung thể rộng lớn của vũ trụ bao la cũng đang càng ngày càng trở nên không tốt.

Từ một nơi tối cao tối cao trong vũ trụ, vị Phật chủ sáng tạo ra thế giới đã nhìn thấy những điều ấy, đã thấy được tương lai của con người, cũng đã thấy được dã tâm của những thế lực đen tối đang muốn hủy hoại con người, hủy hoại đi những đứa con lầm lạc nơi Trái Đất. Đồng thời, Ngài cũng thấy sự nguy hiểm đang đến của vũ trụ mênh mang.

Với lòng từ bi vô hạn, Phật chủ tự mình hạ dần xuống, cuối cùng cũng đến nơi Trái Đất nhiều hiểm ác. Ngài muốn đánh thức những linh hồn đi lạc, những đứa con lầm lỗi của Ngài, muốn đón chúng trở về nơi đã sinh ra chúng. Đồng thời, Phật chủ cũng muốn sửa chữa lại những điều đã trở nên bại hoại trong vũ trụ bao la.

Ở mỗi tầng trời, trong quá trình hạ xuống, lại có rất nhiều những vị Thần, Phật nguyện ý theo ngài, trợ giúp Phật chủ trong việc thức tỉnh những linh hồn lầm lạc, trợ giúp ngài chính lại đại khung của vũ trụ rộng lớn. Cứ như vậy, qua mỗi tầng trời, đều có những vị thần đi theo Phật chủ đến nơi Trái Đất nhiều hiểm ác. Nơi Trái Đất đầy nguy hại ấy, bất cứ vị thần nào đến đây đều sẽ quên mất bản thân mình chân chính. Chỉ có Phật chủ vĩ đại là không như thế. Vì thế, các vị thần đã hứa với nhau rằng, bất cứ ai khi đã thức tỉnh rồi sẽ toàn lực đánh thức những người còn lại, để tất cả mọi người đều có được cơ hội theo Phật chủ trở về nhà.   

Qua mỗi tầng trời, đều có những vị thần nguyện ý đi theo Phật chủ đến nơi Trái Đất hiểm ác để trợ giúp Ngài thức tỉnh những linh hồn lầm lạc. (Tranh qua Minghui.org)

Với lời hứa ấy, các vị thần lần lượt chuyển sinh vào cõi Thần Châu, kết duyên với nhau, và kết duyên với Phật chủ của mình. Họ muốn đảm bảo có thể tự cứu được bản thân, cứu được người khác cùng quay về nơi chân chính đã sinh ra họ.

Lại trải qua năm tháng đằng đẵng lâu dài, tại nơi Thần Châu ấy, những vị thần rất rất cao trong vũ trụ đã kết duyên xong với Phật chủ tối cao. Họ đều chuyển sinh thành người vào Thần Châu chờ đợi khoảnh khắc Phật chủ truyền Pháp độ nhân. Nhưng, vì họ đã không còn nhớ quá khứ của mình nên khi Phật chủ truyền Phật Pháp, hướng dẫn con người tu luyện trở về, đã có rất rất ít người nhận ra ngài, rất rất ít người nhận ra Phật chủ. Ngay khi họ nhận ra, họ đã vô cùng chấn động. Sự chấn động ấy không thể nói lên lời, không thể nào miêu tả.

Những ma quỷ kia cũng nhận thấy Phật chủ đang truyền dạy con người tu luyện, đang hướng dẫn con người trở về với bản tính tiên thiên, đánh thức con người, khiến họ nhớ ra bản tính nguyên lai của họ, khiến con người từ bỏ những thứ xấu xa mà theo Phật chủ về nhà. Vì thế, ma quỷ cũng đến nơi Thần Châu mà quấy phá Phật chủ truyền Pháp. Chúng không từ bất cứ thủ đoạn nào mà quấy phá Ngài.

Những người vừa thức tỉnh đã nhận ra ma quỷ trong cõi người đang quấy phá nên họ quyết tâm trợ giúp Phật chủ kết nối nhiều nhất những sinh mệnh trên Trái Đất đến với Pháp của Ngài. Họ biết rằng, chỉ có như thế mới có thể khiến con người thức tỉnh, chỉ có Phật Pháp mà Phật chủ đã truyền mới có thể khiến con người thức tỉnh.

Với những nỗ lực của những người đi trước, con người lần lượt đều được tiếp cận với Đại Pháp mà Phật chủ truyền trong cõi nhân gian, càng ngày càng có nhiều người hơn thức tỉnh. Những người thức tỉnh ấy lại giúp cho Đại Pháp của Phật chủ đến được với nhiều người hơn nữa, lại tiếp tục có người thức tỉnh. Cứ như vậy, Những người đã thức tỉnh đang tu chỉnh bản thân trong Đại Pháp, đã hỗ trợ Phật chủ ngày càng truyền rộng Đại Pháp trong cõi nhân gian, cứu vớt được nhiều hơn nữa những linh hồn lầm lạc nơi Trái Đất được đắc Pháp mà tu luyện, quy chính trở về.

Những ma kia cũng nhìn thấy rồi. Con người nếu đều tu Đại Pháp, đều có thể hồi quy thì chúng không còn nơi ẩn nấp. Chúng liền tạo ra một đại nạn khủng khiếp chưa từng có  từ trước đến nay đối với người tu luyện. Chúng bức hại những đệ tử của Phật chủ đang tu tại cõi người. Nhưng độc ác hơn, thông qua việc bức hại các đệ tử của Phật chủ, những ma quỷ ấy đầu độc con người, khiến con người không tin vào Đại Pháp, khiến con người xa lánh Đại Pháp tại cõi nhân gian.

Giữa hồng trần cuồn cuộn, những đệ tử Đại Pháp trong ma nạn, vẫn đang tận sức trợ giúp Sư phụ của họ cứu chúng sinh.
Giữa hồng trần cuồn cuộn, những đệ tử Đại Pháp trong ma nạn, vẫn đang tận sức trợ giúp Sư phụ của họ cứu chúng sinh. (Tranh qua classicalpoets.org)

Những đệ tử của Phật chủ vẫn kiên tâm vào Đại Pháp để trở về. Nhưng con người nơi nhân thế thì quả thực không còn nhiều cơ hội nữa, họ đang phải đối diện với sự hủy diệt mà hoàn toàn không hay biết. Phật chủ từ bi đã liên tục kéo dài thời gian truyền Phật Pháp với hy vọng những sinh mệnh còn đi lạc có thể có được cơ hội đắc Đại Pháp trở về. Ngài cũng tiêu trừ những ma phá hoại và can nhiễu con người đắc Pháp, giúp con người có thêm cơ hội biết đến Pháp để trở về.

Giữa hồng trần cuồn cuộn, những đệ tử Đại Pháp trong ma nạn, vẫn đang tận sức trợ giúp Sư phụ của họ cứu chúng sinh. Tuy nhiên, trong nhân gian mê lạc, con người đã rất khó rất khó nhận ra Phật chủ, đã rất khó tin vào những vị thần vĩ đại. Đại Pháp vẫn đang truyền, Phật chủ vẫn đang từ bi chờ đợi những đứa con của Ngài nhận ra Đại Pháp, nhận ra Ngài đã đến thế nhân. Con người hãy thức tỉnh! Hãy nhận ra ý nghĩa chân chính của sinh mệnh trong vũ trụ này! Hãy trở về nơi chân chính mà chúng ta đã từng ở đó!

Đây chính là câu chuyện cổ tích lâu dài nhất cho đến tận bây giờ mới bắt đầu viết lại. Là câu chuyện không phải cho tương lai, mà là cho thực tại của nhân loại bây giờ. Là câu chuyện còn đang tiếp diễn, câu chuyện còn chưa kết thúc. Sự kết thúc của câu chuyện ấy chỉ diễn ra khi mỗi sinh mệnh, mỗi con người nơi Trái Đất đều đã lựa chọn cho bản thân mình, lựa chọn tin vào điều gì ở nơi nhân gian ấy. Hồng trần cuồn cuộn. Hy vọng rằng, kết thúc của câu chuyện này là viên mãn, có hậu, để không phụ sự từ bi của Phật chủ tối chung.

Melanie Mai

Những câu chuyện có thật gây ngạc nhiên về thần thông

Thần thông trong con mắt của Đại Đạo chân chính thì không là gì cả, đều là những thứ thuật loại nhỏ bé, những người có năng lực thật sự thường không đem chúng ra biểu diễn. Dưới đây là những câu chuyện ghi lại về thần thông triển hiện ngay trong xã hội con người.

dam dao
Thần thông đối với người tu Đạo trong quá khứ không phải là điều gì lạ lùng, bởi đó chính là bản năng tiên thiên của con người, do tu hành mà có thể khiến chúng xuất lai. (Ảnh từ Internet)

1. Thuật thu người vào trong bình

Trong “Tây Du Ký” có một tình tiết là Tôn Ngộ Không bị thu vào trong hồ lô. Thật ra, đây là một loại năng lực của Đạo gia, cũng có thể gọi là phép thuật vậy!

Vào thời Đường Huyền Tông, khi Dương quý phi còn chưa nhập cung, có một phi tần tên là Võ Huệ rất được đắc sủng. Huyền Tông tuy tôn sùng Đạo gia, nhưng Huệ Phi đó lại hết lòng tin theo Phật giáo, mỗi người một sở thích.

Phật tử mà Huệ phi tin theo, tên gọi Kim Cang Tam Tạng, cũng là một kì nhân, đạo thuật có thể sánh ngang với hai người là La Công Viễn, Diệp Pháp Thiện.

Có một ngày, Huyền Tông đi đến viện Công Đức, bỗng nhiên bị ngứa lưng. La Công Viễn bẻ gãy cành trúc, hóa thành cây Thất Bảo Như Ý, bước lên gãi lưng cho Huyền Tông. Huyền Tông mừng rỡ, quay người lại nói với Tam Tạng rằng: “Ngài cũng có thể làm được vậy chăng?”

Tam Tạng đáp: “Thuật biến hóa của Công Viễn, thần sẽ lấy vật thật cho bệ hạ”. Trong tay áo lấy ra một cây Lục Bảo Như Ý dâng lên. Huyền Tông một tay đón lấy, cây Như Ý của Công Viễn cầm trong tay trước đó, lập tức lại biến thành cành trúc. Huyền Tông về cung nói lại với Huệ phi, Huệ phi mừng lắm.

Huyền Tông nói với Tam Tạng rằng: “Pháp sư đã có thần lực, Diệp tôn sư thật không thể sánh bằng. Nay có cái bình ở đây, chẳng hay pháp sư có thể làm cho Diệp tôn sư vào trong cái bình này chăng?”.

Tam Tạng nhận lấy cái bình, bảo Diệp Pháp Thiện xếp bằng theo pháp của Thiền môn, miệng niệm thần chú, còn chưa niệm xong, thân thể của Pháp Thiện bị thu nhỏ lại. Niệm thêm lần hai, Pháp Thiện đã ở trên miệng của chiếc bình, rồi bị thu vào trong.

Huyền Tông trong lòng có chút không vui. Một lát sau, không thấy Pháp Thiện đi ra, lại nói với Tam Tạng rằng: “Pháp sư đã có thể thu người này vào trong chiếc bình, vậy cũng có thể khiến ông ta ra khỏi chiếc bình chứ?”.

Tam Tạng nói: “Đi vào thì khó khăn phiền phức, ra ngoài cũng là pháp này thôi”.

Liền bắt đầu niệm chú, niệm xong không thấy Diệp Pháp Thiện ra, Tam Tạng sốt ruột, một hơi niệm cả mấy lần, nhưng vẫn không có động tĩnh gì. Huyền Tông kinh ngạc nói: “Phải chăng tôn sư đã không còn nữa?”. Sắc mặt liền biến đổi hẳn.

Huệ phi sắc mặt tái nhợt, Tam Tạng cũng hoảng hốt, chỉ có La Công Viễn che miệng lại cười. Huyền Tông hỏi ông rằng: “Bây giờ phải làm sao đây?”.

Công Viễn cười đáp: “Bệ hạ không cần phải lo lắng, Pháp Thiện ở cách đây không xa”. Tam Tạng lại niệm chú một lúc, vẫn không thấy đi ra. Đang lúc không biết làm thế nào, Cao Lực Sĩ ở bên ngoài báo rằng: “Diệp tôn sư đi vào”.

Huyền Tông vội cho gọi vào, rồi kinh ngạc nói: “Chiếc bình còn ở đây, người lại từ đâu đến chứ?“.

Pháp Thiện nói rằng: “Ninh vương mời thần dùng cơm, trong lúc làm phép, nếu tâu với bệ hạ, nhất định sẽ không cho đi, vừa khéo mượn cơ hội vào trong chiếc bình, đến chỗ Ninh vương dùng cơm. Nếu không phải nhờ một câu chú của pháp sư, e rằng đã đi không được rồi”. Huyền Tồng cười lớn. Huệ phi, Tam Tạng mới thở phào nhẹ nhõm.

2. Bạch nhật phi thăng

Trong những sách cổ của Trung Quốc, nhất là những sách cổ điển của Đạo gia  như “Đan kinh”, “Đạo tạng” v.v…, đều có ghi lại những hiện tượng “bạch nhật phi thăng”. Thời đó, đối với một số kỳ nhân sau khi trải qua tu luyện gian khổ có thể bay lên không trung, người ta không gọi là công năng đặc dị, mà trực tiếp gọi là thiền tiên. Dưới đây là một số câu chuyện người hóa thành tiên bay lên trời được trích dẫn từ trong “Tập tiên lục”, “Tục tiên truyền”.

Thời triều Hán, Nam Dương Công Chúa hóa thành tiên

Trong “Tập tiên lục” ghi chép lại chuyện của Nam Dương công chúa thời triều Hán, cô luôn ngưỡng mộ những điều huyền ảo, tôn kính tu Đạo. Mỗi lần nhớ lại thời Khởi Văn Đế thái bình thịnh thế, thời Hán Vũ Đế thường xuyên có thần tiên hiển hiện tại nhân gian, cô nói vị hôn thê Vương Thành của mình rằng: “Nếu kiếp này thế đạo hỗn loạn, quốc nạn ập đến, là một nữ giới, ta đối việc việc này hoàn toàn bất lực. Nhưng ta có thể điềm tĩnh, bình thản, lui thân tu đạo, rời xa tranh đua của nhân thế, như vậy sẽ kéo dài được tuổi thọ. Nếu cứ theo thời thế tiến thoái, khó tránh khỏi trôi dạt lênh đênh khổ sở mệt mỏi”. Vị hôn phu Vương Thành nói muốn tận lực làm việc cho triều đình, không thể làm theo lời khuyên của công chúa được.

Công chúa đành phải đi đến Hoa Sơn một mình dựng nhà độc tu, ở đó rất nhiều năm. Bởi cô chuyên tâm tu luyện, nên đã đạt đến cảnh giới chân linh cảm ứng, thế là công chúa không sống trong túp lều ấy nữa mà rời đi. Có người nhìn thấy công chúa đạp mây từ từ nâng mình lên ở trong khe vách đá dựng đứng. Sau khi Vương Thành nghe chuyện này, liền đến Hoa Sơn tìm công chúa, đi qua từng khe núi, từng khe núi, leo lên tầng tầng đỉnh núi, trông mòn con mắt, nhưng bốn phía lặng yên im ắng, không tìm thấy tung tích của vợ đâu.

Bỗng một ngày, anh ta đứng trên đỉnh núi nhìn thấy một đôi giày hồng mà công chúa để lại, liền đi đến phía trước muốn nhặt lên, không ngờ đôi giày liền biến thành đá. Sau này đỉnh núi đó được gọi là đỉnh núi Công Chúa.

Đổng Thượng Tiên lột da bay lên trời

Trong “Tập tiên lục” có ghi lại, Đổng Thượng Tiên là con gái của một quan huyện. Khi cô 17 tuổi, dung mạo thanh tú, ăn cơm và uống nước ít, thích trầm tĩnh, bình lặng, sống rất hòa đồng với mọi người.

Nhìn vào dung mạo và phẩm đức của cô, những người hàng xóm ai cũng nói cô là tiên ở trên trời, vì thế nên gọi cô là Thượng Tiên.

Có một ngày, bỗng nhiên mây tím buông xuống dày đặc, nghe thấy tiếng nhạc thiên thượng nổi lên từng hồi từng hồi, Thanh Đồng và Tiên Nhạc cùng nhau hạ xuống sân nhà cô. Hai đồng tử dẫn cô chầm chậm bay lên trên trời, khi Thượng Tiên đã cách mặt đất mấy mét, cha mẹ của cô đứng thần người ra, khóc lóc gọi cô, lúc này Thượng Tiên đành phải hạ xuống, ngay lập tức mây tím và đồng tử không thấy bóng dáng nữa.

Thời bấy giờ đang là thời gian Đường triều khai nguyên, Đường Huyền Tông là người rất kính ngưỡng thần tiên. Sau khi chuyện Thượng Tiên bay lên trời truyền ra, hoàng đế liền hạ chỉ triệu tập Thượng Tiên đến Trường An và được phép ở trong cung.

Khoảng hơn một tháng, Thượng Tiên xin được trở về nhà, Hoàng đế cho phép, và phái sứ giả đưa cô về quê nhà. Hơn một năm sau, Thượng Tiên lại bay lên trời, cha mẹ vẫn như lần trước khóc nỉ non không thôi, nhưng lần này cô không hạ xuống nữa, cô chỉ lột bỏ da để lại. Hình thể bộ da trông giống hệt cô, vẫn mặc quần áo, giống như xác của ve sầu. Hoàng đế sau khi nghe chuyện này, liền hạ lệnh xây hai tòa miếu tại chỗ Thượng Tiên bỏ lại bộ da của mình.

Lê Hiếu, Tiểu Thiện

Vượt sông bằng một cọng lau – Kỳ tích của người tu luyện thời cổ đại

Những ghi chép trong lịch sử đã chứng minh được rằng người tu luyện có thần thông và công năng siêu thường.

Bồ Đề Đạt Ma vượt sông bằng một cây lau. (Tranh từ Internet)

Đạt Ma vượt sông bằng cây lau

Bồ Đề Đạt Ma là ông tổ của phái Thiền tông trong Phật giáo Trung Quốc, được tôn là “ông tổ Đạt Ma”.

Thời Lương Vũ Đế (464 – 549) (Nam Triều), Bồ Đề Đạt Ma từ nước Thiên Trúc vượt biển đến Trung Quốc. Đến Nam Hải được Huyện lệnh Quảng Châu là Tiêu Ngang đón tiếp và tâu lên vua, Võ Đế sai sứ giả đến đón. Đến ngày một tháng mười năm sau thì đến Nam Kinh.

Theo ghi chép trong “Bích nham lục”: “Đạt Ma nhìn từ xa thấy vùng đất này có căn tính của Phật liền quyết định vượt biển đến truyền tâm ấn khai mở; bất lập văn tự, trực chỉ nhân tâm, kiến tính thành Phật”.

Đạt Ma nghe nói Lương Vũ Đế tin Phật pháp liền đến Kim Lăng giảng pháp.

Tương truyền, khi gặp Đạt Ma, Hoàng đế Vũ Đế đã hỏi ông: “Sau khi ta lên ngôi, đã xây không biết bao chùa chiền và tạo nơi ở cho các thầy tu. Ta đã tích được bao nhiêu công đức?”.

Bồ Đề Đạt Ma đã trả lời: “Không có công đức”.

Hoàng đế lại hỏi ông tại sao. Bồ Đề Đạt Ma đáp: “Đó là bởi vì sự thiếu sót. Mặc dù nó trông có vẻ ông có công đức, nhưng lại không phải là công đức thật”.

Vũ Đế hỏi tiếp: “Vậy thì công đức thật sự là gi?”.

Bồ Đề Đạt Ma đáp: “Sống mà không có lo lắng và không có suy nghĩ gì trong tâm. Loại công đức này không thể cưỡng cầu”.

Hoàng đế lại hỏi: “Điều quan trọng nhất của Phật Pháp là gì?”.

Bồ Đề Đạt Ma nói: “Khi một người có ràng buộc, thì không đắc được Phật Pháp”.

Nhưng dường như Lương Vũ Đế không thể lĩnh ngộ được những lời của Đạt Ma, thế là Đạt Ma liền rời Giang Nam.

Ông đã dùng một cọng lau để vượt sông Dương Tử và đã đi đến miền Nam của Ngụy. Rồi ông đi đến Lạc Dương (tại tỉnh Hà Nam) và đã tu luyện tại chùa Thiếu Lâm trên núi Tung Sơn. Ông đã thiền định trong suốt 9 năm.

Vì Đạt Ma ông đứng trên cây lau vượt qua sông Trường Giang, từ đó có điển tích “vượt sông bằng cây lau” (nhất vĩ độ giang).

Rẽ nước vượt sông

Theo ghi chép trong “Bắc Tề thư”, vào thời Nam – Bắc triều ở Bắc Tề có người tu đạo gọi là Do Ngô Đạo Vinh, thích Đạo pháp từ nhỏ, đã đi đến núi Trường Bạch cùng một người đồng chí hướng và ẩn cư tu đạo trong núi, thông hiểu đạo pháp.

Do Ngô Đạo Vinh nghe nói có người Tấn Dương am hiểu đạo pháp liền đến thăm hỏi. Người này đang làm thuê ở nhà một người khác và không ai quen biết anh ta, vì thế Do Ngô Đạo Vinh mất nhiều công sức mới tìm được. Người kia thấy Do Ngô Đạo Vinh một lòng cầu đạo nên đã truyền thụ cho anh ta.

Người Tấn Dương kia nói với Do Ngô Đạo Vinh: “Ta là tiên Hằng Nhạc ở trên trời, vì phạm tội nhỏ nên bị đày xuống thế gian. Đến nay cũng hết kỳ hạn án phạt nên phải trở lại thiên đình. Anh tiễn ta đến Sông Phần nhé”.

Khi đến sông Phần thì gặp lúc nước dâng cao làm cây cầu bị gẫy, tiên Hằng Nhạc liền dùng pháp thuật rẽ nước ra và đi qua đáy sông. Cảnh tượng này chỉ có mình Do Ngô Đạo Vinh được trông thấy, còn những người xung quanh không thể trông thấy, ai cũng nói: “Nước chảy xiết như thế mà người này cũng bơi qua được”. Mọi người ai cũng sửng sốt.

Do Ngô Đạo Vinh trở lại núi Lang Nha ẩn cư tu đạo, chỉ ăn tùng tử và phục linh, tìm bí quyết trường sinh.

Bảo An tổng hợp

Những thần thông và phép thuật kỳ lạ lưu truyền trong dân gian

Những người tu luyện trong trường phái Phật và Đạo sau khi đạt đến một cảnh giới nhất định thì có thể xuất hiện thần thông. Tuy nhiên, những thế gian tiểu đạo hay một số kỳ nhân dị sĩ trong dân gian cũng có rất nhiều người mang thần thông.

 Không chỉ những người tu Phật và Đạo mới có công năng. (Ảnh: Internet)

Phép thuật mà ngày nay người ta nhắc tới, ở thời cổ đại được gọi là ma thuật. Một vài ma thuật là do kĩ xảo, một số là có sự góp mặt của những bí thuật thần thông. Những thứ thần thông và pháp thuật này, đều có những tính năng đặc biệt, không phải là ai cũng có. Vì người thường không hiểu được, nên đều nói đó là giả dối.

Từ Quang trồng dưa trên đường

Nước Ngô có một người tên là Từ Quang, từng biểu diễn pháp thuật trước mặt hàng xóm láng giềng. Ông xin dưa của người bán dưa để ăn, người bán dưa không đồng ý, ông bèn xin ông ta hạt dưa, sau đó dùng gậy chọc một lỗ trên mặt đất rồi gieo hạt.

Một lúc sau hạt dưa nảy mầm, dây leo mọc dài ra, nở hoa đơm trái, ông liền hái xuống ăn, còn tặng cho mọi người đứng xem. Người bán dưa nhìn lại đống dưa ông ta đang bán, đã không cánh mà bay.

Pháp thuật của Cát Huyền

Cát Huyền, tự Hiếu Tiên, từng theo Tả Nguyên Phương học “Cửu đan kim dịch tiên kinh”. Ông từng cùng khách mời ngồi mặt đối mặt ăn cơm, khi nói đến chuyện biến hóa, khách mời nói: “Sau khi ăn cơm xong, mời tiên sinh làm phép biến hóa xem cho vui”.

Cát Huyền nói: “Ông không muốn xem luôn bây giờ sao?”. Sau đó liền nhổ cơm ở trong miệng ra, số cơm đó đều biến thành một bầy ong bắp cày, tổng cộng có mấy trăm con, tất cả đều bám trên người của vị khách, nhưng cũng không đốt người. Sau một hồi, Cát Huyền liền mở miệng để bầy ong bay vào.

Cát Huyền nuốt xuống, vẫn là cơm như lúc đầu, ông lại điều khiển mấy loại bò sát và chim yến tước nhảy múa, mấy loài động vật đó nhảy có nhịp điệu tiết tấu như người.

Mùa đông buốt giá ông mời khách những trái dưa, trái ớt tươi rói, mùa hè lại tặng khách băng lạnh tuyết trắng. Ông từng đem hàng chục đồng tiền xu, bảo mọi người ném xuống giếng, sau đó ông dùng một cái thùng đựng, đứng trên thành giếng hô hoán đám đồng xu, từng đồng xu lần lượt từ dưới giếng bay lên. Ông bày tiệc rượu mời khách, không cần người đưa chén, mà chén sẽ tự đến trước mặt khách, nếu không uống hết, chén sẽ đứng lì ở đó.

Kết quả hình ảnh cho tôn quyền
Tôn Quyền hỏi Cát Huyền cách cầu mưa. (Ảnh minh họa)

Một lần, ông và Tôn Quyền ngồi ở trên lầu, thấy mọi người đang làm tượng đất cầu mưa. Tôn Quyền nói: “Bách tính mong mưa, nhưng làm những tượng đất này lẽ nào có thể được như ý?”.

Cát Huyền nói: “Thực ra tạo ra nước mưa rất dễ”. Nói xong liền viết một lá bùa đặt ở trong miếu Thổ địa, trong nháy mắt, trời đất âm u, mưa như trút nước, tích được nước mưa dồi dào. Tôn Quyền hỏi: “Trong nước có cá không?” Cát Huyền lại viết một tấm bùa ném vào trong nước. Lát sau, trong nước liền xuất hiện mấy trăm con cá lớn. Tôn Quyền phái người đi bắt mấy con cá về ăn.

Ngô Mãnh rẽ nước vượt sông

Ngô Mãnh, người huyện Bộc Dương, là quan lại nước Ngô, nhậm chức Huyện lệnh Tây An, nhà ở huyện Phân Ninh. Bản tính của ông rất hiếu thuận, từng gặp thánh nhân Đinh Nghĩa, Đinh Nghĩa đã dạy tiên đạo cho ông. Ông lại học được tuyệt kỹ Thần phù, vì thế pháp thuật của ông vô cùng cao siêu.

Lần nọ Ngô Mãnh gặp phải gió lớn, bèn viết một lá bùa ném vào trong phòng, thì có một con chim xanh ba chân bay ra, gió to lập tức ngừng lại. Có người hỏi duyên cớ sao lại làm vậy, ông nói: “Ở Nam Hồ có một chiếc thuyền, bị cơn gió lớn này tấn công, đạo sĩ ở trên thuyền đang khẩn cầu”. Mọi người đi kiểm chứng, quả đúng là như vậy.

Ba ngày sau khi Can Khánh – huyện lệnh Tây An mất, Ngô Mãnh nói: “Số của ông ta vẫn chưa tận, nên lên trên trời khiếu nại”. Rồi nằm xuống bên cạnh cái xác. Vài ngày sau, ông cùng Can Khánh thức dậy.

Ngô Mãnh nằm xuống bên cạnh cái xác. Vài ngày sau, ông cùng Can Khánh thức dậy. (Ảnh minh họa qua xuehua.us)

Sau đó ông dẫn đồ đệ trở về quận Dự Chương, nước sông Trường Giang chảy rất xiết, mọi người không thể qua sông. Ngô Mãnh liền dùng chiếc quạt trắng trong tay vạch một đường lên mặt sông, nước sông liền rẽ ngang, nơi đó liền trở thành một con đường, họ từ từ đi qua Trường Giang. Sau khi họ đi qua sông, nước sông liền trở về như cũ, mọi người đều cảm thấy vô cùng kinh ngạc.

Ngô Mãnh từng nhậm chức ở huyện Tầm Dương, trong nhà Chu tam quân nổi trận cuồng phong, Ngô Mãnh bèn viết một lá bùa ném lên nóc nhà, một lát sau gió liền ngừng thổi.

Bồ Đề Đạt Ma qua sông bằng cây lau

Tranh vẽ đạt ma vượt sông bằng cọng lau. (Ảnh: Internet)

Bồ Đề Đạt Ma là ông tổ của phái Thiền tông trong Phật giáo Trung Quốc, được tôn là “ông tổ Đạt Ma”. Thời Lương Vũ Đế (464 – 549) (Nam Triều), Bồ Đề Đạt Ma từ nước Thiên Trúc vượt biển đến Trung Quốc. Đến Nam Hải được Huyện lệnh Quảng Châu là Tiêu Ngang đón tiếp và tâu lên vua, Võ Đế sai sứ giả đến đón. Đến ngày một tháng mười năm sau thì đến Nam Kinh.

Theo ghi chép trong «Bích nham lục»: “Đạt Ma nhìn từ xa thấy vùng đất này có căn tính của Phật liền quyết định vượt biển đến truyền tâm ấn khai mở; bất lập văn tự, trực chỉ nhân tâm, kiến tính thành Phật”.

Đạt Ma nghe nói Lương Vũ Đế tin Phật pháp liền đến Kim Lăng giảng pháp. Nhưng Lương Vũ Đế không hiểu gì về Phật pháp nên không thể lĩnh ngộ được những lời của Đạt Ma, thế là Đạt Ma liền rời Giang Nam.

Sau đó Đạt Ma lại băng qua Trường Giang lên phương Bắc giảng Phật pháp, ông đứng trên cây lau vượt qua sông Trường Giang, vì thế mà có điển tích “vượt sông bằng cây lau” (nhất vĩ độ giang). Hiện nay, ở Thiếu Lâm Tự có bức điêu khắc bằng đá về điển tích này.

Khi băng qua sông, Đạt Ma đến kinh đô Lạc Dương của Bắc Ngụy, sau đó lên Thiếu Lâm Tự trên núi Tung Sơn và sống suốt 9 năm trong hang đá tu luyện khổ cực.

Tuệ Tâm, theo Secret China

Âm nhạc có thể tiên đoán đại sự trong thiên hạ

Nhiều người biết rằng, đồ ăn giống như dược liệu, bí quyết ẩm thực truyền thống có thể giải quyết rất nhiều bệnh thời hiện đại. Tuy nhiên có mấy ai biết được, tổ tiên của “dược” chính là âm nhạc và âm nhạc còn có thể tiên tri.

 Âm nhạc có thể tiên đoán đại sự trong thiên hạ. Ảnh 1
Âm nhạc có thể phản ánh sự thịnh suy của một triều đại. (Ảnh: Shen Yun)

Ban đầu âm nhạc được sinh ra vì để chữa bệnh. Về điểm này có thể tìm hiểu về Thương Hiệt tạo ra chữ viết, bởi vì chữ “dược” là từ chữ “nhạc” mà sinh ra, ban đầu khi âm nhạc được sinh ra là dùng để chữa bệnh. Có thể nói rằng, âm nhạc chính là là tổ tiên của “dược”.

Trong chữ Hán, chữ “Dược” (藥) xuất phát từ chữ “Nhạc” (樂). Nó phản ánh một điều khó tin nhưng có thực: Chức năng nguyên thủy của âm nhạc là để trị bệnh. Sau này, người ta phát hiện ra rằng một số loại thảo mộc nhất định cũng có thể trị bệnh, nên họ đã thêm bộ “Thảo” (艹), tức là cỏ cây, lên trên chữ “Nhạc”. Từ đó chữ “Dược” ra đời.

Âm nhạc tốt đẹp có thể bồi dưỡng tình cảm sâu đậm, tịnh hóa tâm linh, để con người hưởng thụ được sự mỹ diệu. Càng kỳ diệu hơn chính là âm nhạc của Trung Hoa không chỉ có bề dày lịch sử lâu đời, mà còn ẩn chứa quy luật vận hành của trời đất.

Vì vậy, có rất nhiều nhà âm nhạc thời cổ đại chỉ nghe qua nhạc điệu, có thể dự đoán sự việc sẽ xảy ra trong tương lai, biết trước sự hưng vong của quốc gia. Trong nhạc khúc đó rốt cuộc ẩn chứa điều huyền bí gì mà những nhà âm nhạc này lại có thể giải được giai điệu, dự đoán trước tương lai kia chứ?

Nghe nhạc biết họa phúc, thịnh suy, tồn vong

“Xem xét âm nhạc một quốc gia, có thể biết trạng thái chính trị của quốc gia…”. (Ảnh: Internet)

Trong “Nhạc ký” ghi chép: “Xem xét âm nhạc một quốc gia, có thể biết trạng thái chính trị của quốc gia đó, cũng có thể từ đó biết được nên trị sửa thế nào.

Nhạc thái bình thịnh thế, an tường lại vui vẻ, quốc gia đó nhất định chính trị thông đạt, con người hài hòa.

Nhạc loạn thế, chứa đầy ai oán và phẫn nộ, quốc gia đó nhất định thực hiện các chính sách ngược lòng người trái đạo trời.

Nhạc vong quốc, chứa đầy bi ai và ưu tư, bách tính sẽ rơi vào khốn cảnh tuyệt vọng.

Đạo âm thanh, là tương thông với chính trị. Trong ngũ âm, âm ‘cung’ đại diện cho quân vương, âm ‘thương’ đại diện cho bề tôi, âm ‘giốc’ là dân, âm ‘chủy’ là sự việc, âm ‘vũ’ là vật.

Quân, thần, dân, sự, vật – năm cái này không loạn, thì sẽ không có âm thanh không hài hòa.

Nếu âm ‘cung’ loạn, thì tiếng nhạc hoang loạn, quân vương quốc gia này nhất định ngạo mạn phóng túng vô độ.

Âm ‘thương’ loạn, thì tiếng nhạc khuynh loát, biểu thị quan lại quốc gia này bại hoại.

Thanh ‘giốc’ loạn, thì tiếng nhạc ưu thương, bách tính ắt oán hận nhiều.

Âm ‘chủy’ loạn, thì tiếng nhạc bi ai, quốc gia ắt nhiều sự việc không yên ổn.

Tiếng ‘vũ’ loạn, thì khúc điệu khuynh nguy, biểu thị quốc gia này tài vật kiệt quệ.

Nếu cả 5 âm thanh đều loạn, xâm lăng lẫn nhau, thì gọi là khinh mạn. Quốc gia này cách diệt vong chẳng còn bao xa nữa.

Từ đó có thể thấy, nhạc còn có thể dùng để dự đoán hưng suy tồn vong, họa phúc của một quốc gia, đây cũng là tách ra từ chức năng trị quốc của nhạc mà ra”.

Nhà âm nhạc Vạn Bảo Thường dự ngôn thiên hạ sẽ đại loạn

Vạn Bảo Thường dự đoán chính xác về sự nghiệp của Tùy Dương Đế. (Ảnh qua kakatoutiao.com)

Vào triều Tùy có nhà âm nhạc Vạn Bảo Thường, từ nhỏ đã có tài năng thiên phú về âm nhạc. Có một lần được Thần tiên điểm hóa, truyền thụ cho ông pháp bát âm diễn tấu sắp bị thất truyền, lại còn dạy cho ông âm nhạc đổi thay của các triều đại lịch sử, cũng sửa lại các chỗ sai trong nhạc khúc. Vạn Bảo Thường vì được Tiên nhân truyền thụ, từ đó càng tinh thông các loại âm nhạc có trong nhân gian.

Trong “Tùy thư. Vạn Bảo Thường truyện” có ghi chép: Vào năm đầu khi Tùy Văn Đế khai triều, phái quốc công Trịnh Dịch chỉnh lý lại nhạc phổ và quy chế lễ nghi liên quan âm nhạc trong cung đình, Văn Đế triệu kiến Bảo Thường, hỏi ông âm nhạc mà Trịnh Dịch chỉnh lý có ổn không.

Bảo Thường nói: “Đây là thanh âm vong quốc, không phải âm điệu mà điện hạ nên nghe!”. Ông cực lực phản đối sử dụng loại âm nhạc này. Văn Đế hạ chiếu để Bảo Thường sáng tác nhạc khúc mới, nhưng nhạc khúc mới trang nhã bình thản, con người đương thời đều không thích nghe.

Vạn Bảo Thường từng nghe nhạc khúc diễn tấu ở Đại Thường Tự, sau khi nghe xong thì mắt ông đẫm lệ. Người ta hỏi ông vì sao khóc, Bảo Thường nói: “Tiếng nhạc này phóng đãng mà bi ai, biểu thị rằng thiên hạ không lâu nữa sẽ tàn sát lẫn nhau, hơn nữa con người hầu như bị giết sạch”.

Lúc đó chính là thời kỳ toàn thịnh của triều Tùy, những người nghe Bảo Thường nói lời này đều cho rằng không đúng. Đến khi sự nghiệp Tùy Dương Đế mới được 14 năm, tai họa nổi lên ở bốn phía, quả nhiên đã nghiệm chứng lời của Vạn Bảo Thường.

Lời tiên đoán của nhạc công: Tùy Dương Đế một đi không trở lại

Trong “Thông Điển” ghi chép lại, lúc Tùy Dương Đế đi tuần du Giang Đô, con trai của nhạc công Vương Lệnh Ngôn từ nội cung trở về nhà, đến bên ngoài cửa dùng Tỳ Bà đàn nhạc khúc “An Công Tử”. Vương Lệnh Ngôn nghe xong sắc mặt đột ngột thay đổi, trong lòng hoảng sợ, lập tức khuyên bảo con trai: “Con đừng tùy giá đi Giang Đô. Nhạc khúc này không có âm cung, cung đại biểu cho quân vương, hoàng thượng khẳng định không quay về được”. Sau đó, Tùy Dương Đế quả thật bị giết ở Giang Đô.

Ninh Vương biết trước có loạn thần làm loạn

Trong “Đường Ngữ Lâm” có ghi chép: Cuối năm Khai Nguyên triều Đường, đô đốc phủ Tây Lương hiến dâng nhạc khúc mới, Đường Huyền Tông liền chiêu đãi chư Vương để thưởng thức. Sau khi nhạc khúc chấm dứt, tất cả mọi người nhao nhao chúc mừng, nhưng chỉ có anh cả của Đường Huyền Tông là Ninh Vương im lặng không nói.

Huyền Tông hỏi duyên cớ, Ninh Vương nói: “Làn điệu khúc nhạc này tuy tốt đẹp, nhưng thần nghe nói, một nhạc khúc khởi đầu tại âm cung, kết thúc tại âm thương, ở giữa có các âm giác, chinh, vũ tạo thành, từ đầu đến cuối phải hô ứng cung, thương. Bản nhạc này lúc bắt đầu đã xa rời điệu cung, ở giữa sử dụng rất ít âm chinh, mà điệu thương dùng lộn xộn, có xu hướng tăng cường.

Thần còn nghe nói, trong ngũ âm, cung đại biểu quân vương, thương đại biểu hạ thần, điệu cung không mạnh mẽ tức là thế lực quân vương suy yếu, điệu thương mạnh quá tức là điềm báo có hạ thần làm loạn. Sự việc hiện hình trong âm luật, tản mạn trong tiếng ca, sẽ có một ngày ứng nghiệm trong đời thực. Thần lo sợ có một ngày loạn thần lấn lướt, e rằng điện hạ có nạn lưu ly, đã tiên đoán trong khúc nhạc này rồi!”.

Huyền Tông vốn tinh thông âm luật vừa nghe xong lặng im không nói. Không lâu sau, quả nhiên loạn An Sử (An Lộc Sơn) bùng nổ, chứng thực lời Ninh Vương đã nói.

Văn Thiên Tường nghe “A thứ lai”: Người Nam không phục hưng 

Trong “Chí chính trực ký” ghi chép lại: Triều Nguyên năm 15 (năm 1278), quân Nam Tống bại trận, thừa tướng Văn Thiên Tường bị quân Nguyên áp giải vào kinh. Lúc đó, quân đội Mông Cổ đánh thắng trận, mọi người vui vẻ cùng hát bài “A thứ lai”. Văn Thiên Tường nghe được ca khúc này, trong lòng thấy chấn động, bèn hỏi quan quân Mông Cổ: “Ca khúc này đến từ đâu vậy?”.

Quan quân nói: “Bài hát này đến từ phương Bắc, là bài hát của triều chúng tôi!”. Văn Thiên Tường nghe xong, thở dài nói: “Đây chính là âm Hoàng Chung, người Nam sẽ không thể phục hưng rồi”.

Dùng Hoàng Chung làm cung âm, đại biểu cho quân vương. Văn Thiên Tường nghe được tiếng ca của quân nhân Mông Cổ giống như Hoàng Chung, bởi vậy thở dài rằng vận mệnh triều đại Nam Tống diệt vong như vậy.

Ngũ âm đối ứng với ngũ hành, có ngàn vạn liên hệ với thiên nhiên vạn sự vạn vật. Nhà âm nhạc cổ đại căn cứ theo biến hóa của ngũ âm, nghe âm thanh xem có phải là ngũ âm hài hòa, thuận theo vận hành của trời đất, thì có thể đoán trước được hưng suy tồn vong của một quốc gia.

Trong “Lạc Ký” cũng nói, trạng thái chính trị của một quốc gia, chỉ cần xem âm nhạc của quốc gia này thì có thể biết. Có thể thấy âm nhạc có ảnh hưởng rất lớn đối với xã hội.

Chính như Khổng Tử nói: “Thiên hạ hữu đạo, tắc lễ nhạc chinh phạt, tự thiên tử xuất; thiên hạ vô đạo, tắc lễ nhạc chinh phạt, tự chư hầu xuất” (Thiên hạ có đạo, thì lễ nhạc chinh phạt, từ thiên tử ra; Thiên hạ vô đạo thì lễ nhạc chinh phạt, từ chư hầu ra) cũng là giảng ra âm nhạc nên có đạo lý rất cao nhã.

Liên Hoa, theo SOH

Categories: Nhà Tiên Tri