Chuyên mục: Khám Phá Vũ Trụ

Cơ thể con người là một tiểu vũ trụ kỳ diệu của tạo hóa?

Các trường phái triết học phương Đông nhìn nhận rằng cơ thể người là một tiều vũ trụ, là một bộ phận hữu cơ, đối xứng và đồng nhất với vũ trụ; có cùng bản thể vật lý – tâm linh, tương đồng, liên thông, hoà điệu với vũ trụ.

cơ thể người là một tiểu vũ trụ

Truyện Tam Quốc Diễn Nghĩa, Hồi thứ 103kể:

Đang đêm, Khổng Minh – quân sư nước Thục đang ốm, vẫn ra khỏi lều, ngẩng đầu quan sát thiên văn, ông vô cùng kinh hãi liền vào lều bảo với Khương Duy rằng: “Mệnh ta nội trong sớm tối nay mà thôi!” Duy nói: “Thừa tướng sao lại nói những lời như vậy?”. Khổng Minh nói: “Ta thấy trong sao Tam Đài, sao khách sáng lạn gấp bội, sao chủ u tối, các chòm sao tương phụ nhau, ánh sáng của nó đã mờ tối: thiên tượng như vậy, mệnh ta có thể tự rõ được!”

Cùng lúc đó, Tư Mã Ý—quân sư nước Ngụy đang cố thủ trong một doanh trại khác—bỗng một đêm ngẩng đầu quan sát thiên văn, vô cùng mừng rỡ nói với Hạ Hầu Bá rằng: “Ta thấy sao Tương mất vị trí, Khổng Minh ắt đang mắc bệnh nặng, không lâu sẽ chết.”… Quả nhiên mấy hôm sau Gia Cát Lượng quy tiên.

Không chỉ ở Tam Quốc Diễn Nghĩa, mà trong nhiều cuốn truyện khác đều kể rằng người Trung Hoa cổ đại thường xuyên quan sát thiên văn và các hiện tượng tự nhiên để dự đoán chính xác những biến cố, những vấn đề xảy ra đối với mỗi cá nhân hay của cả đất nước.

Tại sao người Trung Hoa cổ đại có thể làm như vậy? Câu trả lời là giữa con người và vũ trụ có một mối liên hệ hết sức gần gũi.Trong văn hóa truyền thống phương Đông thì cơ thể người được coi là một “tiểu vũ trụ”, có sự kết nối, tương thông với vũ trụ lớn.

Con người đối xứng với vũ trụ

Phát hiện của Leibniz 300 năm trước về phép tích phân đã cho phép nhà vật lý người Hungary Dennis Gabor phát minh ra toàn ảnh (ảnh ba chiều – hologram) vào năm 1948, khám phá này sau đó đã giúp Dennis đoạt giải Nobel. [1]

Thực chất, hologram là một ảnh hai chiều (2D), khi được nhìn dưới những điều kiện chiếu sáng nhất định thì tạo nên một hình ảnh ba chiều (3D) trọn vẹn. Mọi thông tin mô tả vật thể 3D đều được mã hoá trong mặt biên 2D. Như vậy chúng ta có hai thực tại hai chiều và ba chiều tương đương với nhau về mặt thông tin. [2]

Tính chất quan trọng nhất của toàn ảnh (hologram) là nếu chỉ lấy một phần bất kỳ nào của nó, người ta cũng có thể khôi phục được toàn bộ hình ảnh ba chiều của vật. Nghĩa là, theo một khía cạnh nào đó, mỗi phần của toàn ảnh có chứa sự toàn thể.

Sau nhiều năm không hài lòng với cách giải thích các hiện tượng vi mô theo thuyết lượng tử, David Bohm, một trong những nhà vật lý lý thuyết quan trọng nhất của thế ký 20 đi đến kết luận rằng: vũ trụ dường như là một bức toàn ảnh vĩ đại, với mỗi phần trong một toàn thể và một toàn thể lại ở trong mỗi phần. [2]

cơ thể người là một tiểu vũ trụ
(ảnh: phys.org)

Giáo sư khoa học thần kinh Karl Pribram tại Đại học Stanford, Mỹ, tác giả cuốn sách nổi tiếng Các ngôn ngữ của não bộ (Languages of the Brain) đã có các nghiên cứu dẫn đến kết luận quan trọng: trí nhớ không được lưu trữ tại bất kỳ nơi nào trong não bộ, mà bằng một cách nào đó lan truyền và phân bố trong toàn não bộ. Trí nhớ được xem như là những xung lượng thần kinh đan chéo chằng chịt trong não bộ tương tự như những hình ảnh giao thoa tia laser trên một diện tích của toàn ảnh. Nếu như một phần của toàn ảnh có khả năng tái tạo toàn ảnh của một vật, thì mỗi phần của não bộ cũng chứa tất cả thông tin để phục hồi toàn bộ trí nhớ.

Các lý thuyết của Bohm và Pribram đã tạo nên một quan điểm sâu sắc về nhận thức luận đối với thế giới khách quan: toàn bộ vũ trụ là một toàn ảnh, bộ não là một toàn ảnh cuộn vào, trong vũ trụ toàn ảnh (the brain is a hologram enfolded in a holographic universe). [3]

Rộng hơn, mọi thành phần của vũ trụ ở một mức sâu đều liên thông với nhau (interconnectedness) và ngược lại, toàn vũ trụ hiện hữu trong mỗi bộ phận (“whole in every part”). [3]

cơ thể người là một tiểu vũ trụ
GS. Nguyễn Hoàng Phương (ảnh: Internet)

Giáo sư Nguyễn Hoàng Phương (1927-2004), người được coi là “cánh chim đầu đàn” của ngành Vật lý Việt Nam, là người duy nhất và đầu tiên ở Việt Nam sử dụng Đại số tập mờ để nghiên cứu, giải mã và sắp xếp lại Kinh dịch. Trong bộ sách “Tích hợp văn hóa Đông – Tây cho một chiến lược giáo dục tương lai” gồm 5 cuốn sách, dày trên 800 trang, Giáo sư Phương đã luôn khẳng định sự thống nhất, không thể tách rời giữa con người và vũ trụ. Ông cho rằng vũ trụ và con người có sự đối xứng:

“Con người trên hành tinh chúng ta, hay là những “anh em” ở nhiều nơi trong Vũ trụ, theo quan điểm cổ Đông phương, đều là những Vũ trụ con (Tiểu Vũ trụ). Thuật ngữ Tiểu vũ trụ này trong con người không chỉ bao hàm tính phức tạp về cấu trúc, chức năng và quan hệ, mà – trong một chừng mực nào đó – bao hàm tính đối xứng giữa con người chính mình với Vũ trụ. Về cơ bản, con người mang trong lòng nó tất cả các đặc tính cơ bản của Vũ trụ. Một lần nữa, chúng ta thấy thêm một biểu hiện nữa của hiện tượng toàn đồ (toàn ảnh – hologram) là quan điểm của cái bộ phận mang trong lòng nó các đặc tính của cái toàn bộ, như trong quan điểm đơn thể và hợp thể của Lão Tử.” [4]

Quan điểm Thiên – Địa – Nhân hợp nhất

Lão Tử
(Hình minh họa: Qua chuanme)

Lão Tử từng giảng: “Người thuận theo Đất, Đất thuận theo Trời, Trời thuận theo Đạo, Đạo thuận theo Tự nhiên”

Giáo sư Nguyễn Hoàng Phương cho rằng:

“Theo Lão Tử, sự tích hợp giữa con người và vũ trụ là biểu hiện cao nhất của nguyên lý xem mọi bộ phận đều đồng nhất với toàn bộ, cái đơn thể đồng nhất với cái hợp thể, cái đơn thể là hợp thể, cái hợp thể là đơn thể. Tất cả mọi thứ, đến mức tột cùng, đều thành MỘT (người viết: tạm hiểu là khái niệm Thái cực trong lý thuyết Đạo gia), và cái Tôi của chúng ta sẽ là một cái Tôi, chỉ khi nào nó hòa đồng vào tất cả cái Tôi khác. Sự hòa đồng đó của cái Tôi, sự xâm nhập vào nhau giữa tất cả các đơn thể khác nhau đó sẽ tạo nên cái hài hòa của Vũ trụ. Trong Vũ trụ hài hòa đó, mỗi vật đêu chứa đựng mọi vật khác.

Với triết học Lão Tử, con người thuần nhất là con người nào hòa đồng được với Vũ trụ hài hòa, tham gia được vào cái Vũ trụ hài hòa đó. Người đó sẽ tìm thấy cái đơn giản sơ khai, cái nguyên thủy của bản thân mình.” [4]

Ngày nay, các nhà nghiên cứu về trường sinh học của cả phương Tây lẫn phương Đông cho rằng vũ trụ cũng như con người là đồng cấu – giống nhau về cấu tạo và quy luật vận hành, dù ở dạng vật chất hữu hình hay vật chất vô hình, năng lượng hay thông tin, vật lý hay tâm linh. Con người sinh ra từ vũ trụ, trong môi trường vũ trụ, chịu ảnh hưởng cũa vũ trụ không chỉ ở mặt hữu hình, vật lý, mà còn ở dạng năng lượng, thông tin, vật chất vô hình, mang tính tâm linh. [4]

Tiến sỹ Babara Ann Brenna, nguyên chuyên viên khoa học Trung tâm bay thuộc Cơ quan Hàng không Vũ trụ Hoa Kỳ (NASA), chuyên gia trong lĩnh vực trường năng lượng sinh học của con người. Trong cuốn sách “Những bàn tay ánh sáng” (Hands of Light) được giới khoa học nghiên cứu nhân thể và tâm linh đánh giá rất cao, Tiến sỹ Babara qua quan sát hào quang cơ thể người, cho rằng, con người có 7 cơ thể vô hình tương ứng với 7 vầng hào quang và 7 luân xa chính – là những điểm đặc biệt trên cơ thể, khi chúng được khai mở, con người có khả năng thu nhận nguồn năng lượng vô tận từ vũ trụ. [6] 7 cơ thể vô hình bao gồm:

  1. Cơ thể Etheric (liên quan đến hoạt động bản năng, phản xạ và điều khiển tự động của các cơ quan nội tạng)
  2. Cơ thể Cảm xúc (liên quan đến cảm giác như khoái lạc, sợ hãi buồn, giận, lo, vui, tình yêu…)
  3. Cơ thể Tâm thần (liên quan đến tư duy lý tính, phân tích giản đơn)
  4. Cơ thể Tinh tú (liên quan đến cảm xúc yêu thương, không chỉ có vợ chồng mà có cả nhân loại nói chung)
  5. Cơ thể Etheric mẫu (liên quan đến tâm thức biểu hiện dạng ý thức cao cấp về sự vật xuyên qua bề ngoài của chúng)
  6. Cơ thể Thiên (liên quan đến cảm xúc cao cấp như tình thương bao la trùm lên mọi sự sống trong vũ trụ)
  7. Cơ thể Ketheric (liên quan đến các quan điểm cao cấp về tri thức (tổng hợp) và hệ thống đức tin)
Bảy cơ thể vô hình tương ứng với bảy vầng hào quang Babara Anna Brenna nhìn thấy (ảnh: Internet)

Không chỉ có Babara Anna Brenna, một số nhà nghiên cứu và thực hành năng lượng sinh học của con người cũng có nhận định tương tự về các cơ thể vô hình của con người, sự kết nối của năng lượng cơ thể với vũ trụ, như Jack Schwarz trong cuốn sách “Các Hệ Thống Năng Lượng Con Người”; và Rosalyn Bruyère thuộc Trung Tâm Chữa Trị Bằng Ánh Sáng, Glendale, California trong cuốn sách nhan đề “Bánh Xe Ánh Sáng, Công Trình Nghiên Cứu Về Luân Xa.” [6]

Vầng hào quang của cơ thể người mà Babara Anna Brenna nhìn thấy (ảnh: Internet)
Vị trí 7 luân xa chính và 21 luân xa phụ trong cơ thể người, nơi có thể hấp thụ năng lượng từ vũ trụ (ảnh: Internet)

Quỹ đạo chuyển động của vật thể và cấu trúc xoắn của vũ trụ

Khoa học đã phát hiện ra sự tương đồng giữa quỹ đạo chuyển động của các hành tinh và quỹ đạo chuyển động của các vi hạt. Chẳng phải cách mà các hành tinh quay quanh Mặt Trời cũng giống hệt như cách các electron trong cơ thể con người chuyển động quanh hạt nhân nguyên tử hay sao? Những mô thức này tồn tại ở cả vũ trụ vĩ mô và thế giới vi mô.

Câu hỏi đặt ra là ai đã gia lực cho các hành tinh và các electron để chúng có thể tự chuyển động mãi không dừng? Liệu có phải cùng một tác giả đã tạo ra cả thế giới vĩ mô và vi mô theo cùng một cơ chế?

Ngoài ra, ta còn thấy các thiên hà trong vũ trụ đều có mô hình xoắn ốc, các cơn bão, cơn lốc, vòi rồng hay các dòng hải lưu cũng tồn tại dưới hình xoắn ốc.

Các nhà nghiên cứu nhân thể học cũng phát hiện rằng ở con người, tồn tại rất nhiều đường xoắn ốc, như đường xoắn ốc trong bào thai, đường xoắn ốc của tai, đường xoắn ốc của chuỗi phân tử AND…

(ảnh qua Meinbezirk.at)

Nhận xét về chuyển động xoắn ốc của vũ trụ, Giáo sư Nguyễn Hoàng Phương cho rằng vũ trụ như một dòng nước đang cuồn cuộn chảy, ở đây có hàng triệu cơn xoắn lốc. Mỗi vật thể, kể cả con người, không có cái nào vĩnh hằng, mọi thứ đều đang thay đổi, tạo nên những quá trình xoắn lốc tán rồi tụ, tụ rồi tán…[4]

Ngũ hành cấu tạo nên vạn vật và cũng cấu tạo nên cơ thể người

Khoa học cổ đại Trung Quốc cho rằng ngũ hành (Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ) cấu tạo nên vạn sự vạn vật.

Sơ đồ tương sinh tương khắc của ngũ hành
Ngũ hành và ngũ tạng

Các thầy thuốc Đông y ngày xưa tin vẫn dựa vào cơ chế ngũ hành tương sinh, tương khắc để điều trị rất nhiều căn bệnh và các triệu chứng phức tạp mà Tây y không không thể giải tích, ví dụ:

Ứng dụng trong Triệu chứng học: Căn cứ vào Bảng quy loại của Ngũ hành (Bảng 1), người ta phân loại triệu chứng bệnh để xem xét mối quan hệ của các triệu chứng ấy theo qui luật của Ngũ hành. Thí dụ: Can (gan) có quan hệ với Đởm (mật), chịu trách nhiệm hoạt động của gân cơ (chủ cân), tình trạng công năng của can thể hiện ra mắt (khai khiếu ra mắt), móng tay móng chân (vinh nhuận ra móng), có liên quan đến tính khí giận dữ… Do đó, các triệu chứng co giật, mắt đỏ, móng khô, nóng tính bất thường,… là triệu chứng của Can, vì Đởm, gân cơ, mắt, móng, tính khí giận dữ… tất cả đều cùng thuộc Hành Mộc.

Ứng dụng vào việc điều trị bệnh: Điều trị bệnh chủ yếu dựa vào nguyên tắc: “Con hư bổ mẹ, mẹ thực tả con”. Thí dụ: Phế yếu (Phế Hư) phải làm mạnh Tỳ Vị lên (Kiện Tỳ) gọi là nguyên tắc Bồi Thổ sinh Kim. Nguyên tắc này được ứng dụng nhiều nhất trong lĩnh vực Châm cứu…

Nguồn gốc vũ trụ của con người?

Không chỉ ở phương Đông, ở phương Tây, các nhà chiêm tich học trong lịch sử cũng quan sát thiên văn để dự đoán về các biến đổi ở nhân gian.

Điều này chứng tỏ, văn hóa cả phương Tây và phương Đông đều cho rằng giữa con người và vũ trụ có một mối liên hệ đặc biệt. Vậy mối liên hệ ấy do đâu mà có?

Trong cuốn sách có tựa đề “Con người không đến từ Trái Đất: Sự đánh giá của khoa học về chứng cứ”, Tiến sĩ Ellis Silver, đã đưa ra giả thuyết rằng nguồn gốc của con người không phải là ở địa cầu mà thuộc về những nơi xa xôi nào đó trong vũ trụ. [7]

Cuốn sách “Con người không đến từ Trái Đất: Sự đánh giá của khoa học về chứng cứ” của Ellis Silver (ảnh: amazon.com)

Trả lời phỏng vấn, Ellis Silver cho biết, những nhược điểm sinh học của loài người “tố cáo” rằng họ vốn không phải được sinh ra trên Trái Đất này. “Nhân loại là giống loài tiến hóa nhất trên hành tinh xanh, nhưng bất ngờ là họ không thích hợp và yếu ớt trước môi trường Trái Đất: dễ bị ánh nắng tổn hại, đặc biệt không thích những thực phẩm mọc hoang, có tỷ lệ mắc bệnh kinh niên cao và nhiều thứ khác nữa.”

Trong cuốn sách, Tiến sĩ Silver cũng đề cập đến một điểm đặc biệt: nhiều người thường nghĩ rằng họ không thuộc về Trái Đất, và Trái Đất dường như không phải là nhà của họ.

Theo một nghiên cứu được công bố trên Kỷ yếu của Viện hàn lâm Khoa học Quốc Gia, Hoa Kỳ, các nhà khoa học đã phát hiện 19 đoạn ADN, tương đương 8% số ADN của chúng ta không có nguồn gốc của con người. Những đoạn mã gen kỳ lạ này không được mã hóa, không thuộc nguồn gốc nào trên Trái Đất, hơn nữa chúng cũng không có sơ đồ tiến hóa thường thấy như ở ADN người. Khi các nhà khoa học cố định lại, các đoạn mã ADN ngoại lai này giữ nguyên tình trạng, không hề thay đổi. Những mã gen này được gọi là ADN ngoài hành tinh. [8]

Nhóm chuyên gia ở Đại học Cardiff (Anh) do giáo sư Chandra Wickramasinghe đứng đầu trong quá trình nghiên cứu đã đi đến kết luận rằng loài người có nguồn gốc ngoài Trái đất và thuộc về một nhánh của các sinh mệnh ngoài hành tinh. Báo cáo của ông và các đồng sự được viết trong cuốn sách: “Our Cosmic Ancestry in the Stars – Tổ tiên vũ trụ của chúng ta trong các ngôi sao”. [9]

Đổng Trọng Thư (179 TCN – 104 TCN) một đại diện tiêu biểu của Nho học Trung Quốc cho rằng Trời sinh ra người, Trời dựa theo cấu tạo của bản thân mà sáng tạo ra người. Điều này cũng tương hợp với các truyền thuyết dân gian của các dân tộc trên thế giới, hay các điển tích của tín ngưỡng và tôn giáo (Do Thái Giáo, Thiên Chúa Giáo, tín ngưỡng Nữ Oa thần, kinh Vệ Đà) với thuyết cho rằng các vị thần đã tạo ra thân thể con người dựa trên hình dáng bản thân mình và truyền cấp cho con người ý thức/linh hồn/nguyên thần để làm chủ cái thân thể đó. [7]

Đây có lẽ là nguyên nhân vì sao mà con người và vũ trụ có một mối liên hệ hết sức hữu cơ.

Tìm hiểu nghệ thuật Phục Hưng kỳ I: Nhà nguyện Sistine và bức "Chúa trời tạo ra Adam"
Bức “Chúa trời tạo ra Adam” (Ảnh: Wikipedia)

Liệu con người có thể quay về với vũ trụ?

Quan điểm “con người là một tiểu vũ trụ” là một quan niệm sâu sắc, ở đó con người và vũ trụ có sự đối ứng, con người là một bộ phận của vũ trụ, tương thông, hòa điệu cùng với vũ trụ và có nguồn gốc từ vũ trụ. Vậy, câu hỏi đặt ra ở đây là, nếu con người là một tiểu vũ trụ, thì tiểu vũ trụ ấy được tạo ra vì mục đích gì?

Theo tiến sĩ Silver, có thể Trái Đất là một hành tinh đóng vai trò như “nhà tù”, do con người dường như là loài có khuynh hướng bạo lực một cách tự phát, nên phải bị đày đến đây để học cách cư xử đúng đắn hơn.

Hầu hết các tín ngưỡng, tôn giáo đều cho rằng con người luân hồi trong thế giới này là sống trong mê (bị mất đi ký ức xa xưa, quên mất mình là ai) và phải chịu khổ.

Một môn khí công trường phái Phật gia cho rằng con người thuần khiết, lương thiện vốn được sinh ra trong vũ trụ, nhưng do họ biến chất trở nên xấu nên mới bị rớt xuống trái đất này để chịu tội khổ, và việc thực hành tu luyện “phản bổn quy chân” sẽ giúp cho họ khai mở trí huệ, được giải thoát, có thể trở về với “thiên quốc” – nơi họ đã sinh ra trong vũ trụ, đây chính là mục đích tồn tại chân chính của sinh mệnh con người. [10]

(ảnh: Shutterstock)

Thời cổ đại có không ít cao nhân, kỳ nhân có khả năng tiên đoán chính xác được sự tình sắp xảy ra trong tương lai. Họ trên tinh thông thiên văn dưới tường địa lý, liệu sự như thần. Những cao nhân, kỳ nhân ấy lại không phải những chuyên gia, học giả nơi thế gian con người mà hầu hết họ đều là những ẩn sĩ, thế ngoại cao nhân đã trải qua quá trình tu luyện lâu dài. Quân sư Gia Cát Lượng được đề cập đến trong phần đầu của bài viết cũng chính là một người tu Đạo. [11]

Tu luyện chính là nâng cao đạo đức, loại bỏ những tư tưởng xấu trong tâm con người, khi tâm của một người thực sự đạt đến mức độ thuần tịnh (sạch sẽ, không bị hỗn tạp) thì trí huệ của họ sẽ được khai sáng. Kỳ thực, tu luyện cũng chính là khoa học siêu thường, vượt trên khoa học thực chứng hiện đại. Đây là nền khoa học dựa trên tiêu chuẩn đạo đức cao thượng, nghiên cứu trực tiếp vào nhân thể, sinh mệnh và vũ trụ, có thể mang đến những thành tựu vượt bậc cho xã hội con người và cũng khiến cho con người có thể câu thông với vũ trụ và trở về thế giới ban đầu của mình trong vũ trụ bao la. [10]

Kết luận

Các trường phái triết học phương Đông nhìn nhận rằng cơ thể người là một tiều vũ trụ, là một bộ phận hữu cơ, đối xứng vàđồng nhất với vũ trụ; có cùng bản thể vật lý – tâm linh, tương đồng, liên thông, hoà điệu với vũ trụ. Những nghiên cứu về toàn ảnh, thuyết Thiên – Địa – Nhân hợp nhất, cấu trúc xoắn của vũ trụ và thuyết ngũ hành bên trên đã làm sáng tỏ luận điểm này.

Khi nhìn nhận con người là một tiểu vũ trụ, ta có thể có được giải thích về nguồn gốc vũ trụ của con người đồng thời cũng có được lý giải về mục đích tồn tại của con người – vốn vẫn là ẩn đố nhân sinh lớn nhất của nhân loại.

Chỉ khi nào con người không coi mình là tâm điểm của vũ trụ, không bằng mọi giá để chiến thắng và cải tạo thiên nhiên, mà hòa mình vào với thiên nhiên, đồng thời cải biến bản thân thì con người mới có được hiểu biết minh triết về bản thân mình và vũ trụ.

Thiện Tâm tổng hợp

Tài liệu tham khảo:

  • [1] N. Rescher,”G. W. Leibniz’s Monadology,” University of Pittsburgh Press, 1991.
  • [2] Quantum questions: “Mystical Writings of the World’s Great Physicists”, edited by Ken Wilber, 2001.
  • [3] GS-TS. Cao Chi, “Thi sĩ William Blake và vũ trụ toàn ảnh”
  • [4] Nguyễn Hoàng Phương, “Tích hợp văn hóa Đông Tây cho một chiến lược giáo dục tương lai”, NXB GD 1995
  • [6] Babara Ann Brenna, “Những bàn tay ánh sáng“
  • [7] Nguồn gốc của con người không phải từ trái đất – TTVN, 10/07/2018
  • [8] Julia Halo Wildschuttea, Zachary H. Williamsb, Meagan Montesionb , Ravi P. Subramanianb , Jeffrey M. Kidda,c, and John M. Coffinb: “Discovery of unfixed endogenous retrovirus insertions in diverse human populations”,https://www.pnas.org
  • [9] Ph.D., Chandra Wickramasinghe (Author), Kamala Wickramasinghe (Author), & 1 more,”Our Cosmic Ancestry in the Stars: The Panspermia Revolution and the Origins of Humanity”
  • [10] Sách Chuyển Pháp Luân,http://vi.falundafa.org
  • [11] “Nhân loại và văn hóa Tu luyện”, TTVN, 25/1/2019

Xem thêm :

Categories: Vũ Trụ Kỳ Ảo

Một nền văn minh vượt bật Trái đất đã từng tồn tại trên Sao Hỏa ?

Nền văn minh tồn tại trên Sao Hỏa đã là chủ đề tranh cãi nhiều thập kỷ qua, bởi đã xuất hiện nhiều hình ảnh về các phế tích, các kiến trúc có hình dáng kim tự tháp, cho đến số lượng lớn những người có danh tiếng đã bước ra tiết lộ thông tin, thậm chí cho rằng từng tồn tại các nền văn minh trên hành tinh đỏ.

Vì sao người ta cho rằng có thể đã từng tồn tại nền văn minh trên sao Hỏa?
(ảnh: NASA/JPL/Corby Waste)

Trong những năm qua, sao Hỏa đã hé lộ nhiều bí mật khiến chúng ta phải chú ý tới hành tinh này. Có vô số khám phá đã được thực hiện trên bề mặt của sao Hỏa, nhưng lại mang đến cho chúng ta nhiều câu hỏi hơn về hành tinh láng giềng của Trái Đất.

Những vệ tinh kỳ lạ của sao Hỏa

“Một ngày” trên sao Hỏa dài 24 giờ và 37 phút. Sao Hỏa có 2 vệ tinh mà một số nhà khoa học tuyên bố chúng là sản phẩm nhân tạo được phóng lên từ xa xưa và được một nền văn minh tiên tiến ngoài Trái Đất sử dụng như là các trạm không gian.

Một trong những lập luận chính ủng hộ giả thuyết “điên rồ” này là: một trong những vệ tinh của sao Hỏa có tên Phobos đang chuyển động nhanh gấp 4 lần bản thân hành tinh này.

Vì sao người ta cho rằng có thể đã từng tồn tại nền văn minh trên sao Hỏa?
Phobos, vệ tinh hình củ khoai tây chuyển động hơn 3 vòng quanh sao Hỏa mỗi ngày (ảnh: Wikipedia.org)

Điều này rất kỳ lạ bởi vì không có một vệ tinh tự nhiên mà chúng ta đã từng biết có vận tốc cao hơn hành tinh mẹ.

Một yếu tố khác mà các nhà nghiên cứu không thể giải thích là hiện tượng một vệ tinh của sao Hỏa lại giảm vận tốc khi di chuyển ra xa khỏi sao Hỏa.

Thật thú vị, theo Tiến sĩ S. Fred Singer, cố vấn đặc biệt cho cựu Tổng thống Hoa Kỳ Eisenhower, Phobos có thể là một vệ tinh nhân tạo phóng lên quỹ đạo một thời gian dài trước đây bởi một nền văn minh sao Hỏa tiên tiến.

Tuy nhiên, ông Singer không phải là người đầu tiên thấy những biểu hiện lạ của các mặt trăng sao Hỏa. Những tuyên bố đầu tiên được đưa ra bởi nhà vật lý thiên văn người Xô Viết Iosif Samuilovich Shklovsky, ông tin rằng có thiết kế thông minh hiện diện trên Phobos.

(ảnh: ancient-code.com)

Những công trình đáng ngờ

Buzz Aldrin, người thứ hai đặt chân lên mặt trăng, đã làm ngạc nhiên nhiều người qua tuyên bố: “Chúng ta nên đến thăm mặt trăng của sao Hỏa, có một khối cự thạch ở đó, một kiến trúc rất bất thường trên vật thể hình củ khoai tây xoay quanh sao Hỏa với chu kỳ 7 giờ/vòng. Khi người ta nhìn thấy nó, họ sẽ hỏi, ‘Ai đã đặt nó ở đó? Ai đã đặt nó ở đó?” Vâng, vũ trụ đặt nó ở đó, hoặc bạn cũng có thể nói Chúa đặt nó ở đó.”

Vì sao người ta cho rằng có thể đã từng tồn tại nền văn minh trên sao Hỏa?
(ảnh: ancient-code.com)

Những bí ẩn xung quanh sao Hỏa và vệ tinh của nó là rất nhiều, nhưng những phát hiện kỳ ​​lạ nhất lại nằm trên bề mặt hành tinh này.

Một số hình ảnh của NASA chụp trên bề mặt sao Hỏa, đã gây tranh cãi lớn. Nhiều nhà nghiên cứu và tìm kiếm người ngoài hành tinh đã tuyên bố tìm thấy bằng chứng về cây cối, nước, kim tự tháp, đường ống, các tòa nhà bí ẩn và vật thể, vô số những điều dị thường mà đáng lẽ không nên ở đó.

Vì sao người ta cho rằng có thể đã từng tồn tại nền văn minh trên sao Hỏa?
(ảnh: ancient-code.com)
Vì sao người ta cho rằng có thể đã từng tồn tại nền văn minh trên sao Hỏa?
(ảnh: ufosightingsdaily.com)
Vì sao người ta cho rằng có thể đã từng tồn tại nền văn minh trên sao Hỏa?
(ảnh: ufosightingsdaily.com)

Những nhà nghiên cứu người ngoài hành tinh tuyên bố rằng NASA đã thay đổi màu trong ảnh sao Hỏa để che giấu bầu trời của nó và các điều kiện khí quyển giống như Trái Đất.

Nhiều người tin rằng chúng ta không được cung cấp đầy đủ thông tin về sao Hỏa, và sự thật đã bị giấu kín.

Nam tước William Cooper và John Lear đã cáo buộc NASA che giấu thông tin về sao Hỏa trong một văn kiện được ký kết vào năm 1989 với Tổng thống Bush.

Một nhân vật nổi bật khác đã có những tuyên bố đáng kinh ngạc là Gordon Novel, cựu thành viên của bộ quốc phòng Hoa Kỳ. Ông nói rằng cả NASA và chính phủ Hoa Kỳ đã đưa con người đến sao Hỏa trong nhiều năm trước.

Video về những tàn tích của các bức tường trên sao Hỏa:

Theo những tin rò rỉ “nội bộ”, NASA đang sử dụng tàu vũ trụ hình nón, chúng chỉ mất 33 giờ để tới được sao Hỏa và con người đã khai thác được năng lượng vĩnh cửu trong hơn 60 năm.

Tiến sĩ O’Leary, người đã trở thành giáo sư Vật lý danh tiếng tại Đại học Princeton sau khi rời khỏi NASA, đã từng nói: “Có nhiều bằng chứng cho thấy chúng ta đang được người ngoài hành tinh liên lạc. Các nền văn minh đã theo dõi chúng ta trong một thời gian rất dài và sự xuất hiện của họ là kỳ quặc khi xét từ quan điểm duy vật truyền thống của phương Tây.”

(ảnh qua: ancient-code.com)

“Có những cấu trúc trên bề mặt sao Hỏa. Tôi sẽ cho bạn biết rằng có ghi nhận được những cấu trúc bên dưới bề mặt của sao Hỏa mà các máy quay trên tàu Voyager năm 1976 không thể nhìn thấy. Tôi cũng sẽ nói với bạn rằng có những cỗ máy trên bề mặt của sao Hỏa và có những cỗ máy bên dưới bề mặt mà bạn có thể thấy, bạn có thể tìm hiểu chi tiết, bạn có thể nhìn thấy chúng là gì, chúng ở đâu, chúng là ai và rất nhiều chi tiết về chúng.” (Dolan, Richard. Sách “UFOs và Tình hình An ninh Quốc gia”, NXB Richard Dolan)

Theo ancient-code,
Thiện Tâm tổng hợp

Xem thêm :

Trái Đất rỗng? Các nhà khoa học tìm thấy những ngọn núi và đồng bằng sâu 660km bên dưới bề mặt

Trái Đất rỗng? Các nhà khoa học tìm thấy những ngọn núi và đồng bằng sâu 660km bên dưới bề mặt
Các nhà địa chấn học đã tìm thấy những ngọn núi và đồng bằng mịn nằm sâu trong lòng Trái Đất.
Ở trường chúng ta được dạy rằng Trái đất được chia thành ba lớp đó là lớp vỏ, lớp phủ (manti), lớp lõi (bao gồm lõi ngoài lỏng và lõi trong rắn).

Mặc dù đây là một sự sắp xếp cơ bản và tương đối chính xác, nhưng cách sắp xếp này đã vô tình loại bỏ các lớp cấu tạo thành phần tinh vi khác mà các nhà khoa học hiện đã bắt đầu xác định được tại phần sâu bên trong của hành tinh chúng ta.

Một nhóm các nhà địa chất đã phát hiện ra một lớp chưa từng được biết đến ở giữa lớp phủ của Trái đất, với tính chất rất giống lớp bề mặt. Nghiên cứu mới được công bố trên Tạp chí Khoa học ( Journal of Science ), tác giả là hai nhà địa vật lý Jessica Irving và Wenbo Wu thuộc Đại học Princeton , hợp tác với Sidao Ni từ Viện Đo đạc và Địa vật lý Trung Quốc. Nghiên cứu mô tả cách thức các nhà nghiên cứu sử dụng dữ liệu từ sóng địa chấn của một trận động đất lớn ở Bolivia (Nam Mỹ) để xác định vị trí một khu vực mới bên trong Trái đất ở độ sâu 660 km, một khu vực đã khiến họ không nói nên lời. Nơi đây có cả một dãy núi và đồng bằng, rất giống với những khu vực trên bề mặt hành tinh.
Để có thể nhìn sâu vào bên trong lòng đất, các nhà nghiên cứu đã phải sử dụng đến những đợt sóng mạnh nhất từng ghi nhận trên hành tinh – sóng địa chấn được tạo ra bởi các trận động đất cỡ lớn.
Đồng tác giả nghiên cứu Irving, phó giáo sư khoa học địa chất cho biết:
“Bạn muốn một trận động đất lớn và đủ sâu để khiến cả hành tinh rung chuyển.”


Trận động đất lớn ở Bolivia năm 1994 hé lộ những dãy núi 660 km dưới bề mặt. Ảnh: YouTube
Đối với nghiên cứu cụ thể này, dữ liệu quan trọng được thu thập từ sóng địa chấn sau trận động đất mạnh 8.2 độ Richter (trận động đất mạnh thứ hai từng được ghi nhận trong trong lịch sử), đã làm rung chuyển Bolivia vào năm 1994.
Irving cho biết thêm:
“Những trận động đất lớn kiểu này không diễn ra thường xuyên. Chúng ta hiện giờ rất may mắn vì chúng ta có nhiều máy đo địa chấn hơn so với 20 năm trước. So với 20 năm trước, địa chấn giờ đã là một lĩnh vực vô cùng khác biệt, về cả công cụ đo đạc cũng như khả năng xử lý dữ liệu.
Nhưng nếu chỉ có dữ liệu thôi thì không giải quyết được vấn đề nếu bạn không biết cách sử dụng chúng.

Đó là lý do tại sao các nhà khoa học sử dụng nhóm siêu máy tính Tiger từ Đại học Princeton để mô phỏng hành vi phức tạp của sóng địa chấn rải rác ở sâu trong lòng Trái đất.

Nhà địa chấn học Princeton Jessica Irving, phó giáo sư ngành khoa học địa chất, cầm trên tay hai thiên thạch từ bộ sưu tập của Đại học Princeton, hai thiên thạch này có chứa sắt được cho là từ sâu bên trong lòng Trái Đất. Irving sử dụng phép đo địa chấn để khám phá bên trong hành tinh chúng ta, gần đây cô đã tìm thấy một địa hình gồ ghề có kích thước quả núi trên ranh giới 660 km của vùng chuyển tiếp của lớp phủ. Ảnh: Denise Applewhite, Đại học Princeton
Công nghệ được áp dụng cho phân tích này phụ thuộc gần như hoàn toàn vào một thuộc tính duy nhất của sóng: khả năng uốn cong và bật nảy.
Do đó, theo cách thức tương tự, sóng ánh sáng có thể bật nảy (phản xạ) trong gương hoặc uốn cong (khúc xạ) khi chúng đi qua lăng kính, sóng địa chấn truyền trực tiếp qua đá đồng nhất nhưng bị phản xạ hoặc khúc xạ khi đạt tới giới hạn hoặc độ nhám nhất định.
Wu – tác giả chính của bài báo mới, người vừa bảo vệ tiến sĩ ngành khoa học địa chất của mình và hiện là một nhà nghiên cứu sau tiến sĩ tại Viện Công nghệ California cho hay:

“Chúng tôi biết rằng hầu hết tất cả các vật thể đều có độ nhám bề mặt và do đó tán xạ ánh sáng. Đó là lý do tại sao chúng ta có thể nhìn thấy những vật thể này – những sóng tán xạ mang thông tin về độ nhám của bề mặt. Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã điều tra các sóng địa chấn rải rác di chuyển bên trong Trái đất để hạn chế sự gồ ghề của ranh giới sâu 660 km trong lòng trái đất”.
Các nhà khoa học đã bị choáng váng bởi sự gồ ghề của ranh giới này. Theo cách họ giải thích, nó cứng hơn lớp bề mặt chúng ta đang sống.
Wu giải thích:
“Nói cách khác, địa hình này mạnh hơn dãy núi Rocky hay dãy Appalachia tồn tại ở ranh giới 660 km.”
Tuy rằng nghiên cứu mới chắc chắn mô tả một trong những khám phá giật gân nhất được thực hiện bên dưới bề mặt chúng ta, mô hình thống kê của họ không cung cấp một cái nhìn sâu sắc cho phép xác định chính xác chiều cao. Tuy vậy, các nhà khoa học cho biết có khả năng một số ngọn núi ngầm dưới đất này lớn hơn bất cứ thứ gì chúng ta đã từng nhìn thấy trên bề mặt hành tinh.

Họ cho biết sự gồ ghề cũng không hoàn toàn phân bổ đồng đều. Theo các nhà khoa học, giống như bề mặt lớp vỏ Trái đất có phần đáy đại dương mịn và những ngọn núi lớn, phần ranh giới 660 km dưới chân chúng ta có những khu vực gồ ghề và những mảng phẳng, nhẵn. Ảnh: ĐKN

Các nhà địa chấn học đã tìm thấy những ngọn núi và đồng bằng mịn nằm sâu trong lòng Trái Đất.

Ở trường chúng ta được dạy rằng Trái đất được chia thành ba lớp đó là lớp vỏ, lớp phủ (manti), lớp lõi (bao gồm lõi ngoài lỏng và lõi trong rắn).

Trái Đất rỗng? Các nhà khoa học tìm thấy những ngọn núi và đồng bằng sâu 660km bên dưới bề mặt
Cấu tạo Trái Đất. Ảnh: mawdoo3.com

Mặc dù đây là một sự sắp xếp cơ bản và tương đối chính xác, nhưng cách sắp xếp này đã vô tình loại bỏ các lớp cấu tạo thành phần tinh vi khác mà các nhà khoa học hiện đã bắt đầu xác định được tại phần sâu bên trong của hành tinh chúng ta.

Một nhóm các nhà địa chất đã phát hiện ra một lớp chưa từng được biết đến ở giữa lớp phủ của Trái đất, với tính chất rất giống lớp bề mặt. Nghiên cứu mới được công bố trên Tạp chí Khoa học ( Journal of Science ), tác giả là hai nhà địa vật lý Jessica Irving và Wenbo Wu thuộc Đại học Princeton , hợp tác với Sidao Ni từ Viện Đo đạc và Địa vật lý Trung Quốc. Nghiên cứu mô tả cách thức các nhà nghiên cứu sử dụng dữ liệu từ sóng địa chấn của một trận động đất lớn ở Bolivia (Nam Mỹ) để xác định vị trí một khu vực mới bên trong Trái đất ở độ sâu 660 km, một khu vực đã khiến họ không nói nên lời. Nơi đây có cả một dãy núi và đồng bằng, rất giống với những khu vực trên bề mặt hành tinh.

Để có thể nhìn sâu vào bên trong lòng đất, các nhà nghiên cứu đã phải sử dụng đến những đợt sóng mạnh nhất từng ghi nhận trên hành tinh – sóng địa chấn được tạo ra bởi các trận động đất cỡ lớn.

Đồng tác giả nghiên cứu Irving, phó giáo sư khoa học địa chất cho biết:

“Bạn muốn một trận động đất lớn và đủ sâu để khiến cả hành tinh rung chuyển.”

Trái Đất rỗng? Các nhà khoa học tìm thấy những ngọn núi và đồng bằng sâu 660km bên dưới bề mặt
Trận động đất lớn ở Bolivia năm 1994 hé lộ những dãy núi 660 km dưới bề mặt. Ảnh: YouTube

Đối với nghiên cứu cụ thể này, dữ liệu quan trọng được thu thập từ sóng địa chấn sau trận động đất mạnh 8.2 độ Richter (trận động đất mạnh thứ hai từng được ghi nhận trong trong lịch sử), đã làm rung chuyển Bolivia vào năm 1994.

Irving cho biết thêm:

“Những trận động đất lớn kiểu này không diễn ra thường xuyên. Chúng ta hiện giờ rất may mắn vì chúng ta có nhiều máy đo địa chấn hơn so với 20 năm trước. So với 20 năm trước, địa chấn giờ đã là một lĩnh vực vô cùng khác biệt, về cả công cụ đo đạc cũng như khả năng xử lý dữ liệu.

Nhưng nếu chỉ có dữ liệu thôi thì không giải quyết được vấn đề nếu bạn không biết cách sử dụng chúng.

Đó là lý do tại sao các nhà khoa học sử dụng nhóm siêu máy tính Tiger từ Đại học Princeton để mô phỏng hành vi phức tạp của sóng địa chấn rải rác ở sâu trong lòng Trái đất.

Trái Đất rỗng? Các nhà khoa học tìm thấy những ngọn núi và đồng bằng sâu 660km bên dưới bề mặt
Nhà địa chấn học Princeton Jessica Irving, phó giáo sư ngành khoa học địa chất, cầm trên tay hai thiên thạch từ bộ sưu tập của Đại học Princeton, hai thiên thạch này có chứa sắt được cho là từ sâu bên trong lòng Trái Đất. Irving sử dụng phép đo địa chấn để khám phá bên trong hành tinh chúng ta, gần đây cô đã tìm thấy một địa hình gồ ghề có kích thước quả núi trên ranh giới 660 km của vùng chuyển tiếp của lớp phủ. Ảnh: Denise Applewhite, Đại học Princeton

Công nghệ được áp dụng cho phân tích này phụ thuộc gần như hoàn toàn vào một thuộc tính duy nhất của sóng: khả năng uốn cong và bật nảy.

Do đó, theo cách thức tương tự, sóng ánh sáng có thể bật nảy (phản xạ) trong gương hoặc uốn cong (khúc xạ) khi chúng đi qua lăng kính, sóng địa chấn truyền trực tiếp qua đá đồng nhất nhưng bị phản xạ hoặc khúc xạ khi đạt tới giới hạn hoặc độ nhám nhất định.

Wu – tác giả chính của bài báo mới, người vừa bảo vệ tiến sĩ ngành khoa học địa chất của mình và hiện là một nhà nghiên cứu sau tiến sĩ tại Viện Công nghệ California cho hay:

“Chúng tôi biết rằng hầu hết tất cả các vật thể đều có độ nhám bề mặt và do đó tán xạ ánh sáng. Đó là lý do tại sao chúng ta có thể nhìn thấy những vật thể này – những sóng tán xạ mang thông tin về độ nhám của bề mặt. Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã điều tra các sóng địa chấn rải rác di chuyển bên trong Trái đất để hạn chế sự gồ ghề của ranh giới sâu 660 km trong lòng trái đất”.

Các nhà khoa học đã bị choáng váng bởi sự gồ ghề của ranh giới này. Theo cách họ giải thích, nó cứng hơn lớp bề mặt chúng ta đang sống.

Wu giải thích:

“Nói cách khác, địa hình này mạnh hơn dãy núi Rocky hay dãy Appalachia tồn tại ở ranh giới 660 km.”

Tuy rằng nghiên cứu mới chắc chắn mô tả một trong những khám phá giật gân nhất được thực hiện bên dưới bề mặt chúng ta, mô hình thống kê của họ không cung cấp một cái nhìn sâu sắc cho phép xác định chính xác chiều cao. Tuy vậy, các nhà khoa học cho biết có khả năng một số ngọn núi ngầm dưới đất này lớn hơn bất cứ thứ gì chúng ta đã từng nhìn thấy trên bề mặt hành tinh.

Họ cho biết sự gồ ghề cũng không hoàn toàn phân bổ đồng đều. Theo các nhà khoa học, giống như bề mặt lớp vỏ Trái đất có phần đáy đại dương mịn và những ngọn núi lớn, phần ranh giới 660 km dưới chân chúng ta có những khu vực gồ ghề và những mảng phẳng, nhẵn.

Xem thêm:

Categories: Vũ Trụ Kỳ Ảo

Lần đầu tiên quan sát được sự va chạm của các lỗ đen khổng lồ trong quá trình sáp nhập thiên hà

Các nhà thiên văn học lần đầu tiên quan sát được giai đoạn cuối cùng của một vụ sáp nhập thiên hà, nhìn qua các bức tường khí và bụi dày để thấy các cặp hố đen khổng lồ kéo lại gần nhau hơn và nở lớn nhanh chóng.

Theo Space.com, tại các trung tâm của hầu hết các thiên hà là những hố đen siêu lớn với khối lượng gấp hàng triệu đến hàng tỷ lần Mặt trời. Ví dụ, ở trung tâm dải ngân hà của chúng ta là Sagittarius A * lớn gấp khoảng 4,5 triệu khối lượng mặt trời.

Công trình trước đây cho thấy việc sáp nhập các thiên hà có thể giúp thúc đẩy sự tăng trưởng của các lỗ đen siêu lớn. Nghiên cứu đó gợi ý rằng các lỗ đen ở khu vực trung tâm thiên hà va chạm có thể kết hợp để trở thành những hố đen lớn hơn. 

Vụ sáp nhập của các thiên hà có khả năng mang lại cho các lỗ đen siêu lớn nhiều cơ hội để tách rời các ngôi sao và nuốt chửng vật chất . Sự hủy diệt như vậy giải phóng lượng ánh sáng phi thường và có khả năng đóng vai trò là động lực đằng sau các chuẩn tinh (quasar) , một trong số những vật thể sáng nhất trong vũ trụ.

Một số ảnh chụp các thiên hà đang hợp nhất (Ảnh: NASA)

Trong khi một số nghiên cứu đã chỉ ra mối liên hệ giữa các quasar và việc  sáp nhập của các thiên hà, một số nghiên cứu khác đã không tìm thấy mối liên hệ nào như vậy.

Một giải thích khả dĩ cho sự thiếu liên kết rõ ràng giữa các quasar và các thiên hà hợp nhất là khí và bụi xoáy quanh các thiên hà này có khả năng làm che khuất các hố đen. Điều này sẽ đúng ngay cả trong giai đoạn đầu của vụ sáp nhập, khi các thiên hà được phân cách bởi hơn 16.000 năm ánh sáng. 

Bây giờ, các nhà nghiên cứu đã quan sát thấy một vài thiên hà trong các giai đoạn cuối của quá trình sáp nhập, các lỗ đen siêu lớn của chúng kéo gần hơn. Những phát hiện này đã làm sáng tỏ những lỗ đen lớn hơn có thể xảy ra như thế nào.

Các nhà khoa học đầu tiên tìm kiếm các lỗ đen ẩn bằng cách chọn lọc thông qua dữ liệu X-quang 10 năm từ Đài quan sát nhanh Neil Gehrels của NASA. Khi lỗ đen nuốt chửng vật chất chúng sẽ tạo ra tia X năng lượng cao có thể nhìn thấy được ngay cả qua những đám mây và bụi dày.

hố đen
Các nhà thiên văn học đã xác thực sự tồn tại của các hố đen cực lớn ở trung tâm dải ngân hà (Ảnh minh họa)

Tiếp theo, các nhà nghiên cứu tìm kiếm các thiên hà phù hợp với các phát hiện tia X này bằng cách phân tích dữ liệu từ Kính viễn vọng Không gian Hubble của NASA và Đài quan sát Keck ở Hawaii. Gương biến dạng được điều khiển bằng máy tính, một công nghệ được gọi là quang học thích ứng tại Đài quan sát Keck giúp làm sắc nét hình ảnh của các ngôi sao, dẫn đến sự gia tăng lớn về độ phân giải, tác giả chính của nghiên cứu Michael Koss nói với Space.com. Koss là nhà vật lý thiên văn tại công ty nghiên cứu khoa học Eureka Scientific ở Oakland, California.

“Nó sẽ giống như đi từ tầm nhìn 20/200, nơi mắt bạn rơi vào điểm mù, đến tầm nhìn 20/20, giúp chúng ta thấy các thiên hà chi tiết đáng kinh ngạc”, ông nói.

Sau tất cả, các nhà khoa học đã phân tích 96 thiên hà quan sát được với Đài thiên văn Keck và 385 thiên hà từ kho lưu trữ của Hubble. Tất cả các thiên hà này đều nằm cách Trái đất trung bình 330 triệu năm ánh sáng, tương đối gần bằng các thuật ngữ vũ trụ, với nhiều kích thước tương tự như Dải Ngân Hà.

Các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng hơn 17% các thiên hà này đã có một cặp lỗ đen ở trung tâm của họ, dấu hiệu của các giai đoạn cuối của một cuộc sáp nhập thiên hà. Những phát hiện này phù hợp với các mô hình máy tính của các nhà nghiên cứu, cho thấy các hố đen bị che khuất cao nhưng bị che khuất trong các thiên hà giàu khí và bụi có liên hệ với nhiều vụ sáp nhập các lỗ đen siêu lớn.

Koss cho biết: “Việc sáp nhập thiên hà có thể là một cách chính để phát triển các hố đen”.

andromeda
Thiên hà nơi chúng ta đang sống sẽ sáp nhập với thiên hà Andromeda sau 6 tỷ năm nữa (Ảnh: Youtube)

Thiên hà Milky Way của chúng ta hiện đang trải qua một cuộc sáp nhập với thiên hà Andromeda lân cận, và các lỗ đen siêu lớn ở hai lõi thiên hà cuối cùng sẽ sáp nhập với nhau, Koss nói.

“Hiện tại, các thiên hà được phân cách bởi hàng triệu năm ánh sáng, nhưng chúng ta đang tiến về phía Andromeda ở mức 250.000 dặm / giờ [400.000 km / h],” Koss nói. “Trong 6 tỉ năm nữa, sẽ không có thiên hà Milky Way hay thiên hà Andromeda – chỉ là một thiên hà lớn.”

Một cái nhìn tốt hơn về các vụ sáp nhập trong các thiên hà bị che khuất, bụi bặm có thể đến từ Kính viễn vọng Không gian James Webb của NASA , dự kiến ​​ra mắt vào năm 2021. Các hình ảnh được cải thiện cũng có thể đến từ các hệ thống quang học thích nghi thế hệ mới, như Kính thiên văn Thirty Meter, Kính thiên văn cực lớn của châu Âu và Kính thiên văn khổng lồ Magellan, Koss nói. 

Xem thêm:

Categories: Vũ Trụ Kỳ Ảo

Phát hiện tới hơn 300.000 thiên hà chỉ trong một mảng nhỏ của bầu trời

Sự kì vĩ và bao la của vũ trụ một lần nữa được chứng minh khi các nhà thiên văn học vừa phát hiện tới hơn 300.000 thiên hà chỉ trong một góc nhỏ của bầu trời phía bắc.

Một bản phát hành dữ liệu được thu thập bởi mạng lưới kính viễn vọng tần số thấp ( LOFAR ) ở châu Âu đã bổ sung các mức độ chi tiết mới lạ cho bản đồ sóng vô tuyến trên vũ trụ, truyền cảm hứng cho hàng chục nghiên cứu về mọi thứ từ từ trường đến lỗ đen.

Đo radio đòi hỏi một số thiết bị khá nhạy cảm. Dải 20.000 ăng ten của LOFAR nằm rải rác trên 48 trạm ở Hà Lan và nước ngoài giống như một con mắt nhạy cảm với sóng vô tuyến trên bề mặt hành tinh của chúng ta.

Trong số nhiều nhiệm vụ của nó là một cuộc khảo sát chuyên sâu về bầu trời đêm phía bắc với tần số vô tuyến khoảng 120 đến 168 megahertz, dự kiến ​​sẽ cung cấp thông tin mới về một loạt các hiện tượng thiên văn tỏa sáng nhẹ.

Thiên hà xoắn ốc M106 được đặt chồng lên dữ liệu LOFAR (màu vàng). (Ảnh: Cyril Tasse / Đài thiên văn Paris / LOFAR)

Cho đến nay chỉ có khoảng 20% khối lượng công việc của cuộc khảo sát đã được hoàn thành, và trong đó, các nhà khoa học trên toàn cầu chỉ có thể truy cập khoảng 10% dữ liệu có sẵn. Điều đó có vẻ không nhiều, nhưng rõ ràng họ đang rất nỗ lực triển khai dự án.

Tạp chí Astronomy and Astrophysics vừa công bố 26 nghiên cứu dựa trên công bố dữ liệu ban đầu này, bao gồm các chuẩn tinh, blazar, lỗ đen và trường điện từ liên thiên hà.

Một trong những tiết lộ lớn trong đó là 325.694 điểm trong đó ánh sáng của sóng vô tuyến tăng lên ít nhất năm lần so với nhiễu nền. Khoảng 70% trong số này có thể được liên kết với tín hiệu quang, do đó, khá an toàn khi nói những điểm sáng này đại diện cho các thiên hà mà chúng ta có thể thêm vào lộ trình vũ trụ của mình.

Cụm sáp G Abell 1314 được chụp bằng LOFAR. Màu xám biểu thị ánh sáng khả kiến, trong khi màu cam cho thấy phát xạ vô tuyến ‘ẩn’ (Ảnh: Sciencealeart)

Xác định vị trí của các thiên hà mới không chỉ giúp chúng ta hiểu cấu trúc bên trong của chúng mà còn cung cấp một công cụ có giá trị để hiểu được những khoảng trống rộng lớn ở giữa.

Thông thường, sóng vô tuyến được tạo ra bởi sự nhiễu loạn khuấy động khi các thiên hà va chạm.

“Điều chúng ta bắt đầu thấy với LOFAR là trong một số trường hợp, các cụm thiên hà không hợp nhất cũng có thể cho thấy sự phát xạ này, mặc dù ở mức rất thấp mà trước đây không thể phát hiện được” , nhà vật lý thiên văn Annalisa Bonafede từ Đại học Bologna nói.

“Phát hiện này cho chúng ta biết rằng bên cạnh các sự kiện sáp nhập, còn có những hiện tượng khác có thể kích hoạt gia tốc hạt trên quy mô lớn.”

Độ nhạy của mắt LOFAR trên bầu trời cũng đã giúp các nhà nghiên cứu tìm ra các từ trường mờ nhạt được dự đoán là tồn tại trong không gian liên thiên hà nhưng cho đến nay quá khó để phát hiện.

Tuy nhiên, những thành tựu này mới chỉ là khởi đầu. Còn rất nhiều bầu trời để khám phá và hứa hẹn có thể tiết lộ khoảng 15 triệu nguồn phát xạ sóng vô tuyến mới trong tương lai.

Xem thêm:

Categories: Vũ Trụ Kỳ Ảo

Ngắm Trái đất muôn vẻ từ Google Earth

Với nhiều người, Google Earth đơn thuần là công cụ giúp tìm đường. Nhưng một số người đã biến nó thành ‘phương tiện’ du lịch thú vị.

Ngắm Trái đất muôn vẻ từ Google Earth - Ảnh 1.

Sông băng cùng chảy ở Alaska.

Will – một nhà địa chất đến từ New Orleans, Mỹ là một trong số đó. Chia sẻ trên BoredPanda, ông cho biết mình say mê Google Earth và dành nhiều thời gian khám phá nó.

Ông đã “thăm thú” nhiều khu vực khác nhau trên bản đồ và chụp ảnh màn hình những nơi ông cho là thú vị nhất, sau đó chia sẻ lên mạng.

“Tôi thích lướt Google Earth để tìm kiếm những thứ hay ho. Dưới mỗi ảnh chụp tôi thêm dòng ghi chú ngắn dựa trên hiểu biết và dự đoán của mình về những gì đang xảy ra”, ông nói.

Sở thích ấy của ông đã cung cấp cho cư dân mạng nhiều hình ảnh tuyệt đẹp về Trái đất, cho phép họ “du lịch ảo” đến nhiều vùng đất ở cách xa hàng ngàn, hàng vạn cây số.

Ngắm Trái đất muôn vẻ từ Google Earth - Ảnh 2.

Một núi lửa ở thung lũng Great Rift, Tanzania. Nó đủ cao để hình thành khu vực có khí hậu ẩm ướt, do đó có màu xanh lá cây.
Ngắm Trái đất muôn vẻ từ Google Earth - Ảnh 3.

Một con sông đổ ra hồ Ayyakum, Tây Tạng. Con sông không được đặt tên trên Google.
Ngắm Trái đất muôn vẻ từ Google Earth - Ảnh 4.

Những miệng hố hình thành sau các vụ bắn phá trong sự kiện Ngày đổ bộ D-Day (ngày 6-6-1944) của Mỹ và đồng minh trên bờ biển Normandy trong Thế chiến II.
Ngắm Trái đất muôn vẻ từ Google Earth - Ảnh 5.

Một khu vực phù sa ở Iran.
Ngắm Trái đất muôn vẻ từ Google Earth - Ảnh 6.

Những cánh đồng được tưới tiêu ở phía tây Texas, dựa theo màu sắc thì nơi đây vừa được thu hoạch hoặc cày xới.
Ngắm Trái đất muôn vẻ từ Google Earth - Ảnh 7.

Một núi lửa với cấu trúc miệng bất đối xứng ở Tanzania.
Ngắm Trái đất muôn vẻ từ Google Earth - Ảnh 8.

Sông băng dãy Alps tràn ra trên một đồng bằng bằng phẳng.
Ngắm Trái đất muôn vẻ từ Google Earth - Ảnh 9.

Bến thuyền gần Milwaukee, Wisconsin, Mỹ
Ngắm Trái đất muôn vẻ từ Google Earth - Ảnh 10.

Một pháo đài ở Hà Lan.
Ngắm Trái đất muôn vẻ từ Google Earth - Ảnh 11.

Thủy triều lên và xuống trên một bãi biển ở Normandy.

Xem thêm:

Categories: Vũ Trụ Kỳ Ảo

Những sự kiện thiên văn nổi bật nhất năm 2019

Những người yêu mến khoa học trên thế giới sẽ có một năm 2019 bận rộn theo dõi những sự kiện thiên văn nổi bật như: nhật thực, nguyệt thực, các chuyến phóng tàu lên Mặt trăng…

Những sự kiện khoa học đáng chờ đợi năm 2019 - Ảnh 1.

Một đợt nguyệt thực (còn gọi là “trăng máu”) – Ảnh: SCIENCE

Nhật thực – nguyệt thực “dày đặc”

2019 là năm “kín lịch” của các hiện tượng thiên văn như nhật thực hay nguyệt thực.

Ngày 6-1, nhật thực bán phần sẽ “mở hàng” năm mới. Khu vực có thể quan sát được bao gồm Đông Á, phía bắc Thái Bình Dương và một phần Đông Nam Á.

Không lâu sau, nguyệt thực toàn phần diễn ra tại khu vực châu Mỹ, châu Âu và phần lớn châu Phi vào ngày 21-1 và kéo dài trong hơn 3 tiếng.

Ngoài ra, nhật thực toàn phần và bán phần còn diễn ra vào ngày 2-7 và ngày 26-12, trong khi đó nguyệt thực xuất hiện thêm một lần vào ngày 16-7.

Định nghĩa mới về kilogram có hiệu lực

Những sự kiện khoa học đáng chờ đợi năm 2019 - Ảnh 2.

Khối kilogram chuẩn đang được lưu trữ tại Paris – Ảnh: REUTERS

Tháng 11-2018, trong hội nghị toàn thể về cân đo (BIMP), giới khoa học đã quyết định thay đổi định nghĩa của đại lượng thông dụng nhất trong cuộc sống là kilogram.

Theo đó, kilogram được thống nhất định nghĩa dựa vào hằng số Planck thay vì theo khối lượng của khối kilogram tiêu chuẩn hiện đang lưu trữ tại Paris.

Vào ngày đo lường quốc tế 20-5, định nghĩa mới này chính thức có hiệu lực.

Vậy là 7 đơn vị cơ bản đã được định nghĩa chính xác nhất có thể: ampe (A) dựa vào điện tích cơ bản (e), kelvin (K) dựa vào hằng số Boltzmann (k), mol dựa vào hằng số Avogadro, ngoài ra mét (m) và candela (cd) dựa vào các hằng số vật lý từ lâu.

Chuyến bay có người đầu tiên của SpaceX

Những sự kiện khoa học đáng chờ đợi năm 2019 - Ảnh 3.

Công ty hàng không vũ trụ tư nhân SpaceX dự kiến sẽ có chuyến bay chở người lần đầu tiên – Ảnh: SPACEX

NASA cho biết vào tháng 6-2019, một đội phi hành gia của họ lần đầu tiên sẽ lên trạm ISS bằng tên lửa của công ty SpaceX.

Đây cũng là chuyến hành trình đưa người lên vũ trụ từ đất Mỹ lần đầu tiên sau khi chương trình tàu con thoi dừng lại vào năm 2011.

Từ đó đến nay, những chuyến vào không gian của NASA đều phải mượn nhờ vào tàu Soyuz (Nga) và thực hiện bên ngoài lãnh thổ Mỹ.

Với SpaceX, sự kiện tháng 6-2019 cũng là một cột mốc đáng nhớ với công ty hàng không vũ trụ tư nhân lớn nhất thế giới hiện tại.

Tham vọng về những chuyến du lịch không gian của tỉ phú Elon Musk – nhà sáng lập SpaceX – sẽ không còn xa.

Kính thiên văn CHEOPS “xuất trận”

Những sự kiện khoa học đáng chờ đợi năm 2019 - Ảnh 4.

Các nhà khoa học trong giai đoạn chuẩn bị cho CHEOPS – Ảnh: CHEOPS MISSION

Trong năm 2018, kính thiên văn Kepler của NASA chính thức nghỉ hưu sau 9 năm hoạt động và phát hiện hơn 2.600 vật thể ngoài vũ trụ.

Hiện tại NASA đang hoàn thành những bước chuẩn bị cuối cùng cho kính thiên văn “hiện đại nhất lịch sử” tên là James Webb, dự kiến sẽ vào không gian vào năm 2020.

Trước đó, tháng 10-2018, kính thiên văn CHEOPS do trung tâm vũ trụ châu Âu và trung tâm vũ trụ Thụy Sĩ hợp tác sản xuất sẽ được đưa vào không gian.

CHEOPS đã được lựa chọn và nghiên cứu từ tháng 10-2012. Dự kiến hoạt động trong 3,5 năm, CHEOPS nhận nhiệm vụ quan sát các ngoại hành tinh ngoài Hệ mặt trời, giúp các nhà khoa học có thể phân tích được cấu trúc và thành phần của chúng.

Sao Thủy “quá cảnh” Mặt trời

Những sự kiện khoa học đáng chờ đợi năm 2019 - Ảnh 5.

Chấm nhỏ trên nền đỏ chính là sao Thủy đang “quá cảnh” qua Mặt trời – Ảnh: SCIENCE

Đây là một hiện tượng hiếm xảy ra, khi đó Mặt trời, sao Thủy và Trái đất sẽ thẳng hàng với nhau. Người dân ở vùng sáng Trái đất khi đó sẽ nhìn thấy một chấm đen nhỏ trên Mặt trời – bóng của sao Thủy.

Các nhà khoa học cho biết trong một thế kỷ, hiện tượng này có thể xảy ra từ 13 đến 14 lần, trong đó lần kế tiếp sẽ diễn ra vào ngày 11-11-2019.

Những nơi có thể quan sát hiện tượng này bao gồm châu Phi, Đại Tây Dương, Trung Mỹ, Nam Mỹ và đông nam Thái Bình Dương.

Ở Việt Nam không thể quan sát khoảnh khắc “quá cảnh” này.

“Nhộn nhịp” lên Mặt trăng

Những sự kiện khoa học đáng chờ đợi năm 2019 - Ảnh 6.

Chang’e-4 dự kiến sẽ là tàu thăm dò đầu tiên khám phá vùng tối Mặt trăng – Ảnh: GETTY IMAGES

Năm 2019, Trung Quốc, Ấn Độ và Israel đều có những nhiệm vụ phóng tàu vũ trụ không người lái đến quan sát Mặt trăng, trong khi NASA tiếp tục nghiên cứu cho chuyến đưa người lên vệ tinh tự nhiên này vào năm 2028.

Vào đầu tháng 12 vừa qua, Trung Quốc đã phóng tàu vũ trụ Chang’e-4, bao gồm phương tiện tiếp đất và xe thám hiểm bằng tên lửa Long March-3B lên vũ trụ.

Dự kiến vào đầu tháng 1-2019, tàu sẽ đáp xuống khu vực gần cực nam Mặt trăng, trở thành sứ mệnh khám phá phần tối Mặt trăng đầu tiên trên thế giới.

Trong khi đó, ngày 31-1, Ấn Độ sẽ phóng tàu Chandrayaan-2 dự kiến sẽ bay quanh và đáp xuống Mặt trăng tìm hiểu về địa chấn, không khí và nhiệt độ trong lòng đất.

Cuối cùng vào tháng 3, một tàu thăm dò khác sẽ lên Mặt trăng dưới sự hợp tác giữa Israel và Google. Chỉ nặng khoảng 600kg (đã tính cả nhiên liệu), đây sẽ là tàu thăm dò nhẹ nhất từng lên Mặt trăng.

Xem thêm:

Chấn động: Bí ẩn về người ngoài hành tinh sắp được công bố

Tới đây Anh sẽ công bố một tập tài liệu, trong đó sẽ tiết lộ thông tin về người ngoài hành tinh được nước này theo dõi qua nhiều năm.

Bộ hồ sơ gồm 15 tập tài liệu được Cơ quan Lưu trữ Quốc gia Anh xuất bản có chứa thông tin chi tiết về các cuộc gặp với vật thể bay không xác định (UFO) trên khắp nước Anh. Chúng chứa thông tin về một số sự kiện được cho là có liên quan đến các sinh vật ngoài Trái Đất, bao gồm vụ Rendlesham Forest vào năm 1980, được gọi là “Roswell của nước Anh.”

Để xem các tập tài liệu vẫn chưa được số hóa này, những người đam mê UFO sẽ phải đi đến Thư viện Quốc gia London ở Kew, nơi lưu giữ bộ hồ sơ.

người ngoài hành tinh

Bí ẩn về người ngoài hành tinh sẽ được công bố trong thời gian gần. Ảnh minh họa

Ban đầu, các trang tài liệu này được dự định sẽ được công bố vào năm 2013 cùng với hàng nghìn ​trang tài liệu khác. Tuy nhiên, sau đó có 18 tập tài liệu bị giữ lại. Các tập tài liệu này được cho là ghi nhận các sự kiện diễn ra trong khoảng 1971-1976, 1996-2000 và 2004.

Các tập tài liệu mới được công bố đánh dấu giai đoạn cuối của dự án kéo dài 9 năm để giải mật và giải phóng toàn bộ kho lưu trữ về UFO của Bộ Quốc phòng Anh. Ba trong số 18 tập tài liệu này vẫn chưa được công bố nhưng dự kiến sẽ được giải mật và công bố nốt vào cuối năm nay.

Theo Nick Pope, một chuyên gia của Bộ Tư pháp Anh, những tập tài liệu này “sẽ hé mở sự kỳ diệu và niềm đam mê huyền thoại UFO” và phần nào làm rõ được một trong những bí ẩn lớn nhất của nhân loại cũng như các dự án UFO của Quốc phòng Anh từ năm 1991 đến năm 1994.

Liên quan tới người ngoài hành tinh, mới đây, theo nhóm hacker bí ẩn Anonymous, NASA sắp thông báo về việc phát hiện sự sống ngoài hành tinh. Nhóm này đã đăng tải một đoạn phim trên YouTube với dòng chữ “NASA nói rằng người ngoài hành tinh đang đến!”.

Nhóm hacker khẳng định điều này dựa trên cuộc họp gần đây của Ủy ban Khoa học và Vũ trụ Hoa Kỳ. Tại đó, giáo sư Thomas Zurbuchen – quản trị viên liên kết của Cơ quan Quản lý nhiệm vụ Khoa học – được cho rằng đã tuyên bố về việc thế giới “sắp làm nên một trong những khám phá sâu sắc nhất chưa từng có trong lịch sử”.

Trước đó, NASA đã thông báo kính viễn vọng không gian Kepler đã xác định được 210 “thế giới mới tiềm năng”, trong đó có 10 hành tinh được cho là nằm trong vùng Goldilocks – khu vực không quá nóng hay quá lạnh và vừa đủ cho sự sống tồn tại. Đoạn phim của Anonymous có đặc điểm đặc trưng là chiếc mặt nạ Guy Fawkes và giọng nói máy tính méo mó.

Trích dẫn lời một phát ngôn viên của NASA tại hội nghị, đoạn phim này nói rằng “có rất nhiều người tuyên bố một cách không chính thức rằng con người đã thực sự liên lạc được với người ngoài hành tinh và đó không chỉ là các vi sinh vật trôi nổi trong một đại dương khổng lồ, mà đó là một nền văn minh tiên tiến. Hai mươi lăm năm trước, chúng ta còn không biết rằng có các hành tinh khác tồn tại bên ngoài hệ mặt trời. Ngày nay, chúng ta đã xác nhận được sự tồn tại của hơn 3.400 ngoại hành tinh quay quanh mặt trời của chúng, và chúng ta tiếp tục tạo ra những phát hiện mới”.

Sau đó, phát biểu của giáo sư Zurbuchen được trích dẫn như sau: “Nền văn minh của chúng ta sắp khám phá ra bằng chứng về sự sống ngoài hành tinh trong vũ trụ. Tính đến tất cả các hoạt động và nhiệm vụ khác nhau đang đặc biệt tìm kiếm bằng chứng về sự sống ngoài hành tinh, chúng ta sắp làm nên một khám phá sâu sắc chưa từng có trong lịch sử”.

An Dương (T/h)

Xem thêm :

Các thiên hà xếp theo hình mạng nhện cho thấy trật tự vĩ đại của vũ trụ

Khi các nhà thiên văn học nhìn ngắm vũ trụ trên một quy mô lớn – khi họ lùi lại một bước để quan sát sự sắp xếp của các thiên hà trên một quy mô trải dài hàng tỷ năm ánh sáng – họ thấy rằng các thiên hà được sắp đặt trong một cấu trúc hình mạng nhện.

Các thiên hà tụ họp lại với nhau xung quanh các khoảng chân không khổng lồ.

Theo các quan sát mới đây từ Kính Viễn vọng Cự đại (VLT) ở Chile của Tổ chức nghiên cứu Vũ trụ châu Âu tại bán cầu Nam (ESO), trục quay của các lỗ đen siêu khối lượng ở trung tâm của các thiên hà là sắp thẳng hàng với nhau, dọc theo hàng tỷ năm ánh sáng. Chúng định hướng vị trí của bản thân dọc theo các sợi tơ của thiên thể này.

Các thiên hà được sắp đặt trong một cấu trúc hình mạng nhện.

Một nhóm nghiên cứu dẫn đầu bởi Damien Hutsemékers thuộc trường Đại học Liège ở Bỉ đã nghiên cứu 19 chuẩn tinh được phân cực đáng kể. Theo trang web của ESO giải thích, chuẩn tinh là các thiên hà với lỗ đen siêu khối lượng hoạt động mạnh ở trung tâm. Chúng phát sáng rất mạnh, và các nhà nghiên cứu đã quan sát sự phân cực của ánh sáng xung quanh các chuẩn tinh.

Ảnh mô phỏng các thiên hà sắp xếp theo hình mạng nhện, nằm rải rác khắp vũ trụ (Ảnh: ESO/M. Kornmesser)
Ảnh mô phỏng các thiên hà sắp xếp theo hình mạng nhện, nằm rải rác khắp vũ trụ (Ảnh: ESO/M. Kornmesser)

Nghiên cứu của nhóm, đăng tải ngày 19/11/2014 trên tạp chí Astronomy & Astrophysics (Thiên văn học & Vật lý Thiên văn), tuyên bố: “Chúng tôi phát hiện ra rằng các véc-tơ phân cực của chuẩn tinh hoặc song song hoặc vuông góc với hướng của toàn bộ cấu trúc quy mô lớn của chúng [mạng nhện]. Các thử nghiệm thống kê cho thấy xác suất để ảnh hưởng loại này có thể được quy cho các véc-tơ phân cực định hướng ngẫu nhiên là vào khoảng 1%”.

Tóm lại, khó có khả năng sự sắp xếp này là ngẫu nhiên, từ đó củng cố cho ý tưởng về một trật tự vĩ đại của cấu trúc vũ trụ.

Theo một thông cáo báo chí của ESO, Hutsemékers nói : “Điều kỳ quặc đầu tiên chúng ta nhận thấy là, một số trục quay của các chuẩn tinh này được sắp xếp thẳng hàng với nhau, mặc dù chúng cách nhau cả tỷ năm ánh sáng”.

Nhóm nghiên cứu phát hiện được rằng không chỉ các trục quay thẳng hàng với nhau, chúng cũng sắp xếp thẳng hàng với cấu trúc hình mạng của vũ trụ trong một phạm vi lớn hơn.

“Những sự sắp hàng trong dữ liệu mới, trong phạm vi thậm chí còn lớn hơn so với các dự đoán hiện tại từ mô hình giả lập, gợi ý rằng có một nhân tố bị thiếu sót trong các mô hình của chúng ta về thiên thể”, Dominique Sluse thuộc trường Đại học Argelander-Institut für Astronomie ở Bonn, Đức và trường Đại học Liège nhận định, theo thông cáo của ESO. Mặc dù theo các quan sát, một nhân tố vẫn còn thiếu sót ở đây, nhưng chúng cũng giúp khẳng định một số điều dự đoán của các mô hình số học về sự tiến hóa vũ trụ.

Thông cáo của ESO miêu tả sự sắp hàng như vậy là khá “kỳ quái”. Vì chúng ta đang đề cập đến các quan sát dọc theo hàng tỷ năm ánh sáng, nên điều các nhà thiên văn học đã quan sát được thực ra là từ rất nhiều năm về trước, khi vũ trụ chỉ khoảng 1/3 tuổi thọ hiện nay.

Tara MacIsaac, Epoch Times

Xem thêm :

Categories: Vũ Trụ Kỳ Ảo

Vũ trụ có thể tồn tại 9 chiều không-thời gian, và lỗ đen chính là cánh cửa

Một nghiên cứu mới cho biết, vũ trụ không chỉ là không gian 3 chiều như mắt thường chúng ta nhìn thấy, mà lên tới 9 chiều không gian-thời gian; và lỗ đen chính là cánh cửa đi qua những vũ trụ khác.

Mô hình mô phỏng sóng trọng lực khi 2 lỗ đen kết hợp (Ảnh: Wiki)
Mô hình mô phỏng sóng trọng lực khi 2 lỗ đen kết hợp (Ảnh: Wiki)

Các nhà nghiên cứu ở Large Hadron Collider (Máy gia tốc hạt lớn – gọi tắt là LHC) ở châu Âu đang tiến gần hơn tới mục tiêu tìm ra bằng chứng cho giả thuyết này.

Theo Daily Mail, điều này có vẻ giống truyện khoa học viễn tưởng, nhưng các nhà vật lý cho rằng những chiều không gian khác có thể giải thích tất cả mọi thứ từ vật lý lượng tử cho đến trọng lực.

Một trong số đó, “lý thuyết màng” (brane theory) cho rằng những chiều không gian khác có thể ẩn giấu các vũ trụ song song.

“Lý thuyết màng là một phần của lý thuyết dây – giải thích tất cả các lực và hạt vi mô mà chúng ta biết bằng một mô tả duy nhất,” TS Chris White – nhà vật lý học của ĐH Queen Many ở London cho biết.

“Lý thuyết dây cho rằng cấu thành cơ bản của tự nhiên không phải là các hạt vi mô, mà là các dây, từ đó cấu thành nên các bề mặt, các chiều – gọi là “màng” (brane). Phương trình giả thuyết dây, bao gồm các màng này, chỉ có ý nghĩa trong không gian 9 chiều, thay vì không gian 3 chiều mà chúng ta thấy.”

Trong quyển sách “Vũ trụ trong tay bạn”, TS Christophe Galfard mô tả một thí nghiệm hình dung điều gì sẽ xảy ra khi chúng ta có thể qua lại giữa các chiều không gian đó.

“Các lỗ đen có thể kết nối những màng gần nhau thông qua một đường hầm không-thời gian biến dạng, trọng lực từ các màng sẽ thu hút lẫn nhau. Bạn tự hỏi không biết có người sống trong những màng đó và lỗ đen có thể làm đường hầm giữa 2 thế giới hay không?”

Máy gia tốc hạt lớn (LHC) (Ảnh: Flickr)
Máy gia tốc hạt lớn (LHC) (Ảnh: Flickr)

Sử dụng Máy gia tốc hạt lớn (LHC) ở Trung tâm nghiên cứu CERN tại Geneva, các nhà khoa học đang tìm kiếm dấu hiệu của những chiều không gian khác, bằng cách tạo ra một lỗ đen mini.

“LHC có thể tạo ra một lỗ đen nhỏ nếu tồn tại những chiều không gian khác đúng kích cỡ,” TS White bổ sung. “Chúng phân hủy rất nhanh nhưng sẽ để lại một dấu hiệu phóng xạ tăng vọt trong cảm biến của chúng tôi!”

Theo TS White, ngay cả khi LHC không ghi nhận được bằng chứng, thì có thể là do hạn chế của cảm biến, chứng vẫn không loại trừ khả năng tồn tại các chiều không gian khác.

Trong 4 loại lực cơ bản, bản chất của trọng lực dường như không tương thích, bởi vì nó quá yếu so với các lực khác, nên nhiều hiện tượng vật lý không giải thích được. Nhưng lý thuyết màng có thể tránh được những khuyến điểm này, và giải thích hợp lý cho nhiều hiện tượng.

Tuy nhiên, vì lý thuyết màng và lý thuyết dây cho rằng có nhiều hơn không gian 3 chiều, nhiều nhà vật lý không đồng tình vì điều này trái với nhận thức thông thường.

“Hiện tại tôi không thấy có lý luận mạnh mẽ nào cho ý tưởng về vũ trụ song song,” nhà vật lý lý thuyết Carlo rovelli phát biểu tại cuộc tranh luận vào tháng 7/2016.

Video của CERN về dự định cho Máy gia tốc hạt lớn chứng minh chiều không gian thứ 5:

Video ngắn TS Michio Kaku giải thích về vũ trụ đa chiều:

Phong Trần (T/H)

Xem thêm :

Categories: Vũ Trụ Kỳ Ảo

Lần đầu tiên thực hiện được Dịch chuyển lượng tử giữa Trái Đất và vệ tinh

Các nhà nghiên cứu tại Trung Quốc đã thành công trong việc dịch chuyển lượng tử một photon từ Trái Đất lên một vệ tinh cao 500km. Điều này giúp đặt nền móng cho các hệ thống internet lượng tử ở mức độ toàn cầu trong tương lai.

(ảnh: Pixabay)
(ảnh: Pixabay)

Dịch chuyển lượng tử là gì?

Thuật ngữ này (quantum teleportation) không giống như các loại hình dịch chuyển tức thời mà người ta hay thấy trên phim ảnh, mà nó là một quá trình chuyển giao thông tin lượng tử từ một hạt cho tới một hạt khác trong khi chúng ở rất xa nhau. Về cơ bản nó dựa trên hiện tượng “rối lượng tử” – trong đó trạng thái lượng tử của hai hay nhiều vật thể là thay đổi đồng thời với nhau, bất kể khoảng cách giữa chúng là bao xa.

Dịch chuyển lượng tử bao gồm: làm cho 2 hạt có quan hệ “rối lượng tử” với nhau, sau đó gửi một hạt đi thật xa, rồi thay đổi trạng thái của một hạt và quan sát sự thay đổi ở hạt còn lại. Như vậy, thông tin hai đầu sẽ được mã hóa lượng tử hoàn toàn, chỉ khi bạn biết được trạng thái hạt rối của mình, bạn mới có thể giải mã được thông tin gửi đi và về: điều này sẽ tạo ra được một hệ thống liên lạc hoàn toàn an toàn, bảo mật.

Những bước tiến của dịch chuyển lượng tử

Vào đầu thập niên 1990, các nhà khoa học mới chỉ phỏng đoán rằng khả năng dịch chuyển lượng tử là khả thi. Giờ đây, quá trình này đã trở thành một tiêu chuẩn trong các phòng thí nghiệm quang học lượng tử khắp thế giới.

Chỉ trong 2 năm qua, hai nhóm nghiên cứu riêng biệt đã tiến hành thành công dịch chuyển lượng tử ở bên ngoài phòng thí nghiệm.

Giờ đây, các nhà nghiên cứu của Trung Quốc đã đẩy quá trình này lên một bước mới: gửi một photon từ Trái Đất lên vệ tinh cao 500km.

Vệ tinh mang tên Micius này là một trạm thu có độ nhạy cao, có thể phát hiện trạng thái lượng tử của một photon bắn lên từ mặt đất. Vệ tinh này đã được phóng lên để phục vụ mục đích kiểm tra nhiều công nghệ lượng tử nền tảng như: rối lượng tử, mã hóa và dịch chuyển lượng tử.

Như vậy, thành công này đã thiết lập hệ thống mạng lưới lượng tử vệ tinh-mặt đất đầu tiên, ở khoảng cách vượt xa kỷ lục 14km thiết lập vào năm 2016.

Sơ đồ của thí nghiệm (ảnh qua Inverse.com)
Sơ đồ của thí nghiệm (ảnh qua Inverse.com)

“Dịch chuyển khoảng cách xa được xem là yếu tố nền tảng trong các giao thức như mạng lưới lượng tử quy mô lớn và tính toán phân tán lượng tử (sử dụng nhiều thiết bị tính toán trên một mạng để thực hiện một nhiệm vụ chung – ND),” nhóm nghiên cứu Trung Quốc phát biểu với trang MIT Technology Review. “Các thí nghiệm dịch chuyển trước đây đều bị giới hạn ở khoảng cách 100km, bởi photon bị mất trong sợi cáp quang hoặc những kênh dẫn dưới mặt đất khác.”

Để thực hiện, ban đầu, nhóm nghiên cứu đã làm cho các cặp photon có “rối lượng tử” với tốc độ khoảng 4000 cặp/giây. Sau đó họ bắn một nửa lên vệ tinh, và giữ lại một nửa. Cuối cùng họ đo lường các photon trên mặt đất và trên vệ tinh để xác nhận hiện tượng rối lượng tử vẫn đang xảy ra.

Trong lý thuyết thì không có giới hạn trong khoảng cách vận chuyển, nhưng hiện tượng rối lượng tử khá mong manh và kết nối có thể bị đứt dễ dàng. Tuy nhiên, tiềm năng của nghiên cứu này là rất lớn, ví như tạo lập các mạng internet lượng tử ở quy mô toàn cầu trong tương lai.

Theo Futurism, Inverse,
Phong Trần tổng hợp

Dịch chuyển tức thời: Vật chất có thể di chuyển nhanh hơn ánh sáng?

Thuyết tương đối của Einstein cho rằng không gì có thể vượt qua tốc độ ánh sáng. Nhưng các thí nghiệm về vướng víu lượng tử và khả năng dịch chuyển tực thời đồ vật bằng ý nghĩ đã chứng minh rằng… Einstein sai. 

dịch chuyển tức thời
(ảnh minh họa: Shutterstock)

Thời thập niên 80-90 thì các môn khí công rất được thịnh hành và phổ biến rộng rãi ở Trung Quốc. Trong những người tu luyện khí công, có rất nhiều người có năng lực siêu thường. Thời bấy giờ, viện khoa học Trung Quốc, Viện Nghiên cứu Vật lý cao năng lượng, cho đến một số trường cao đẳng, đều có một số giáo sư lẫn đội ngũ chuyên nghiên cứu những hiện tượng này.

Trương Bảo Thắng (1960 – 3/8/2018), người Bản Khê, huyện Tây Hồ, tỉnh Liêu Ninh, Trung Quốc, là một trong những người có công năng đặc dị nổi tiếng nhất Trung Quốc. Có rất nhiều bài báo, nghiên cứu khoa học, sách và video mô tả về khả năng của người đàn ông này.

Trước sự chứng kiến của nhiều người, Trương Bảo Thắng có thể dùng mũi “ngửi” được chữ viết trong lá thư phong kín, thấu thị con bò bị chôn kín dưới lớp băng dày, nhìn thấy vệ tinh bị rơi dưới lòng sông, đọc ý nghĩ người khác, nhưng đặc biệt hơn, ông có khả năng di chuyển vật thể bằng ý nghĩ và có thể đi xuyên qua bức tường dày.

Trương Bảo Thắng (giữa) và vợ chồng nữ nhà văn Đài Loan nổi tiếng Quỳnh Dao (ảnh: Internet)

Video dưới đây quay lại một sự kiện Trương Bảo Thắng biểu diễn công năng đặc dị trước Phó chủ tịch nước Vương Chấn. Trương Bảo Thắng dùng ý niệm đưa 5 que diêm vào phong bì thư, đồng thời đọc và trả lời nội dung của thư vào chính mặt sau của lá thư trong phong bì thư đang được dán kín. Trong video này, Bảo Thắng cũng dùng ý niệm, lấy ra viên thuốc nằm trong lọ đang được bịt kín.

Hầu Hi Quý (1946-2007), người huyện Hán Thọ, tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc cũng là một người có khả năng đặc biệt: ông có thể thấu thị vật thể, di chuyển vật thể bằng ý nghĩ từ chỗ này sang chỗ khác, có thể bị súng bắn mà không bị thương, thậm chí có thể thay đổi vật chất của bản thân mình, khiến cho cơ thể cao hơn lên bình thường…

Trong một lần biểu diễn trước tỉ phú Hồng Kông Lý Gia Thành, Hầu Hi Quý đã dùng ý niệm chuyển nguyên chiếc bàn ăn mạ vàng từ phòng ăn tại tư gia Lý Gia Thành đến văn phòng làm việc của ông. Hay ông cũng rất nhiều lần dùng ý niệm “lấy rượu, thuốc lá, đồ ăn…” từ chỗ khác đến theo yêu cầu của người quan sát.

Hầu Hi Quý (phải) chụp ảnh cùng tỷ phú Lý Gia Thành sau khi biểu diễn công năng mang chiếc bàn ăn mạ vàng từ nhà đến văn phòng của vị tỷ phú (ảnh: Internet)

Để di chuyển vật thể hay bản thân mình từ nơi này đến nơi khác, hai khí công sư này hẳn phải có khả năng tác động khiến vật chất dịch chuyển từ nơi này đến nơi khác với tốc độ cực nhanh. Đây chính là hiện tượng dịch chuyển tức thời, còn gọi là teleport mà khoa học hay nói đến, đó là hình thức vật chất di chuyển vượt không gian và thời gian với tốc độ nhanh hơn tốc độ ánh sáng, khiến quãng đường hàng ngàn km cũng chỉ mất một khoảnh khắc để vượt qua. Quan điểm của vật lý học hiện đại về vấn đề này ra sao?

Hai trụ cột lớn của lớn của vật lý hiện đại

Vật lý hiện đại có hai trụ cột lớn: một là thuyết tương đối tổng quát – thuyết về thế giới vĩ mô, hai là cơ học lượng tử – thuyết về thế giới vi mô. Albert Einstein là người đã phát phát hiện ra thuyết tương đối, đồng thời ông cũng tạo bước ngoặt khai sinh ra lý thuyết lượng tử với việc phát hiện ra hiệu ứng quang điện. Thuyết tương đối của Einstein khẳng định rằng không có vật gì có khả năng di chuyển nhanh hơn tốc độ ánh sáng.

Năm 1927, Werner Heisenberg phát hiện ra nguyên lý bất định của cơ học lượng tử, phát biểu rằng: “Ta không bao giờ có thể xác định chính xác cả vị trí lẫn vận tốc (hay động lượng, hoặc xung lượng) của một hạt vào cùng một lúc. Nếu ta biết một đại lượng càng chính xác thì ta biết đại lượng kia càng kém chính xác.” Nguyên lý này của Heisenberg thể hiện tính không định xứ (non-locality) của sự vật.

Dựa trên nguyên lý bất định của Heisenberg, các nhà vật lý đương thời đã có Diễn giải Copenhagen. Diễn giải này cho rằng tại mức lượng tử, các “hạt” không có những tính chất nhất định cho đến khi chúng ta tiến hành các phép đo, điều này có nghĩa là các tính chất nhất định của hạt không hiện hữu trước khi chúng ta tiến hành các phép đo, đây là tính chất không hiện hữu (non-realism) của các hạt.

Hiệu ứng vướng víu lượng tử

Cơ học lượng tử có một hiệu ứng quan trọng là vướng víu lượng tử (còn gọi là rối lượng tử – quantum entanglement), trong đó trạng thái lượng tử của 2 hay nhiều hạt có liên hệ mật thiết với nhau, dù cho chúng có nằm cách xa nhau hàng năm ánh sáng. Ví dụ, có thể tạo ra 2 hạt sao cho nếu quan sát thấy spin (momen động lượng) hay phân cực của hạt thứ nhất quay xuống dưới, thì spin hay phân cực của hạt kia sẽ chắc chắn quay lên trên, hoặc ngược lại; dù cho cơ học lượng tử không tiên đoán trước kết quả phép đo trên hạt thứ nhất.

Ví dụ đơn giản, coi cặp hạt photon có vướng víu lượng tử với nhau như một cặp anh em sinh đôi, thì việc xác định trạng thái sức khỏe của người này sẽ cho ta biết trạng thái sức khỏe của người còn lại, cho dù họ ở cách xa nhau hàng ngàn cây số. Hiệu ứng vướng víu lượng tử này mang đến khái niệm không định xứ (non-locality), trong cơ học lượng tử, nó khẳng định rằng hai sự kiện cách xa nhau có thể ảnh hưởng lẫn nhau một cách tức thời vì liên đới lượng tử.

Rối lượng tử cho phép thực hiện các phép đo trạng thái của một vật thể từ trạng thái của một vật thể ở rất xa (ảnh: physicsoftheuniverse.com)

Thí nghiệm EPR của Einstein

Năm 1935, Einstein và hai đồng nghiệp là Boris Podolsky và Nathan Rosen đưa ra một thí nghiệm tưởng tượng nổi tiếng gọi là “thí nghiệm EPR” theo ba chữ cái đầu của tên ba người.

Ba tác giả của thí nghiệm tưởng tượng EPR (ảnh: physicsforme)

Nói một cách đơn giản, thí nghiệm EPR như sau:

Xét một hạt phân rã đồng thời thành hai photon (hạt ánh sáng) A và B. Theo các định luật về đối xứng, hai photon này luôn đi về hai hướng ngược chiều nhau. Nếu A đi về hướng bắc thì ta sẽ phát hiện ra B ở phía nam. Tới đây thì có vẻ chưa có gì đặc biệt. Nhưng đó là do ta đã quên mất những điều kì lạ của cơ học lượng tử nói rằng các hạt đều có bản chất lưỡng tính: vừa là sóng vừa là hạt và nó thể hiện bản chất nào là tùy thuộc vào việc dụng cụ đo có được bật hay không, tức phụ thuộc vào hành động quan sát. Trước khi máy dò được bật, photon A không thể hiện tính chất hạt mà thể hiện tính chất sóng. Sóng này không định xứ, mà tồn tại một xác suất để A có mặt ở bất cứ vị trí nào.

Chỉ khi dụng cụ đo được bật và dò thấy A thì A mới biến thành hạt và “cho biết” rằng nó đi theo hướng bắc. Nhưng trước khi bị dò thấy, A không biết nó sẽ đi theo hướng nào, thì làm sao B “đoán” trước hành vi của A và tự điều chỉnh để có thể bị đồng thời dò thấy ở hướng ngược lại? Điều này thật vô lý trừ khi chấp nhận rằng A có thể thông tin ngay lập tức cho B hướng nó đã đi. Mà theo thuyết tương đối của Einstein thì lại không cho phép bất kỳ tín hiệu nào di chuyển nhanh hơn ánh sáng. “Chúa không gửi các tín hiệu thần giao cách cảm”, ông nói, để nhấn mạnh rằng không thể có một tác động huyền bí giữa hai hạt ở cách xa nhau trong không gian.

Dựa trên cơ sở của thí nghiệm tưởng tượng này, Einstein đã đi tới kết luận rằng: cơ học lượng tử không cho chúng ta một mô tả đầy đủ về thực tại. Là một nhà quyết định luận thâm căn cố đế, ông phản đối sự mô tả thực tại bằng xác suất của cơ học lượng tử. Theo ông, A phải biết nó đi theo hướng nào và trao đổi thông tin này với B trước khi chúng tách ra xa nhau. Sự giải thích theo xác suất của cơ học lượng tử cho rằng A có thể có mặt ở bất cứ hướng nào là sai lầm. Einstein cho rằng dưới lớp vỏ bất định, lượng tử nhất định phải ẩn giấu một thực tại nội tại và tất định. Nghĩa là lượng tử là định xứ (locality) và hiện hữu (realism).

Theo ông, vận tốc và vị trí xác định quỹ đạo của hạt được định xứ trên hạt, độc lập với hành động quan sát. Ông tán thành với cái được gọi là “thực tại địa phương”. Theo Einstein, sở dĩ cơ học lượng tử không giải thích được quỹ đạo xác định của một hạt là bởi nó không tính tới các tham số phụ, gọi là các “biến ẩn”. Do đó nó không đầy đủ. [1]

Einstein đã sai

Trong một thời gian dài, thí nghiệm EPR vẫn chỉ là một thí nghiệm tưởng tượng. Các nhà vật lý không biết làm thế nào để thực hiện nó trên thực tế. Năm 1964, John Bell, một nhà vật lý làm việc tại CERN (Trung tâm nghiên cứu hạt nhân châu Âu) đã xây dựng một định lí toán học được biết dưới cái tên “bất đẳng thức Bell”, giúp cho có thể kiểm chứng bằng thực nghiệm có tồn tại các biến ẩn hay không. Định lí này cho phép biến một tranh luận siêu hình thành một thí nghiệm cụ thể.

Năm 1982 tại Orsay, nhà vật lý người Pháp Alain Aspect và nhóm của ông đã thực hiện một loạt các thí nghiệm với các cặp photon (được các nhà vật lý gọi là các photon “bị vướng víu”) để kiểm tra hiệu ứng EPR. Kết quả không thể phủ nhận: các bất đẳng thức Bell đều bị vi phạm một cách có hệ thống. Nghĩa là Einstein đã nhầm.

Trong thí nghiệm của Aspect, các photon A và B ở cách xa nhau 12m, thế nhưng B luôn “biết” ngay lập tức A làm gì. Ta biết hiện tượng này là tức thời bởi vì một tín hiệu ánh sáng truyền thông tin từ A sang B không có đủ thời gian để đi hết 12m. Thực vậy, các đồng hồ nguyên tử, gắn với các máy để dò A và B, cho phép đo một cách chính xác thời điểm tới của mỗi photon. Sự khác biệt giữa hai thời gian tới nhỏ hơn vài phần mười tỉ của giây (nó chắc là bằng không nhưng các đồng hồ nguyên tử hiện nay chưa cho phép đo chính xác hơn 10-10 giây). Mà với 10-10 giây ánh sáng mới đi được 3cm, nhỏ hơn rất nhiều khoảng cách 12m giữa hai photon. [1, 2]

Thiết bị thí nghiệm của Alain Aspect năm 1982 (ảnh: eric.chopin.pagesperso-orange.fr)

Tuy Alain Aspect đã có một thí nghiệm tuyệt vời chứng minh sự vướng víu lượng tử là thực sự tồn tại, nhưng có nhiều người cho rằng thí nghiệm của ông và một số thí nghiệm khác trước năm 1982 về vướng víu lượng tử (còn gọi là các thí nghiệm chứng minh bất đẳng thức Bell là sai) đều có những sơ hở, chủ yếu đến từ những hạn chế của công nghệ quang điện tử. Nhưng, trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của ngành công nghệ quang điện tử, các thí nghiệm về vướng víu lượng tử sử dụng các công nghệ mới đã khắc phục được các sơ hở này. [3]

  • Năm 1998, nhà vật lý người Thụy Sĩ Nicolas Gisin và nhóm của ông tại Đại học Geneve đã có thí nghiệm chứng minh rằng các photon cách nhau hơn 10km vẫn tương liên với nhau một cách hoàn hảo nhờ vướng víu lượng tử. [4] Thí nghiệm này cho thấy tốc độ “truyền tin tức” giữa 2 photon vướng víu có tốc độ gấp 10.000 lần tốc độ ánh sáng. [5]
  • Năm 2015, Tiến sĩ B. Hensen và các đồng sự tại Đại học Công nghệ Delft, Hà Lan đã chứng minh sự tồn tại của vướng víu lượng tử giữa các hạt electron ở khoảng cách 1,3km. [6]
  • Cũng trong năm 2015, Tiến sĩ Marissa Giustina, tại Đại học Vienna, Áo và các cộng sự cũng đã có thí nghiệm thành công về sự tồn tại của vướng víu lượng tử giữa các hạt photon ở khoảng cách 58m. [7]
  • Đồng thời trong năm 2015, Tiến sĩ Lynden K. Shalm từ Viện nghiên cứu Công nghệ quốc gia Hoa Kỳ và các đồng sự cũng đã có báo cáo thí nghiệm các hạt photon vướng víu lượng tử với nhau ở khoảng cách 185m. [8]

Những thí nghiệm về vướng víu lượng tử này, một lần nữa cho thấy rằng giữa các hạt vướng víu lượng tử, tồn tại một mối liên hệ vô cùng bí ẩn với tốc độ truyền thông tin gần như tức thời. Nghĩa là, tốc độ truyền tin giữa các hạt vướng víu là nhanh hơn tốc độ ánh sáng, và thí nghiệm tưởng tượng EPR trở thành “nghịch lý EPR”.

Dịch chuyển lượng tử

Năm 2017, các nhà khoa học Trung Quốc lần đầu tiên thành công trong việc dịch chuyển thông tin qua các hạt vướng víu lượng tử giữa một trạm mặt đất và một vệ tinh trên quỹ đạo cách trái đất 500km. [9]

Sơ đồ của thí nghiệm (ảnh qua Inverse.com)

Thí nghiệm này tạo nên hy vọng lớn cho các nhà khoa học trong việc tạo dựng một hệ thống Internet lượng tử và mã hóa lượng tử cực kỳ an toàn. Trong đó, mạng Internet lượng tử thay vì gửi các bit 1, 0 truyền thống sẽ gửi các bit lượng tử (qutbit) giữa hai máy tính lượng tử ở hai đầu. Do các trạng thái lượng tử của qubit là không thể copy nên mã hóa lượng tử là cực kỳ an toàn. Tuy nhiên, hiện nay các nhà khoa học vẫn đang nghiên cứu để biến các viễn cảnh này thành sự thật.

Cho dù việc dịch chuyển các bit lượng tử giữa hai lượng tử bị vướng víu vẫn còn đang trong thí nghiệm, thì khả năng dịch chuyển đồ vật và cơ thể người của Hầu Hi Quý và Trương Bảo Thắng lại diễn ra hết sức thực tại và rõ ràng. Điều này chứng tỏ rằng các vật chất có thể di chuyển với tốc độ nhanh hơn ánh sáng và khoa học duy vật thực chứng hiện đại cần thay đổi tư duy mới có thể tiếp cận và giải thích vấn đề một cách minh bạch và khách quan.

Xem thêm :

Thiện Tâm tổng hợp.

Tài liệu tham khảo:

  • [1] Trịnh Xuân Thuận, “Vũ trụ và hoa sen”, Nhà xuất bản Tri thức, 2013
  • [2] Alain Aspect, Jean Dalibard, and Gérard Roger, “Experimental Test of Bell’s Inequalities Using Time-Varying Analyzers”, Phys. Rev. Lett. 49, 1804 – Published 20 December 1982
  • [3Alain Aspect, “Viewpoint: Closing the Door on Einstein and Bohr’s Quantum Debate”, December 16, 2015• Physics 8, 123
  • [4] W. Tittel, J. Brendel, H. Zbinden, and N. Gisin, “W. Tittel,* J. Brendel, H. Zbinden, and N. Gisin” Phys.Rev.Lett. 81 (1998)
  • [5] Roger Highfield, Science Editor, “Einstein’s spooky action acts at 10,000 times the speed of light”, telegraph.co.uk
  • [6] B. Hensen, et al, “Loophole-free Bell inequality violation using electron spins separated by 1.3 kilometres”, Nature volume526, pages682–686 (29 October 2015)
  • [7] Marissa Giustina, et al, “Significant-Loophole-Free Test of Bell’s Theorem with Entangled Photons”, Phys. Rev. Lett. 115, 250401 – Published 16 December 2015
  • [8] Lynden K. Shalm et al, “Strong Loophole-Free Test of Local Realism”, Phys. Rev. Lett. 115, 250402 – Published 16 December 2015
  • [9] “Lần đầu tiên thực hiện được Dịch chuyển lượng tử giữa Trái Đất và vệ tinh”, TTVN, 12/7/2017

Thanh niên thời Liên Xô cũ du hành thời gian đến Ukraine gây chấn động thế giới

Trong nhiều bộ phim khoa học viễn tưởng có xuất hiện những đường hầm sáng, cỗ máy xuyên thời gian, nhờ vào đó mà có thể du hành về quá khứ hoặc đến tương lai. Chúng ta sẽ phát hiện rằng cảnh tượng trong những bộ phim đó cũng có thể xảy ra khi đọc bài viết sau đây. 

Câu chuyện về chuyến du hành thời gian của Sergey Ponomarenko được ghi lại ở Liên Xô cũ trong quá khứ và Ukraine ở hiện tại đã khiến thế giới kinh ngạc. (Ảnh: internet)

Thời không là do không gian và thời gian tạo thành, đến nay người ta vẫn chưa biết nó tồn tại ở đâu? Cho đến ngày nay giới khoa học vẫn còn đang tìm kiếm. Trong nhiều bộ phim khoa học viễn tưởng có xuất hiện những đường hầm sáng, cỗ máy xuyên thời gian, nhờ vào đó mà có thể du hành về quá khứ hoặc đến tương lai, có người may mắn trở thành nhà du hành vượt thời gian. Cảnh tượng trong những bộ phim khoa học diễn tưởng đó, liệu có xảy ra ở hiện thực không?

Thanh niên sinh năm 1932 nhưng chỉ có 25 tuổi

Năm 2006, cuộn phim vào năm 1958 của Sergey đã được rửa nhưng điều kỳ lạ là nó cho ra những bức ảnh rất mới không hề có bất kỳ hư hại nào. Ở trong cuộn phim còn có ảnh một cặp đôi rất trẻ chụp chung với nhau. Người con trai là chính là Sergey và người con gái bên cạnh ông chính là bạn gái của ông tên là Valentina Curish. (Ảnh cắt từ video)

Ngày 23/4/2006, một người tên Sergey Ponomarenko, 25 tuổi, đã xuất hiện tại một con phố ở thủ đô Kiev của Ukraine. Sergei mặc một bộ quần áo có kiểu dang như thời Liên Xô cũ, mang vẻ mặt hoài nghi đi trên phố.

Những hành động của Sergei khiến cảnh sát chú ý, bước đến và hỏi xem giấy tờ tùy thân của anh. Khi xem giấy tờ của Sergey, cảnh sát vô cùng kinh ngạc vì đó chính là giấy tờ thời Liên Xô cũ vào những năm 1950. Trên đó viết tên Sergey Ponomarenko sinh năm 1932 tại thủ đô Kiev, nhưng nhìn vẻ ngoài của Sergey thì chỉ khoảng 20 mấy tuổi thôi.

Sergey giải thích thân phận của mình với cảnh sát nhưng càng giải thích, cảnh sát càng cảm thấy hoài nghi và hoang đường. Cảnh sát cho rằng tinh thần của Sergey có vấn đề, cho nên đã đưa anh đến bệnh viện tâm thần Kiev.

Do lời nói của Sergey rất khác thường nên cảnh sát đã mời chuyên gia tâm lý học Tiến sĩ Pablo Kutrikov đến kiểm tra.

Người thanh niên 25 tuổi xuất hiện tại một con phố ở thủ đô Kiev của Ukraine vào ngày 23/4/2006. (Ảnh cắt từ video)

Vô tình gặp được UFO (vật thể bay không xác định)

Sergey bước vào văn phòng của Tiến sĩ Kutrikov, cẩn thận quan sát tất cả mọi thứ xung quanh thì phát hiện ra chiếc đồng hồ treo tường trong phòng đã ngừng chạy, anh ta liền hỏi tiến sĩ rằng hiện tại là mấy giờ rồi. Tiến sĩ nhìn xem chiếc đồng hồ Thụy Sĩ trên tay của mình thì phát hiện ra đồng hồ trên tay của ông cũng đã dừng lại rồi. Thời gian ở trên cả 2 chiếc đồng hồ này đều dừng lại vào lúc 12 giờ 32 phút.

Sergey nói với Tiến sĩ rằng anh sinh ra tại thủ đô Kiev, năm nay 25 tuổi. Ở năm 2006, Sergey chỉ là một thanh niên trong độ tuổi 20. Tiến sĩ Pablo yêu cầu Sergey nhớ lại xem làm sao anh lại xuất hiện ở năm 2006.

Theo Sergey, bởi vì hôm đó là ngày nghỉ nên anh đi dạo, dự định đến trung tâm thành phố để tản bộ và chụp lại một số ảnh phong cảnh. Sergey cầm theo chiếc máy ảnh ra khỏi nhà, còn chưa đi được mấy bước thì thấy trên trời xuất hiện một vật thể bay kỳ lạ, có hình dạng như một cái chuông lớn. Đây là lần đầu tiên anh nhìn thấy vật thể bay kỳ quái như vậy nên đã giơ máy ảnh lên chụp lại. Sergey đã đưa cuộn phim cho Tiến sĩ Kutrikov kiểm tra để chứng thực lời nói của mình.

Sergey bước vào văn phòng của Tiến sĩ Kutrikov và cẩn thận quan sát tất cả mọi thứ xung quanh. (Ảnh cắt từ video)

Chuyên gia chứng minh UFO đó là đĩa bay

Tiến sĩ Kutrikov đã mời một chuyên gia nhiếp ảnh tên là Vadim Pozner kiểm tra cuộn phim của Sergey.

Vadim nói rằng, cuộn phim này được dùng cho một dòng máy ảnh đã ngừng sản xuất từ những năm 1970, loại máy ảnh này là Yashimaflex, do công ty Yashica Nhật Bản sản xuất. Những người đam mê chụp ảnh đều sẽ sưu tầm máy ảnh cổ, nhưng không có cái nào được cất giữ tốt như chiêc máy ảnh của Sergey, vì nó gần giống như một cái máy ảnh mới.

Máy ảnh Yashimaflex do hãng Yashima của Nhật sản xuất. (Ảnh: George Rex / Wikimedia Commons)

Do cuộn phim đã lỗi thời nên cũng rất khó khăn mới có thể rửa ra được những bức ảnh. Trong ảnh quả thật có chiếc UFO mà Sergey đã nói, nó kích thước rất lớn, bay lơ lửng giữa không trung, chính là đĩa bay mà mọi người thường nói đến.

Tiến sĩ đưa tấm hình đó cho Sergey xem, xác thực rằng anh ấy không hề nói dối, nhưng vẫn không rõ chuyện gì đã xảy ra, đã đưa anh đến tương lai năm 2006. Sergey cho hay, lúc anh chụp tấm hình này, bởi vì đó lần đầu tiên anh nhìn thấy một vật thể bay kì lạ như vậy nên đã vừa hoảng sợ vừa chụp hình, sau một lúc bình tĩnh lại, quay người lại liền phát hiện phía sau hoàn toàn là một thế giới khác, anh ấy hoàn toàn không nhận ra được khung cảnh xung quanh mình và cũng không tìm lại được đường cũ về nhà.

Tiến sĩ Kutrikov cho rằng bức hình đó là chân thực, UFO ở trên hình chính là đĩa bay.

Cuộn phim qua 50 năm vẫn rõ nét như mới

Tiến sĩ Kutrikov và chuyên gia Pozner kiểm tra tấm ảnh đã được rửa ra, nhận ra khung cảnh trong ảnh là đường phố Kiev, không khác nhiều so với cảnh đường phố hiện đại, phía dưới góc phải tấm ảnh ghi là “năm 1958”.

Những cuộn phim thông thường có thể cất giữ khoảng 2-3 năm, nếu như đông lạnh nó lại thì có thể giữ gìn đến khoảng 20 năm, nhưng nhất định là phải dán kín nó lại, để ở nơi có nhiệt độ thấp và khô ráo thì mới có thể kéo dài hạn sử dụng của đoạn phim.

Nhưng cuộn phim vào năm 1958 của Sergey tuy được rửa vào năm 2006 nhưng lại rất mới, không có bất cứ hư hại nào. Chuyên gia nhiếp ảnh không thể nào giải thích được điều này. Nếu cuộn phim không phải du hành vượt thời không đến năm 2006 mà chỉ để trong môi trường bình thường thì quả thực là nó được bảo quản tốt đến kỳ lạ.

Tiến sĩ tâm lý học và chuyên gia tiếp tục kiểm tra tấm ảnh, phát hiện được trong hình còn có một cặp đôi rất trẻ chụp chung với nhau. Người con trai chính là Sergey, còn cô gái đứng cạnh anh chính là người bạn gái Valentina. Bộ đồ của Sergey trong tấm hình hoàn toàn giống với khi xuất hiện tại năm 2006.

Người thanh niên thần bí biến mất

Vào ngày 25/4/2006, sau khi nói chuyện với Tiến sĩ Kutrikov lần cuối cùng, Sergey đã quay trở lai phòng. Vì câu chuyện này quá ly kỳ nên vị tiến sĩ này cần xem xét lại, ông ấy không biết có nên tin người thanh niên đến từ năm 1958 hay không.

Còn Sergey sau khi trở về phòng được một lúc, nhân viên y tế liền phát hiện anh đã biến mất. Cảnh sát kiểm tra camera theo dõi thì chỉ thấy được hình ảnh lúc Sergei bước vào phòng chứ không có hình ảnh ghi lại Sergey ra khỏi phòng.

Nhân viên y tế nói rằng, các cửa sổ của bệnh viện tâm thần đều được hàn lại và ngay cả khi cửa sổ được mở ra thì anh ấy cũng không thể nhảy ra ngoài được, bởi vì ngoài cánh cửa sổ còn có song sắt. Nhưng Sergey lại biến mất.

Mọi người suy đoán chỉ có một khả năng, đó chính là Sergey đã quay lại thời đại của anh ấy. Người con gái trong tấm ảnh là bạn gái của Sergey, nếu như cô ấy vẫn còn sống thì đây chính là đầu mối duy nhất, là nhân chứng lịch sử duy nhất.

Cảnh sát rất may mắn tìm được Valentina. Năm 2006 Valentina đã 74 tuổi. Valentina đã mở album ảnh của mình, bên trong có một bức ảnh chụp với Sergey vào năm 1958, hoàn toàn giống với bức ảnh rửa được từ cuộn phim mà Sergey đã đưa cho Tiến sĩ Kutrikov. Valentina ngạc nhiên và hỏi Tiến sĩ Krudykov từ đâu mà ông được có bức ảnh này. Sau đó Valentina đã xác thực bức ảnh này.

Theo lời kể của Valentina, Sergey đã nói với bà rất nhiều chuyện kỳ lạ, ông nói rằng bản thân có thể nhìn thấy tương lai, thậm chí miêu tả cho bà về lò vi sóng của 50 năm sau, chỉ sử dụng bằng điện, mấy phút là có thể nấu chín được đồ ăn, vừa nhanh vừa tiện. Mãi đến tận sau này, lúc Valentina sử dụng lò vi sóng thì đột nhiên nhớ đến lời của Sergey, không biết là Sergey lúc trước làm sao biết được chuyện lò vi sóng này.

Năm 2006, Valentina đã 74 tuổi và bà đã chứng minh tính xác thực của bức ảnh. Valentina nói rằng sau khi Sergey mất tích vào năm 1958, ông ấy lại xuất hiện và nói với bà nhiều điều kỳ lạ. (Ảnh cắt từ video)

Đoạn ghi âm xác minh cuộc phỏng vấn khoa học viễn tưởng năm 1960

Trong chương trình tìm kiếm “Nhà du hành vượt thời gian” (Time Traveler) của Đài truyền hình Ukraine “1 + 1”, nhóm điều tra tìm thấy một cuộn ghi âm truyền thanh của đài truyền hình Kiev tại cơ quan hồ sơ quốc gia tại Kiev, đây là một chương trình talk show nói về khoa học viễn tưởng. Trong đoạn ghi âm, Sergey đã được đài phát thanh phỏng vấn, ông nói về sự phát triển của khoa học và công nghệ sau 40 năm,  anh nhắc đến lò vi sóng, điện thoại di động, tim nhân tạo và công nghệ khác. Sergei nói, 40 năm sau thế giới có thể sản xuất tim nhân tạo sử dụng bằng pin, mô phỏng mạch máu của cơ thể tự nhiên.

Người phỏng vấn rất ngạc nhiên, nói với Sergey: “Nếu anh không thể giải thích được những việc này, tôi nhất định cho rằng anh là một kẻ điên“.

Khi Sergei nói về tim nhân tạo, điều khiến các nhà điều tra ngạc nhiên là anh sử dụng các thuật ngữ hiện đại mà chưa xuất hiện trong giới y học Liên Xô thời bấy giờ, thậm chí cả các bác sĩ cũng chưa từng được nghe về nó.

Phát lại video năm 2006, khi ngồi bên ngoài văn phòng chờ để gặp Tiến sĩ Kutrikov, Sergey đã quan sát bệnh nhân và nhân viên y tế sử dụng lò vi sóng, cuốn tạp chí cho nhân viên và bệnh nhân mà anh đọc cũng trùng hợp nói về tim nhân tạo, Sergey cũng liên tục hỏi nhân viên y tế và các bệnh nhân khác về các vấn đề liên quan điện thoại di động. Do đó, các nhà nghiên cứu suy đoán rằng, Sergey có thể đã ghi nhớ những thông tin này và kể lại khi trở lại thời Liên Xô cũ.

Nhóm điều tra của phim tài liệu “Nhà du hành thời gian” (Time Traveler) gồm các nhà tâm lý học, khoa học vật lý, chuyên gia nhiếp ảnh, cảnh sát và bằng chứng là các nhân chứng, các đoạn video theo dõi, bản ghi âm.

Du hành vượt thời gian là chủ đề thần bí, cho đến ngày nay vẫn đang được khám phá. Các học giả khám phá và nghiên cứu, cũng như mở một cánh cửa nhỏ về bí ẩn này, cho thấy thế giới tuyệt vời và kỳ diệu. Cuối cùng cũng sẽ có một ngày bí của mật thời gian sẽ dần dần được tiết lộ.

Video về chuyến du hành vượt thời gian của Sergey

Tiểu Minh, theo Epoch Times

Tiết lộ gây sốc về dự án Du hành Thời gian của quân đội Mỹ

Trong khi chúng ta đang sống trong một thời điểm hỗn loạn, khi vũ khí nguyên tử, hóa học mà con người đang ra sức phát triển sẽ đe dọa chính sự sống còn của chúng ta…thì có một luật sư nổi danh người Mỹ tuyên bố, ông đã từng được sử dụng một công nghệ tân tiến để du hành thời gian trong một dự án tối mật mang tên Pegasus (Ngựa Thần). 

Tiết lộ gây sốc về Dự án Du hành Thời gian của quân đội Mỹ. Ảnh 1
Du hành thời gian là một vấn đề “nóng” thu hút sự quan của công chúng và giới truyền thông. (Ảnh qua Taringa)

Du hành xuyên thời gian từ cổng không gian dẫn tới một chiều không gian khác không còn là chủ đề xa lạ và mới mẻ, hay chỉ tồn tại trong các câu chuyện thần bí, khoa học viễn tưởng nữa. Thậm chí ngay cả những nhà khoa học nổi tiếng như Einstein hay Stephen Hawking cũng tin vào khả năng du hành thời gian.

Có người hoài nghi, liệu có chút sự thật nào về khả năng di chuyển con người đến một nơi xa xôi chỉ bằng ý chí, và thậm chí có thể di chuyển họ đến một chiều thời gian khác. Nhưng có khá nhiều người ủng hộ thuyết này, bởi họ đơn giản nghĩ rằng điều đó có thể xảy ra, hoặc có người đã từng tham gia vào chuyến du hành tương tự như thế. Điển hình là trường hợp lạ lùng và chưa được kiểm chứng của Tiến sĩ Andrew D. Basiago, người đã từng tham gia vào chương trình xuyên không của Chính phủ Mỹ.

Dự án Ngựa Thần

Andrew D Basiago
Andrew Basiago tuyên bố ông là một phần của Dự án Pegasus. (Ảnh qua Dailystar)

Theo Basiago, từ năm 1962 – 1972 là thời kỳ Mỹ tập trung chạy đua chinh phục không gian vũ trụ, Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ đã cho ra đời một dự án tuyệt mật có tên là Pegasus (Ngựa Thần), được xây dựng dựa trên việc tiếp cận lý thuyết lượng tử học Tesla, dẫn tới sự phát triển thành công của một số công nghệ tiên tiến cho phép dịch chuyển tức thời qua không gian ba chiều.

Basiago tiết lộ rằng, CIA đã tích cực đào tạo các em nhỏ trở thành thế hệ đầu tiên cho những chuyến du hành thám hiểm thời không. Sứ mệnh của nhóm trẻ là liên lạc với các cố Tổng thống Mỹ, di chuyển tới sao Hỏa và kết nối với các thực thể ngoài Trái Đất.

Vì sao CIA lại chọn trẻ em, theo Basiago, đây là những ứng cử viên lý tưởng, phù hợp cho sứ mệnh này vì tâm lý trẻ nhỏ ít bị ấn tượng trong các trải nghiệm. Chính phủ Mỹ đã quan tâm đến các tác động của du hành thời gian lên cơ thể và tâm trí của người trưởng thành, vì họ dễ bị mất trí và điên loạn. May mắn thay, trẻ em ngây thơ ít có kinh nghiệm sống, nên tác hại của các cuộc thử nghiệm sẽ giảm đi rất nhiều.

Khi Basiago tham gia vào chuyến du hành đầu tiên, ông nói rằng cha ông đã từng làm việc nhiều năm tại Curtiss-Wright ở New Jersey, nơi ông lần đầu tiên được tiếp xúc với cổng không gian mà sau này sẽ sử dụng để dịch chuyển thời gian-không gian.

Chronovision: Cỗ máy thời gian

Ông cho biết, thời kỳ đầu, ông được chọn để giúp thực hiện một cuộc thử nghiệm bằng cách sử dụng công nghệ Wormhole – là một phần của vật lý lý thuyết có khả năng xuyên không, cho phép di chuyển qua khoảng không rộng lớn chỉ trong nháy mắt hoặc đi qua chính thời gian hiện tại. Theo Basiago, Cỗ máy Chronovision với tính năng giam giữ Plasma từng đưa ông đến địa danh Gettysburg vào năm 1863.

Kết quả hình ảnh cho time machines in fiction
Cỗ máy thời gian. (Ảnh qua Infinityexplorers.com)

Cổng không gian như Basiago mô tả có “năng lượng tiềm ẩn và thâm nhập trong vũ trụ”, có thể truy cập thông qua một cỗ máy gồm có “hai rào hình elip màu xám” cao khoảng 2,4m, chiều ngang 3m, Sau khi kích hoạt, cỗ máy thời gian tạo ra một “xoáy đường hầm” từ năng lượng bức xạ có khả năng uốn cong thời gian. Công nghệ này do nhà khoa học lỗi lạc Nikola Tesla phát minh. Ông là nhà khoa học huyền thoại tiên phong trong lĩnh vực điện cơ khí, và một trong những phát hiện của ông là Lượng tử Năng lượng.

Kết quả hình ảnh cho nikola tesla
Nikola Tesla là người đã phát minh ra công nghệ dịch chuyển tức thời. (Ảnh qua Torhotelgroup.gr)

Ngay khi Nikola Tesla qua đời vào năm 1943, CIA đã thu giữ được khá nhiều tài liệu về công nghệ dịch chuyển tức thời trong căn hộ của ông tại New York. Basiago kể lại rằng, những người tham gia dự án Ngựa Thần bước vào vùng lượng tử năng lượng, tất cả đều cảm nhận thấy đang ở bên trong một xoáy hút đường hầm trước khi được đưa đến đích đã định sẵn của họ.

Lộn lại quá khứ, đi tới tương lai trong nháy mắt?

Trong lần thử nghiệm du hành xuyên không đầu tiên vào năm 1970, Basiago được đưa đến thủ phủ Albuquerque bang New Mexico và có mặt tại một bữa ăn trưa mà ở đó George HW Bush đã được thông báo rằng ông sẽ là tổng thống trong tương lai. Trong phút chốc, bằng cách nào đó Basiago lại lộn trở lại căn phòng nơi cậu bé thực hiện cuộc thử nghiệm. Một người phụ nữ hướng dẫn cho bọn trẻ luyện tập nhiều lần bằng cách đi “du lịch” chỉ trong vài phút đồng hồ để quen với cảm giác.

Những lần thử nghiệm tiếp theo, Basiago tuyên bố, ông đã được chọn để tới địa danh Gettysburg vào năm 1863 – chỉ vài phút trước khi Abraham Lincoln đọc bài diễn văn mở đầu cuộc nội chiến Mỹ. Ông cũng có mặt tại doanh trại của tướng G.Washington trong cuộc Chiến tranh Cách mạng Mỹ, và thậm chí Basiago còn tiến nhập vào thời đầu kỷ nguyên khi Chúa Jesus truyền đạo. Basiago tiết lộ rằng, CIA đã muốn kiểm tra tính xác thực của 3 sự kiện lịch sử này, và thực tế họ thu thập được rất nhiều chi tiết qua những đứa trẻ tham gia thí nghiệm “chuyển dịch lượng tử” trong đó có Basiago.

Kết quả hình ảnh cho george washington in war
Tướng G.Washington cùng đội quân của ông tại trại Valley Forge. (Ảnh: www.pinterest.co.uk)

Bản thân Basiago cũng không hề biết rằng mình đã có chuyến du hành xuyên không và chỉ khi nhìn bức ảnh chụp vào năm 1863, ông mới phát hiện ra bản thân mình năm 10 tuổi chính là đứa trẻ đứng giữa, mắt nhìn sang bên phải – trong khi thời điểm thực hiện chiến dịch diễn ra vào mùa xuân năm 1972, tại phòng thí nghiệm ở Đông Hanover, New Jersey, dưới sự chỉ đạo của Tiến sĩ Stirling Colgate (đã mất năm 2013).

Basiago thuật rằng, khi có mặt tại Gettysburg, ông đã bị mất giày, đi chân trần và mặc một bộ đồ lỗi mốt trước khi vào cửa hiệu Union và chọn được bộ đồng phục cornet và đôi giày quá khổ duy nhất còn lại trong cửa hàng.

Basiago phát hiện ra bản thân mình năm 10 tuổi chính là đứa trẻ đứng giữa, mắt nhìn sang bên phải. (Ảnh: Matematicas Imagenes)

Basiago cho biết, những đứa trẻ tham gia cuộc thử nghiệm không chỉ lộn về quá khứ, mà còn được đưa đến tương lai vào năm 2045, nơi ông được chuyển dịch đến một tòa nhà làm bằng loại hợp kim quý hiếm Vonfram. Tại đây, sứ mệnh của ông là nhận một chiếc hộp nhỏ có chứa vi phim, trong đó là một “kho tàng” kiến thức về mọi dữ kiện lịch sử, rồi đưa trở lại những năm 1970.

Basiago tuyên bố rằng, năm 1971, ông đã được xem những hình ảnh của cuộc tấn công vào Tòa tháp đôi Trung tậm Thương mại Thế giới ngày 11/9/2001. Những hình ảnh về cột khói và tòa nhà sụp đổ đã nhận được từ tương lai và được đưa trở về thực tại để phân tích, đánh giá.

Dữ kiện lạ thường

Bên cạnh mối liên hệ của Basiago với dự án Pegaus, ông tự coi mình là người tiên phong khám phá cuộc sống trên Sao Hỏa. Ông tuyên bố rằng, trong những năm 1980, ông đã được dịch chuyển tức thời lên Sao Hỏa như là một trong những đại sứ của Trái Đất để liên hệ với nền văn minh hiện hữu của các hành tinh lân cận với Trái Đất. Và tại một thời điểm nào đó trong sứ mệnh trên Sao Hỏa, ông đã thấy khủng long thằn lằn đầu rắn, và dường như những con khủng long trên Sao Hỏa không có vẻ gì kỳ lạ.

Ông cũng tiết lộ rằng, trong số những người thực hiện sứ mệnh lên Sao Hỏa vào năm đó với ông, có Tổng thống Barack Obama. Tiết lộ này của ông đã gây ra cơn chấn động trên các phương tiện truyền thông, họ kêu gọi Nhà Trắng, đặc biệt là Tổng thống Obama có phản ứng chính thức trước thông tin này. Tất nhiên, Nhà Trắng như thường lệ vốn luôn phủ nhận những thông tin liên quan tới các thực thể ngoài Trái Đất, đã không trả lời.

Tuy vậy Basiago vẫn không e ngại mà tiết lộ thêm rằng, trong sứ mệnh chuyển dịch tức thời lên Sao Hỏa, ông Obama đã sử dụng cái tên Barry Soetero và tới Sao Hỏa lần đầu vào năm 19 tuổi. Nhiệm vụ của Soetero là liên lạc với các loài động vật Sao Hỏa và ngoài Trái Đất sống trên đó. Trong một cuộc thảo luận vào năm 2012, Basiago tuyên bố, CIA có các bằng chứng về nền văn minh tiên tiến trên sao Hỏa, với các bức ảnh chụp những khối đá trên Sao Hỏa dường như được bàn tay nào đó chạm khắc.

Kết quả hình ảnh cho barack obama barry soetoro
ID card của Barack Obama mang cái tên Barry Soetero vào năm 1981. (Ảnh qua DHOS)

Đối với chính phủ, việc sử dụng công nghệ lượng tử cũng là một phương thức để kiểm soát chính trị. Theo Basiago, lợi ích của một cá nhân nào đó trong tương lai sẽ được thông báo sớm về vai trò của họ trong tương lai. Các vị tổng thống Mỹ khác như Jimmy Carter và Bill Clinton cũng từng có những chuyến thăm tương lai vào năm 1982, Tổng thống Obama đã được tiếp cận với điều này khi ông vẫn còn là sinh viên tại ĐH UCLA.

Một dữ kiện lạ thường nữa mà Basiago tin tưởng, trong khoảng thời gian từ nay cho đến năm 2028, ông sẽ được bầu làm Tổng thống hoặc phó Tổng thống Mỹ. Thông tin này do chính những thành viên trong tổ chức CIA thời ấy tiết lộ cho ông. Đáng tiếc là Basiago đã không vượt qua được cuộc bầu cử sơ bộ năm 2016 nên những nỗ lực của ông để được bầu làm Tân Tổng thống đã thất bại, do ông không quyên đủ số tiền tối thiểu 5 triệu đôla cho quỹ vận động tranh cử.

Một thập kỷ để hoàn thành lời tiên tri 

Basiago sẽ còn 10 năm nữa để hoàn thành lời tiên tri trong việc giành được một trong hai vị trí hàng đầu tại Nhà Trắng, trong chiến dịch bầu cử tiếp theo vào năm 2020. Nếu trang web chính thức Andi2020.net của ông thành công, ông hy vọng sẽ mở ra một kỷ nguyên cải cách thực sự và đổi mới cho người Mỹ, trong đó sự thật sẽ được công khai.

Basiago sẽ còn 10 năm nữa để hoàn thành lời tiên tri. (Ảnh qua Vice Motherboard)

Không giống như các ứng cử viên khác, Basiago đã cho đăng công khai rất chi tiết 100 chính sách mà ông dự định thực thi nếu được bầu làm Tổng thống. Phần lớn các chính sách này tập trung đầu tư cho giáo dục công, phát triển năng lượng xanh, chính sách trung lập và sự khoan dung tôn giáo. Tuy nhiên, việc đầu tiên Basiago có thể thi hành ngay khi nhậm chức chính là sẽ giải mật toàn bộ những gì liên quan đến công nghệ du hành thời gian, trong đó bao gồm Chronovisor – cỗ máy dịch chuyển ba chiều mà Basiago tiết lộ đã giúp ông nói chuyện với Tổng thống Mỹ George Washington.

Vì tiềm năng to lớn của chuyển dịch lượng tử, Basiago cho rằng, việc tiết lộ công nghệ này sẽ giúp giải quyết vấn đề giao thông vận tải trên thế giới bằng cách di chuyển người và hàng hóa chỉ trong nháy mắt. Ông nói thêm rằng, dù việc du hành thời gian sẽ không áp dụng cho mọi công dân vì nó sẽ tạo ra một sự hỗn loạn nguy hiểm, nhưng công chúng có quyền được biết những gì đang thực sự xảy ra, sự thật về các chuyến thăm dò trong không gian của Mỹ, về các nền văn minh tiên tiến ở các hành tinh khác và sự hiện diện của người ngoài hành tinh đang sống trên Trái đất chúng ta.

Ngoài ra, Basiago cũng yêu cầu chính phủ phải tiết lộ sự thật với công chúng rằng, nhân loại đang bị dẫn dắt mù quáng bởi sự hiện diện của các thực thể ngoài Trái đất, kể từ khi chúng ta phát triển và sử dụng vũ khí nguyên tử vào thập niên 40 thế kỷ trước. Theo Basiago, việc sử dụng vũ khí nguyên tử tạo ra mối hiểm nguy cho không gian vũ trụ…

Liệu những gì Basiago tiết lộ có thật hay không, có thể chúng ta không bao giờ biết được. Khoa học vẫn còn chịu sự giới hạn của tri thức con người, nhưng có một con đường tâm linh mà tất cả người tu luyện đều biết rằng, còn có rất nhiều thời gian – không gian tồn tại song song với thời gian – không gian hiện tại của chúng ta, và còn có nhiều nền văn minh tiên tiến hiển hiện bên ngoài Trái Đất.

Theo DKN.