Chuyên mục: Khoa Học Huyền Bí

5 khám phá khoa học thách thức các định luật vật lý hiện có

Con người luôn luôn có khát vọng tìm hiểu những kiến thức mới. Tuy nhiên, có nhiều khám phá khoa học đã thách thức, thậm chí chống lại những lý thuyết của ngành vật lý hiện nay. Hãy cùng xem 5 ví dụ dưới đây…

5/ Mặt Trời có thể làm cho thứ khác nóng hơn chính nó

(Ảnh: Nasa)
(Ảnh: Nasa)

Chúng ta vẫn thường nghĩ rằng năng lượng sẽ di chuyển từ vật có mức năng lượng cao tới vật có mức năng lượng thấp hơn. Đó cũng là điều được nói đến trong định luật thứ hai của nhiệt động lực học. Cũng giống như trong thực tế, nếu bạn cảm thấy quá nóng vì đống lửa trại được đốt lên, bạn sẽ phải di chuyển xa đống lửa, không cần các nhà khoa học nói cho bạn rằng năng lượng nhiệt di chuyển từ vật nóng hơn sang vật lạnh hơn. Mọi nơi trong vụ trụ này đều như vậy, ngoại trừ Mặt Trời.

Có sự khác biệt giữa điều khoa học khẳng định và những gì thực sự xảy ra với Mặt Trời, đó là sức nóng của vầng hào quang xung quanh Mặt Trời (thường gọi là quang quyển).

Các dữ liệu thu được chỉ ra rằng, nhiệt độ của bề mặt Mặt Trời chỉ ở 5.500 độ C. Khi ánh sáng đi từ bề mặt của Mặt Trời đến tầng cách bề mặt chỉ vài trăm km, nhiệt độ của nó lên đến 1 triệu độ C. Về lý thuyết, nguồn nhiệt của Mặt Trời – là nơi xảy ra các phản ứng hạt nhân và plasma cần có nhiệt độ cao nhất chứ không phải khoảng chân chân không xung quanh nó. Đây là trường hợp một vật gây ra sức nóng lại lạnh hơn thứ mà nó thiêu đốt.

Về cơ bản, định luật thứ hai của nhiệt động lực học bị phá vỡ hoàn toàn khi ánh sáng rời khỏi Mặt Trời vài trăm km và chưa ai lý giải được nguyên nhân. Điều này vẫn gây đau đầu cho các nhà vật lý năng lượng Mặt Trời trên toàn thế giới kể từ khi họ phát hiện ra sự thực này vào năm 1939.

4/ Trong thế giới vi mô, lực hấp dẫn không còn tác dụng

(ảnh: cracked.com)
(ảnh: cracked.com)

Có những trật tự vẫn tồn tại bao năm trên thế giới: những con chó sói ăn thịt gà rừng, Trái Đất quay quanh Mặt Trời và mặt trăng quay quanh Trái Đất, và lực hấp dẫn nghiễm nhiên được công nhận trên mặt đất này.

Nhưng khi bạn quan sát thế giới ở gần hơn, lực hấp dẫn dường như có vai trò rất nhỏ. Chà một quả bóng trên áo len và cho nó lướt qua một mảnh giấy, các điện tích trên áo len được chuyển sang quả bóng sẽ hút các mảnh giấy rời khỏi mặt bàn, vượt qua sức kéo lực hấp dẫn của Trái Đất.

Vậy mà, cũng cái lực hấp dẫn đó lại có thể giữ Mặt Trăng quay quanh Trái Đất ở khoảng cách trung bình lên tới 382.500 km.

Khi xem xét thế giới vi mô, lực hấp dẫn là lực yếu nhất trong 4 loại lực cơ bản của tự nhiên (bao gồm lực tương tác mạnh, lực tương tác điện từ, lực tương tác yếu và lực hấp dẫn), nhưng lại hoạt động ở khoảng cách xa.

Trong bài toán hệ thứ bậc khối lượng liên quan đến hạt Higgs của vật lý hạt, lực hấp dẫn có xu hướng phá hủy các hệ thứ bậc khoa học, bởi vì khi càng quan sát gần hơn, lực hấp dẫn dường như càng biến mất. Trong vật lý hạt, lực hấp dẫn nhỏ hơn lực tương tác yếu 10^32 lần.

(Ảnh: old.nvinoticias.com)
(Ảnh: old.nvinoticias.com)

Khối lượng của Trái đất là 5,97 x 10^24 kg, nó tạo ra lực rất lớn và tác động lên mọi vật, giúp mọi vật đứng trên bề mặt Trái Đất. Tuy nhiên những điện tích nhỏ bé, có trọng lượng vô cùng nhỏ vương trên chiếc áo len lại có thể chiến thắng lực hấp dẫn của Trái Đất, điều này cũng tương tự như một đứa trẻ còi cọc có thể nâng cả tòa nhà cao tầng vậy.

3/ Vệ tinh tăng tốc độ không có lý do

(ảnh: cracked.com)
(ảnh: cracked.com)

Định luật bảo toàn năng lượng phát biểu rằng năng lượng không thể được tự sinh ra và tự mất đi, nó chỉ chuyển từ hệ này sang hệ khác. Vì vậy, nếu không được thêm năng lượng, sẽ không bao giờ một hệ có được nhiều năng lượng hơn so với năng lượng ban đầu.

Tuy nhiên, trong một số trường hợp định luật này không còn đúng nữa. Có một số báo cáo đã chỉ ra rằng, trong không gian vũ trụ, khi một vật thể bay ngang qua Trái Đất, tốc độ của nó tự dưng lại tăng lên mà không rõ lý do.

Hiện tượng này được gọi là “bay ngang bất thường”, nó đã xảy ra với một số tàu vũ trụ của NASA như Galileo, NEAR, Pioneer 10 và Pioneer 11. Các tàu vũ trụ này đã trải qua hiện tượng gia tăng tốc độ không thể giải thích khi chúng đang đi qua Trái đất ở một khoảng cách đủ xa, không bị ảnh hưởng bởi lực hấp dẫn. Điều này xảy ra giống như có một lực từ vũ trụ tác động lên hệ thống tăng tốc của các con tàu.

Điều bất thường này được phát hiện đầu tiên vào năm 1980. Các nhà khoa học đã dành nhiều năm tiếp theo để cố gắng tìm hiểu điều gì đang xảy ra. Họ đã xem xét tất cả các loại năng lượng mà con người đã từng khám phá, cho đến nay, không có lời giải thích nào được đưa ra.

2/ Định luật bảo toàn năng lượng không đúng với hố đen?

(ảnh: cracked.com)
(ảnh: cracked.com)

Hãy tưởng tượng rằng bạn có một chiếc xe tải đồ chơi, bạn đập vỡ nó ra từng mảnh với một cái búa. Tổng khối lượng của chiếc xe không đổi, nó chỉ biến thành từng mảnh vỡ. Nhưng khi bạn nâng búa của mình từ đống mảnh vỡ sau sau nhát đập cuối cùng, bạn thấy rằng các mảnh vỡ đã hoàn toàn biến mất.

Bạn biết điều này không thể xảy ra vì mọi vật không thể tự sinh ra hoặc tự mất đi. Vì vậy, vào cuối bộ phim kẻ hủy diệt 2 (Terminator 2), khi người máy T-1000 rơi vào bể quặng nóng chảy, hồ quang phát sáng và các thành phần nguyên tử của người máy T-1000 bơi quanh bể quặng một cách tuyệt vọng trước khi chúng biến mất. Điều tương tự cũng xảy ra khi một tiểu hành tinh bị hút vào một hố đen. Mặc dù chúng ta không thể nhìn thấy bên trong hố đen, chúng ta có thể nói tiểu hành tinh đó không bị phá hủy bởi vì khối lượng của hố đen đã tăng thêm bằng một tiểu hành tinh. Điều này cũng tương tự như diễn biến của phim kẻ hủy diệt. Nhưng khi một hố đen bốc hơi, các nhà khoa học sẽ đặt câu hỏi, điều gì đã xảy ra với các thứ mà hố đen đã nuốt trước đó?

(Ảnh: Nasa)
(Ảnh: Nasa)

Chúng ta biết rằng hố đen bốc hơi theo thời gian, “bốc hơi” có nghĩa là “biến mất, không tồn tại” cùng với tất cả mọi thứ nó đã hút vào. Vẫn chưa có một sự giải thích khoa học rõ ràng của sự việc này. Nhưng hãy giả thiết rằng khi các hố đen bốc hơi, tất cả vật chất bị nó hút sẽ bay ra theo hình thức bức xạ. Nhưng nhà khoa học Stephen Hawking cho rằng hố đen chỉ phát ra các bức xạ năng lượng nhiệt ngẫu nhiên.

Theo cách hiểu của người không có chuyên môn: nếu bạn thấy mình đang ở vị trí bị lỗ đen hút vào, bạn biến mất hoàn toàn, và bằng chứng về sự tồn tại của bạn cũng sẽ biến mất.

Nếu ta ném người máy T-1000 vào một lỗ đen, và các người máy phải đi ngược thời gian trước khi điều đó xảy ra, nhưng T-1000 sẽ không tồn tại trong thời gian đó. Ngay cả với việc du hành thời gian, vũ trụ cũng không biết phải đưa nó trở lại bằng cách nào vì hố đen đã nuốt chửng và làm nó tan biến.

1/ Các hạt vi mô biết được khi nào chúng bị quan sát

(ảnh: cracked.com)
(ảnh: cracked.com)

Zeno (496 – 430 TCN), nhà triết học sinh ra và lớn lên tại thành phố Elea, miền Tây Nam nước Ý ngày nay, trước khi chết đã để lại 3 nghịch lý. Trong đó, nghịch lý thứ ba được mang tên “Mũi tên bay” nói rằng: Một mũi tên đang bay sẽ đứng yên nếu ta quan sát nó ở từng khoảnh khắc riêng lẻ, do đó mũi tên không hề di chuyển gì cả.

Khoảng năm 1200, triết gia người Ý Thomas Aquinas đã chứng minh được nghịch lý này là sai. Tuy nhiên, với thế giới lượng tử, có vẻ như Zeno đã đúng. Hiện nay đã có một số thí nghiệm phát hiện rằng hiệu ứng Zeno lượng tử là có thật.

Uranium là nguyên tố không ổn định và phân rã theo thời gian, quá trình này gọi là phân rã phóng xạ. Nhưng các nhà khoa học ở Texas đã phát hiện rằng: sự phân rã uranium sẽ diễn ra một cách bình thường nếu họ không quan sát chúng. Nhưng bất cứ khi nào họ quan sát chúng, quá trình phân rã uranium sẽ không diễn ra như dự tính.

Sau hai ngày quan sát mà không thấy sự phân rã uranium như lẽ thường, phòng thí nghiệm đã báo cáo phát hiện của họ cho các phòng thí nghiệm khác. Các phòng thí nghiệm khác cũng tiến hành thử nghiệm việc quan sát uranium một cách nghiêm ngặt và chặt chẽ. Nhưng tất cả đều có cùng một kết quả: một số nguyên tử uranium sẽ không phân rã nếu ta quan sát chúng.

Hiện tượng này thách thức quy luật entropy nhiệt động lực, cũng như quan niệm thông thường. Phải chăng ý thức của chúng ta có vai trò gì đó trong việc ngăn cản các đồng vị phóng xạ phân rã, hay chúng ta có thể dừng thời gian khi quan sát các hạt vi mô này?

Ở mức độ lượng tử, nồi nước sẽ không sôi nếu bạn quan sát nó (Ảnh: youtube)
Ở mức độ lượng tử, nồi nước sẽ không sôi nếu bạn quan sát nó (Ảnh: youtube)

Có thể thấy, 5 nghịch lý này chủ yếu xảy ra ở 2 khu vực: vĩ mô (vũ trụ) và vi mô (các hạt nguyên tử, phân tử). Do đó có thể nói rằng, các quy luật mà chúng ta đã từng biết sẽ có thể không còn đúng khi tăng phạm vi ra cực đại, hoặc cực tiểu. Khám phá vũ trụ to lớn và thế giới nano siêu nhỏ vẫn luôn là 2 phương hướng tiên phong trong khoa học của con người, ở đó vẫn còn vô số những điều bí ẩn.

Thiện Tâm tổng hợp

Xem thêm :

Tu luyện – một nền khoa học bị lãng quên

Thử kể một chuyện cười:

Bằng phương pháp “Đồng vị phóng xạ”, một nhóm các nhà khảo cổ tiến hành khai quật tại 3 nơi được coi là có cùng niên đại 600 năm: (Moscow) Nga, Washington, D.C (Mỹ) và Ninh Bình (Việt Nam).

  • Địa điểm 1: tại Nga họ tìm được mấy mẩu dây đồng, họ kết luận: 600 năm trước người Nga đã có biết sử dụng điện thoại hữu tuyến sợi đồng.
  • Địa điểm 2: ở Mỹ tìm được nhiều mảnh thủy tinh có dạng sợi, họ cho rằng: 600 năm trước ở Mỹ đã có cáp quang.
  • Địa điểm 3: ở Việt Nam, các nhà khảo cổ đào bở hơi tai mà không thấy gì. Họ khẳng định: 600 năm trước, ở Việt Nam đã có mạng… không dây.

Câu chuyện cười trên có lẽ nhiều người đã từng đọc qua, nghe thì có vẻ hài hước, nhưng nó nói lên 2 điều rất quan trọng trong giới khảo cổ:

1/ Nếu chỉ vài chục năm trước, chúng ta chưa biết tới công nghệ không dây, thì kết luận đối với địa điểm thứ ba sẽ là “xã hội sơ khai lạc hậu” chứ không phải “mạng không dây” tiên tiến cao cấp. Như vậy, phán xét khảo cổ là dựa trên so sánh với hiểu biết của khoa học đương thời.

2/ Nếu khi khai quật không tìm thấy dấu tích của máy móc hiện đại, liệu kết luận sẽ là một xã hội phát triển cao cấp hay nguyên thủy? Đánh giá khảo cổ còn dựa trên niềm tin chủ quan, cái khung nhận thức của nhà khảo cổ.

Dưới khung thời gian biểu của giới khảo cổ hiện nay, nhân loại chỉ phát triển theo một đường thẳng từ thấp lên cao, từ nguyên thủy săn bắt hái lượm, dần dần cho đến chúng ta hiện nay là “đỉnh cao” của nền văn minh. Nhưng hiện nay khoa học đã ngày càng phát triển, cộng với đó là những khám phá khảo cổ mới, cho thấy đã từng có những nền văn minh cổ đại phát triển vượt xa chúng ta, công nghệ của họ đúng là một loại “mạng không dây” như trong câu chuyện bên trên nhắc tới.

Dưới đây chúng ta sẽ bàn về 2 nền văn minh nổi tiếng và thảm họa mà họ đã phải đối mặt để thấy được cả một nền khoa học bị lãng quên.

Thành phố Atlantis và sự chuyển giao công nghệ

Hình vẽ mô phỏng thành phố Altantis, thủ phủ của lục địa Atlantis (ảnh: atlantisbolivia.org)

Câu chuyện xưa cũ về thành phố Atlantis chìm dưới đáy biển là một trong những truyền thuyết lâu đời nhất mà con người từng biết đến. Nhưng ở thời điểm hiện tại, chúng ta có thể khẳng định khá chắc chắn về sự tồn tại của Atlantis, kèm theo vị trí chính xác của thành phố cổ đại này.

  • Theo lời kể của nhà triết học Hy Lạp Plato, thời gian mà Atlantis bị hủy diệt là năm 9.600 TCN. Đây cũng là thời điểm xảy ra Trận lũ băng tan 1B (Meltwater pulse 1B). Khi đó, nước biển tăng mạnh vào cuối kỷ Dryas Trẻ, khi các tảng băng ở Bắc Âu và Bắc Mỹ rung chuyển và tan vào đại dương.
  • Vị trí của thành phố Atlantis – thủ phủ của lục địa Atlantis là ở bình nguyên Altiplano tại Bolivia. Altiplano là vùng đất không chỉ đáp ứng 24 tiêu chí về Atlantis mà nhóm các nhà khoa học tại hội nghị Milos Atlantis 2005 đưa ra, mà còn phù hợp với 50 đặc điểm mà Plato đề cập đến trong mô tả của của ông về Atlantis. [1]
Bình nguyên Altiplano ở Bolivia nằm trên dãy núi Andes ở Nam Mỹ (ảnh: atlantisbolivia.org)
Thành phố Altantis nằm trên phế tích Pampa Aullagas, ngay cạnh bình nguyên Altiplano, cách biển (hồ Poope) 2,5km (ảnh: atlantisbolivia.org)
Mảnh ghép vẽ bản đồ Thế giới Mới của Sebastian Münster, phiên bản thứ 2, năm 1961, có tên “Insula Atlantica” – “Đảo Atlantic” (ảnh: atlantisbolivia.org)
Chi tiết bản đồ của Münster chỉ rằng “Thế giới Mới” là “Đảo Atlantic”, cũng được biết đến như Brasil và Mỹ” (ảnh: atlantisbolivia.org)
  • Các di chỉ đá và hóa thạch sinh vật biển quanh hồ Titicaca, khu vực Peru và Bolivia đều cho thấy từng có một nền văn minh rất tiên tiến đã từng có mặt ở đây và bị nhấn chìm bởi Đại hồng thủy.

Như vậy, các bằng chứng về Atlantis đã khá đầy đủ.

Năm 9.600 TCN còn là thời điểm bắt đầu xây dựng một công trình cự thạch quy mô lớn còn lưu lại đến ngày nay. Đó là ngôi đền Gobekli Tepe ở Thổ Nhĩ Kỳ. Nếu xét trên khung thời gian biểu của giới khảo cổ, nó xuất hiện vào thời săn bắt hái lượm, trước khi xuất hiện thành thị hay nền văn minh. Vậy mà đây lại là một dự án quy mô lớn với nhiều vòng tròn đá khổng lồ, các khối cự thạch 40-60 tấn – chắc chắn phải có công nghệ, kỹ năng tổ chức cao cấp, quản lý nhân công, quy hoạch… Tất cả đều không phù hợp với bức tranh về thời đó.

(ảnh: Shutterstock)

Năm 9.600 TCN cũng là thời điểm nông nghiệp bỗng xuất hiện trong lịch khảo cổ của Thổ Nhĩ Kỳ, đã phát triển hoàn thiện một cách kỳ lạ dù trước đó không có dấu hiệu gì. Do vậy, ngôi đền Gobekli Tepe hẳn không phải là do ai đó bỗng dưng phát minh ra kiến trúc cự thạch và nông nghiệp giữa xã hội săn bắn hái lượm ở Thổ Nhĩ Kỳ khi đó. Theo nhà nghiên cứu nổi tiếng Graham Hancock, đây nhiều khả năng là một sự chuyển giao công nghệ từ những người sống sót trong một nền văn minh đã thành thục các kỹ năng cần thiết. Họ có thể đã dạy lại cho những người bạn ở vùng đất mới.

Vậy phải chăng những người sống sót trong thảm họa Atlantis đã cố gắng ghi lại dấu tích hay thậm chí phục dựng lại nền văn minh của họ? Graham Hancock cho rằng, rất có thể là vậy. Họ đã không thành công lắm, nhưng họ cũng đạt được những kết quả nhất định. Họ đã có một công trình khổng lồ kỳ vĩ lưu lại thông điệp cho hậu thế và mang ngành nông nghiệp tới vùng đất hoang sơ.

Bài học của Atlantis

Theo lời kể của Plato, thành phố Atlantis từng sở hữu nền văn minh cao cấp, nền nông nghiệp phát triển, tàu của họ đi khắp thế giới. Người dân Atlantis từng rất cao thượng và tài ba, họ đã xây những công trình to lớn và phát triển kiến thức uyên thâm trong mọi lĩnh vực, trở nên rất thịnh vượng và hùng mạnh. Nhưng rồi, sự suy đồi đã len lỏi vào xã hội làm họ trở nên xấu xa và tham lam. Họ bắt đầu truy cầu và lợi dụng quyền lực trên thế giới.

Plato nhấn mạnh rằng: Atlantis đã không còn hưởng thụ thịnh vượng với sự điều độ nên có.

Sự ngạo mạn đã làm cho Atlantis trở nên quá tự mãn, để rồi sau đó vũ trụ đã làm cho nó sụp đổ. Đại hồng thủy và động đất đã dìm thành phố sâu xuống lòng đại dương.

‘Con người phải bắt đầu lại, như những đứa trẻ không có ký ức của quá khứ’ – Plato

Rõ ràng, câu chuyện Atlantis là một bài học cho nền văn minh hiện đại. Chúng ta nên bỏ sự kiêu ngạo sang một bên và thôi tự mãn với các thành tựu công nghệ của mình.

Chúng ta thực sự có lẽ nên xem lại thái độ của mình đối với những câu chuyện lịch sử của tiền nhân. Giới hàn lâm đã quá nhanh chóng phủi tay và cho rằng họ đã hiểu biết tất cả mọi thứ, rằng chẳng còn gì bí ẩn trong câu chuyện đó. Nhưng tư duy đó sẽ ngăn chúng ta tìm hiểu sâu hơn. Chúng ta nên lắng nghe các manh mối của quá khứ dẫn đến các nền văn minh to lớn.

Không chỉ Atlantis, đối với các nền văn minh, các thành phố hay quốc gia trong lịch sử như Ai Cập cổ đại thời Cleopatra VII, Babylon cổ đại, Pompeii…[3], một mô-típ cứ lặp đi lặp lại:

Khi đạo đức suy đồi, xã hội sẽ bị diệt vong

Nếu đạo đức là một yếu tố tinh thần, thuộc về văn hóa, cách hành xử giữa người với người, vì sao sự sụp đổ của nền văn minh luôn gắn với đạo đức bị suy đồi? Câu chuyện về một nền văn minh cận đại hơn sẽ giúp lý giải câu hỏi này.

Đại Vũ trị thủy và sự chuyển giao công nghệ

Thời của Noah khi mà trận Đại hồng thủy xảy ra, theo tính toán dựa vào Kinh thánh, thì vào khoảng năm 2304 TCN (+/- 11 năm) [4]. Khi đó ở phương Đông cũng chính là thời của vua Thuấn và truyền thuyết Đại Vũ trị thủy. Đại Vũ sinh năm 2297 TCN, là người lập ra triều nhà Hạ.

Đại Vũ cùng những người giúp đỡ ông trị thủy (ảnh: Internet)

Truyền thuyết nói rằng cách đây khoảng bốn ngàn năm, thần nước đã giận dữ và mở một cái lỗ lớn ở trên trời làm mưa đổ trút xuống như sông, dâng cao đến hai nghìn mét, làm ngập Trái Đất qua rất nhiều năm. Khi Đại Vũ lớn lên và nhìn thấy người dân đau khổ khủng khiếp vì nước lũ, ông đã quyết định kiềm chế nó. Đại Vũ đã bỏ 13 năm cố gắng kiềm chế lũ, đã bao bọc được một khoảng rất rộng lớn, làm cơ sở cho nền văn minh Trung Hoa sơ khai phát triển.

Lịch sử đã đi qua, chỉ lưu lại rất ít dấu vết để chúng ta có thể xác nhận chắc chắn những câu chuyện cổ. Nhưng những khám phá khảo cổ mới đã cung cấp thêm bằng chứng:

  • Hàng trăm truyền thuyết ở khắp thế giới đều giống nhau một cách kinh ngạc khi nói đến trận Đại hồng thủy.
  • Tàn tích của con tàu Noah đã được tìm thấy tại Thổ Nhĩ Kỳ [6]
Con tàu nằm ở độ cao gần 2.000m thuộc dãy núi Ararat, gần biên giới Iran – Thổ Nhĩ Kỳ.
  • Dưới lòng đất có thể tồn tại những đại dương lớn, đây rất có thể chính là nơi nước đã rút đi sau Đại hồng thủy.
  • Có nhiều thành phố cổ đại chìm dưới đáy đại dương, được tìm thấy khắp nơi trên Trái Đất. Chúng có tuổi thọ hàng nghìn năm, cho thấy chắc chắn chúng đã được xây dựng từ khi mà mực nước còn rất thấp.
  • Ở Trung Quốc, bằng chứng về một trận lũ khủng khiếp vào thời đại của Đại Vũ cũng được tìm thấy.

Như vậy, ít nhất chúng ta đã có một vài sự trùng khớp giữa khoa học hiện đại và các truyền thuyết cổ đại. Rốt cuộc chỉ là vấn đề người ta có tin hay không mà thôi.

Câu chuyện ở Trung Hoa nói lên rằng, ít nhất đã có một nhóm người ở các vùng núi cao nơi đây đã sống sót qua thảm họa. Trong khi ở phương Tây, nền văn minh phải phát triển lại từ đầu.

Câu chuyện Đại Vũ giải thích vì sao trong nền văn hóa phương Đông cổ đại, vẫn còn rất nhiều kiến thức cao thâm như Thái Cực, Hà Đồ, Lạc Thư, Chu Dịch, Bát Quái… mà đến khoa học hiện đại vẫn còn chưa lý giải hoàn toàn được.

Cũng giống như trường hợp của Atlantis, đó chính là những tinh hoa của khoa học trong nền văn minh trước, đã được những người sống sót truyền lại, một nền khoa học siêu thường, rất khác so với nền khoa học duy vật ngày nay. Nhưng thật ra đó chính là những lời dạy rất quen thuộc trong nền văn hóa phương Đông.

Nền khoa học siêu thường chú trọng đạo đức

Thời cổ đại mấy nghìn năm trước, người Trung Hoa thường giảng rằng khi làm việc cần phải bình tâm tĩnh khí, chú trọng tới điều hòa hơi thở, thậm chí người đi học ở trường cũng cần biết thiền định, chú trọng tu tâm dưỡng tính.

Các ngành các nghề thời Trung Hoa cổ đại cũng đều giảng phải coi trọng đạo đức. Trong lĩnh vực sáng tác văn học có tôn chỉ rằng, coi trọng đức là yêu cầu đứng đầu nhất. Ở phương diện sáng tác âm nhạc cũng coi đạo đức là cái gốc của nội tâm con người, âm nhạc là sự thăng hoa của đạo đức. Ở phương diện trị quốc cũng nêu cao việc phải coi trọng đức, tiết chế tài chính, tuyển dụng người hiền đức…

Ngày nay, có rất nhiều thành quả nghiên cứu khoa học chỉ ra rằng, sức mạnh của đạo đức là không chỉ ở cảm nhận mà còn “chạm” đến được, bởi vì:

Vật chất và ý thức là một thể thống nhất.

Phàm là lời nói hay việc làm mà phù hợp với chuẩn tắc đạo đức thì đều có thể sản sinh ra tác dụng tích cực đối với mọi vật chất trong thế giới này.

Người phương Đông cổ đại từ lâu đã đúc kết điều này thành những lời khuyên thực tế: “Tướng do tâm sinh, cảnh tùy tâm chuyển”. Nó mang hàm nghĩa vô cùng sâu sắc, và ngầm chỉ ra rằng điều then chốt để vượt qua bất cứ hoàn cảnh khó khăn nào chính là ở tâm thái, vạn sự thành bại đều là ở tâm niệm, do đó cần luôn giữ cho tâm tĩnh lặng, hòa ái, từ bi… Vận mệnh của một người có thể được cải biến cho tốt hơn nếu “tâm” của người đó thay đổi tích cực hơn.

Hiện nay nền khoa học phương Tây đang ở ngưỡng cửa nghiên cứu về ý thức và các siêu năng lực của con người.

Bắt đầu từ “cuộc cách mạng lượng tử” khoảng 70 năm về trước, nhiều nhà khoa học đã tìm ra sự tương đồng đáng ngạc nhiên giữa các kết quả nghiên cứu của họ và một số bí ẩn hay gặp trong tôn giáo. Heisenberg, Bohm, Schrodinger, Eddington, Einstein – những nhà khoa học nổi tiếng – tất cả đều có quan điểm rằng thế giới là huyền bí và thuộc về tinh thần.

Theo nhà nghiên cứu tâm thần nổi tiếng David Hawkins (Hoa Kỳ), tùy theo cảnh giới tinh thần mà mỗi người có một tần số rung động khác nhau, từ 1-1000 Hz. Sự đau khổ, tuyệt vọng và oán thán có tần số thấp, khiến người ta mang bệnh, và ngược lại, hòa ái từ bi có tần số cao khiến mọi người khỏe mạnh, hạnh phúc. Điều này chẳng phải một cách nói khác của câu “tướng do tâm sinh, cảnh tùy tâm chuyển”?

Các cảnh giới khác nhau có năng lượng khác nhau

Như vậy, khoa học ngày nay đã đủ để lý giải một số khía cạnh trong những kiến thức cổ xưa. Nhưng để tiến xa hơn, chúng ta còn phải xét tới một bộ phận rất quan trọng mà nhiều tín ngưỡng đều nhắc đến:

Con mắt thứ ba – phương tiện của khoa học cổ đại

Để nhận thức vũ trụ, người xưa đã biết khai mở “con mắt thứ ba” – vốn là một bộ phận có sẵn trong cơ thể con người. Con mắt này, vốn nằm tại thể tùng quả trong bộ não, có khả năng vượt xa đôi mắt thông thường.

Thể tùng trong bộ não người (ảnh: Telese Winslow)

Đã từ lâu, các nhà khoa học đã nhận ra sự tương đồng giữa thể tùng và con mắt. Nhiều người trong số họ cho rằng thể tùng chính là một con mắt thoái hóa. Năm 1919, Frederick Tilney và Luther Fiske Warren trong một báo cáo đã công bố những đặc điểm tương đồng giữa thể tùng và con mắt người, khiến nó nhạy cảm với ánh sáng cũng như có các khả năng thị giác khác.

Cuốn tự truyện có tựa đề “The Third Eye” (Con mắt thứ ba) của lạt ma Tây Tạng Lobsang Rampa đã diễn tả cuộc phẫu thuật được tiến hành tại vị trí ấn đường (chỗ giao của hai hàng lông mày) của ông, giúp khai mở một số năng lực siêu thường chưa từng có trước đây.

Những người thực hành tu luyện còn cho rằng con mắt thứ ba của trẻ em từ 6 tuổi trở xuống rất dễ được khai mở và nhìn rất rõ ràng do các bé rất ngây thơ và trong sáng. Thanh niên trưởng thành rất khó khai mở mắt thứ ba do ham muốn vào “thất tình lục dục” của họ là rất lớn. Giải thích này khá trùng hợp với phát hiện của giới khoa học: trẻ em dưới 6 tuổi thì thể tùng ít bị vôi hóa, còn thanh niên trưởng thành hầu hết có thể tùng bị vôi hóa. Điều này có thể lý giải tại sao chỉ các nhà sư đắc đạo, các lạt ma Tây Tạng hay những người tu luyện tâm tính một cách chân chính mới có thể sở hữu những năng lực siêu thường.

Những người thực hành tu luyện có các phương pháp khai mở con mắt này. Khi đó, tùy theo đặc điểm của từng người mà họ có thể có thể xuất hiện những năng lực đặc biệt như: nhìn thấy các cảnh tượng từ xa (dao thị), nhìn thấy được quá khứ và tương lai (túc mệnh thông), thậm chí đọc được ý nghĩ người khác (tha tâm thông)… Trong các câu chuyện cổ của Phật giáo đều có ghi lại các khả năng này, mà hiện nay nhiều nghiên cứu khoa học cũng đã xác nhận được.

Chính vì sở hữu những năng lực siêu thường như vậy, nên thời Trung Hoa cổ đại, kiến thức đã đạt đến mức rất cao và uyên thâm.

3 quyển sách “Thiên – Địa – Nhân”

Cổ thư còn ghi chép lại, các kiến thức cao thâm được sáng tạo ra trong thời cổ đại Tam Hoàng Ngũ Đế mà Đại Vũ là vị vua cuối cùng của thời đó. Tam Hoàng chỉ Phục Hy, Nữ Oa và Thần Nông. Ngũ Đế là Hoàng Đế, Viêm Đế, Nghiêu, Thuấn, Vũ.

Thần Nông, thủy tổ của nông nghiệp và Đông y (tranh vẽ qua Epoch Times)

Có thể kể tới 3 quyển sách “Thiên – Địa – Nhân” xuất hiện trong thời đại này mà còn truyền tới ngày nay. [13]

“Kinh Dịch” được ví là Thiên Thư, cuốn sách này có thể tương thông với Trời, Thần và tương lai, từ cổ chí kim nó đã triển hiện khả năng dự đoán thần kỳ, chứa đựng nội hàm bác đại tinh thâm. Thiên Đạo được giảng trong sách chính là khởi nguồn của văn hóa, nó chỉ ra quy luật của vũ trụ, trong chớp mắt có thể nhìn thấu thế gian, 64 quẻ trong Kinh Dịch bao quát hết thảy mọi thứ trên thế giới, bao gồm cả sự phát triển của công nghệ thông tin ngày nay.

“Sơn Hải Kinh” được ví là Địa Thư, ghi chép lại địa lý toàn cầu, từ trước trận đại hồng thủy quyển sách đã đề cập đến bốn biển năm châu. Trong “Sơn Hải Kinh”, “Hải Nội Kinh” là phần viết về địa lý Trung Hoa, còn “Hải Ngoại Kinh” là phần viết về địa lý toàn cầu. Các chuyên gia khoa học đều xác thực điều này, quyển sách đã triển hiện ra một thời đại thần kỳ, khoa học kỹ thuật lúc đó phát triển hơn bây giờ rất nhiều. Hơn nữa, quyển sách còn ghi lại những đặc tính, Thần tính và hình thái của sinh mệnh ở các vùng địa lý khác nhau tại thời kỳ đó.

“Hoàng Đế Nội Kinh” được ví là Nhân Thư – quyển sách khởi nguồn của trung y. “Nội Kinh” mô tả rất chi tiết từ âm dương ngũ hành, cho đến kinh lạc của thân thể người. Mọi người đều là lương y, đều có khả năng tự bảo vệ sức khỏe của mình, nếu dùng để trị bệnh cho người khác thì cũng rất dễ dàng. Những ghi chép về kinh lạc được viết trong Hoàng Đế Nội Kinh thì khoa học ngày nay mới chỉ chứng minh được sự tồn tại , tuy nhiên Đông y đã tiến hành trị bệnh bằng châm cứu và thuốc bắc từ hàng ngàn năm nay, đều dựa theo nguyên lý âm dương và kinh lạc.

Kinh lạc là những lạp tử vật chất vi quan hơn tế bào và phân tử, khoa học hiện đại khó có thể phát hiện ra. Nhưng thời xa xưa, rất nhiều người đã khai mở thiên mục (con mắt thứ ba), như Kỳ Bá (nhân vật trong Hoàng Đế Nội Kinh) có thể nhìn thấy kinh lạc trên cơ thể người và, tất nhiên có thể dễ dàng vẽ lại những kinh lạc đó.

Thời bấy giờ có rất nhiều người am hiểu dưỡng sinh, biết thiên Đạo, hiểu được đạo lý âm dương, và hợp với yêu cầu của thuật số trong trời đất, ăn uống đều có chừng mực, làm việc và nghỉ ngơi có quy luật, không làm quá sức mình, tinh thần và thể chất của họ có thể được giữ vững, vì vậy mọi người đều sống lâu.

Nhân loại hiện đại đã đạt được nhiều thành tựu trong y học nhờ vào nghiên cứu sinh học phân tử; hiện tại sinh học nguyên tử cũng đang được xem xét. Vậy đến các hạt nhỏ hơn – sinh học proton, hạt nhân nguyên tử, nếu chúng ta làm chủ được sinh học ở mức độ hạt quark, neutrino thì sẽ thế nào? Hiện tại cũng có rất nhiều nghiên cứu nhằm kéo dài tuổi thọ con người, đều muốn nghiên cứu đến các tầng vi quan. Người cổ đại vận dụng thiên mục có thể tự mình nghiên cứu tới các hạt vật chất vi tế hơn, khả năng họ tìm ra cách kéo dài tuổi thọ là hoàn toàn khả thi.

Nói đơn giản thì “công nghệ” của người cổ đại còn mạnh hơn công nghệ nano mà chúng ta đang có gấp nhiều lần, chỉ là họ không sử dụng nhiều loại máy móc điện tử phức tạp mà thôi. Một loại “mạng không dây” như trong câu chuyện cười nói đến.

Thời kỳ này đa số là người thường nhưng cũng có rất nhiều người siêu thường, họ có thần thông quảng đại. Đối với con người hiện đại mà nói, điều này quả là huyền hoặc, nhưng người thời đó không cảm thấy kinh ngạc, đó là thời đại mọi người đều tin vào Thần, Thần tích thường xuất hiện không có gì kỳ lạ.

Nhờ các nghiên cứu về “con mắt thứ ba”, chúng ta đã lý giải được về một số khả năng siêu thường của con người, nhưng còn về Thần thì lý giải thế nào?

Lý giải về các vị Thần

Thần là ai? Là những sinh mệnh nắm giữ nền khoa học cực cao, có thể làm những điều mà con người không thể lý giải, nên đành gọi chúng là “phép màu”, huy động năng lượng vô cùng to lớn để thay đổi, biến hóa vật chất. “Công nghệ” của họ không dựa trên sự phát triển máy móc điện tử và vật lý cơ học, mà là dùng tinh thần để huy động năng lượng to lớn của lượng tử, không chỉ phân tử, nguyên tử, electron, quark, neutrino… mà chúng ta biết hiện nay, mà có thể còn đến tầng tầng các hạt vi tế hơn. Mà như chúng ta đã biết, hạt lượng tử càng vi tế thì năng lượng càng cao, do đó sức mạnh mà họ huy động được nằm ngoài sức tưởng tượng của con người hiện nay.

Đó là lý giải theo phương diện vật chất. Mà vật chất và tinh thần là thể thống nhất, do đó về tinh thần thì họ có đặc điểm là đạo đức cực kỳ cao thượng.

Thần Osiris và Isis của Ai Cập (ảnh: Internet)

Người Atlantis tín thờ thần biển Poseidon, các vương triều Ai Cập thờ thần Osiris, Isis và nhiều vị thần khác… Trong lịch sử của họ, những nhân vật này đều từng xuất hiện trên mặt đất và tạo lập ra nền văn minh. Trong nền văn minh của chúng ta, chẳng phải các thánh nhân như Giê-su, Phật Thích Ca, Lão Tử… cũng từng xuất hiện, đặt định ra các tôn giáo lớn và lưu lại rất nhiều câu chuyện màu nhiệm hay sao?

Chúng ta cần thoát khỏi cái khung tư duy của nền học thuật hiện nay thì mới nhìn ra được, bởi tu luyện là một hệ thống nghiên cứu hoàn toàn khác: không dựa trên duy vật thực chứng, mà là khoa học “tự chứng ngộ” (self-science – trải nghiệm thế giới nội tâm của bản thân) trong đó đặt ý thức, tinh thần vào trọng tâm nghiên cứu. Phương pháp của họ không phải dựa trên lập đi lập lại thí nghiệm nhiều lần trong phòng thí nghiệm, mà chính bản thân họ phải tự trải nghiệm (thiền định, tĩnh tâm, chứng ngộ…) và tu luyện chính mình trong quá trình đó.

Theo “Chuyển Pháp Luân” – cuốn sách chỉ đạo tu luyện từng đứng trong top 10 tác phẩm nổi tiếng nhất Trung Quốc những năm 1990, danh từ “Buddha” xuất phát từ tiếng Phạn, tiếng Ấn Độ cổ. Sau này khi Phật giáo truyền sang Trung Quốc, người ta dịch ra thành “Phật Đà” rồi lâu dần đọc gọn lại thành “Phật”. Ý nghĩa cổ xưa của nó chính là chỉ người đã tu luyện mà đạt được giác ngộ, là người đã hoàn thành quá trình tu luyện của mình. Ở đây hoàn toàn không có mang màu sắc mê tín hay tôn giáo nào cả.

Con người hiện đại có thể tu luyện hay không?

Người ta thường quan niệm rằng tu luyện thì phải xuất gia vào chùa, bỏ lại sau lưng tất cả những sự việc của cõi hồng trần; hoặc như các đạo sư hoặc lạt ma Tây Tạng trên núi tuyết, có thể ngồi thiền và sử dụng phương pháp hít thở mà ung dung tự tại trước sự khắc nghiệt của thiên nhiên… Họ chọn một con đường gian khổ như vậy không phải là không có lý do.

Tu luyện vốn không phải chuyện đơn giản, nhưng trong xã hội phồn hoa ngày nay, có lẽ chẳng mấy ai có thể đi theo con đường như vậy. Liệu có thể ngay giữa cuộc sống đời thường đầy cám dỗ, vẫn sinh hoạt nơi xã hội hiện đại mà thực hành tu luyện chân chính hay không?

Theo nguyên lý tu luyện giữa đời thường của Pháp Luân Công – một môn khí công Phật gia được truyền xuất ra tại Trung Quốc từ những năm 90 – căn bản của tu luyện là tu tâm tính. Đó là một quá trình mà người ta sẽ dần dần vứt bỏ các tâm chấp trước (tâm xấu) của mình, cũng là quá trình tu sửa bản thân: gặp bất kể vấn đề gì đều đối chiếu với tiêu chuẩn “Chân – Thiện – Nhẫn” để xét xem mình đã làm đúng chưa, mình còn chỗ nào làm chưa tốt, chứ không đổ lỗi hay tìm nguyên nhân ở bên ngoài. Sau này, khi gặp lại vấn đề, người tu luyện sẽ làm được tốt hơn. Trong xã hội đời thường, nếu ai ai cũng đều “tìm ở bản thân” để tu sửa như vậy, xã hội sẽ giảm đi rất nhiều xung đột, và đạo đức cũng sẽ nâng cao trở lại. Mỗi người đều tự ước thúc hành vi của chính mình thì có khi cũng không cần cảnh sát nữa.

Khoa học tu luyện – sợi chỉ xuyên suốt các nền văn minh

Không chỉ ở Trung Hoa cổ đại, khắp nơi trên thế giới đều lưu lại dấu tích của những người tu luyện. Họ chính là những người khai sáng văn minh, “những ảo thuật gia của Thượng Đế” mà nhà nghiên cứu Graham Hancock nhắc đến trong một quyển sách best-seller của ông.

Dấu tích đó chính là đồ hình chữ Vạn, tiếng Phạn gọi là Swastika, là biểu tượng chữ thập ngoặc 卍. Đồ hình này được hiểu theo tiếng Phạn có nghĩa là “phúc lộc, an khang, thành công, thịnh vượng”.

Không chỉ phổ biến trong một số tín ngưỡng phương Đông, chữ Vạn cũng từng là biểu tượng phổ biến trong văn hóa phương Tây. Hơn nữa, chữ Vạn đã từng là biểu tượng của các tín ngưỡng trong một số nền văn minh tiền sử đã bị hủy diệt.

Biểu tượng chữ Vạn được tìm thấy trên bức tượng hình chú chim tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Ukraine (ảnh: decacs-inc.com)

Những dấu tích khảo cổ này đã chứng minh rằng, từ hàng chục ngàn năm trước, đã xuất hiện các nền văn minh từng tồn tại trên thế giới và họ cũng tín ngưỡng các vị thần, trong đó có cả các vị Phật. Khi đó, biểu tượng chữ Vạn cũng là biểu tượng phổ biến của các nền văn minh này.

Tu luyện, đó cũng chính là lời giải cho ẩn đố sâu xa của cõi nhân sinh, là sợi chỉ xuyên suốt các nền văn minh từ cổ chí kim, là “công nghệ mạng không dây” của một nền khoa học bị lãng quên. Bởi vật chất và ý thức là một thể thống nhất, nên nhân loại chỉ có con đường đề cao đạo đức, thăng hoa tâm tính trong tu luyện mới có thể tiếp cận được bí ẩn của vũ trụ, thời gian-không gian và nhân thể. Đây có thể là con đường duy nhất và nhanh nhất mà khoa học thực chứng còn rất xa mới động chạm đến được.

Kỳ thực, càng biết về các nền văn minh tiền sử, chúng ta sẽ càng có một loại cảm giác ngậm ngùi. Năm tháng bể dâu, những gì đã từng là huy hoàng của cả một thời đại, giờ chỉ còn lưu lại một vài công trình đá hay các câu chuyện truyền thuyết mà thôi.

Trên thực tế, rất nhiều lời tiên tri nổi tiếng trên thế giới đều chỉ nói đến thời kỳ này của nhân loại rồi cũng sẽ chấm dứt. Nếu như không phải tất cả họ đều thông đồng để lừa chúng ta, thì sao họ lại đều chỉ nói đến cùng một thời đại ngày nay?

Vậy chúng ta nên làm gì? Có một câu nói của Trung Hoa cổ đại còn lưu lại:

Thời thịnh thế trữ đồ cổ, thời loạn thế mua vàng kim, thời mạt thế phải tu hành.”

Xem thêm :

Phong Trần, Thiện Tâm tổng hợp

Tài liệu tham khảo:

[1] Cuộc tìm kiếm thành phố Atlantis: Địa điểm duy nhất đáp ứng tất cả tiêu chí – Trí Thức VN

[2] The truth about Atlantis – Graham Hancock on London Real

[3] Xã hội dâm loạn và sự diệt vong của 3 nền văn minh cổ đại – Trí Thức VN

[4] The Date of Noah’s Flood – creation.com

[5] Đại Vũ trị thuỷ (chỉnh lý) – chanhkien.org

[6] Liệu có phải ‘con tàu của Noah’ đã được tìm thấy ở Thổ Nhĩ Kỳ? – Trí Thức VN

[7] Có thể tồn tại đại dương rộng lớn trong lòng Trái Đất – Trí Thức VN

[8] Tàn tích hùng vĩ của 5 thành phố cổ đại chìm sâu dưới đáy đại dương – Trí Thức VN

[9] Bằng chứng đầu tiên về cơn đại hồng thủy của Trung Hoa 4.000 năm trước – Trí Thức VN

[10] Vật chất và ý thức là một thể thống nhất – Trí Thức VN

[11] Age-related incidence of pineal calcification detected by computed tomography – R A Zimmerman, L T Bilaniuk – Radiology, 1/3/1982

[12] Thiền định có thể sản sinh siêu năng lực – Trí Thức VN

[13] Ngũ hành và lịch sử Trung Hoa – chanhkien.org

[14] Khoa học cuối cùng cũng chứng minh được sự tồn tại của kinh mạch – Trí Thức VN

[15] Sách Chuyển Pháp Luân

[16] Chữ Vạn của nhà Phật: Biểu tượng phổ biến trong các nền văn minh tiền sử 

Công năng đặc dị – Kỳ 2: Tha tâm thông và khả năng trị bệnh

Công năng đặc dị là từ mà các nhà nghiên cứu khoa học và khí công sử dụng để gọi những khả năng đặc biệt (siêu năng lực), vượt xa khỏi khả năng của con ngươi bình thường và không thể giải thích được bởi khoa học hiện đại.

Công năng đặc dị – Kỳ 2: Tha tâm thông và khả năng trị bệnh. Ảnh 1
Một nhân vật trong phim viễn tưởng có khả năng tha tâm thông. (Ảnh qua Pikabu)

Trong giai đoạn thập kỷ 80-90 của thế kỷ trước, các môn khí công rất được thịnh hành và phổ biến rộng rãi ở Trung Quốc. Trong những người tu luyện khí công, có rất nhiều người có công năng đặc dị. Bên cạnh đó cũng có rất nhiều người là sở hữu năng lực từ bẩm sinh.

Trương Bảo Thắng với tha tâm thông và khả năng trị bệnh

Trương Bảo Thắng đến Bắc Kinh không lâu, các nhà khoa học nhận định: Công năng đặc dị của ông rất mạnh, đáng tiếc là trình độ học vấn của ông lại rất thấp, vì nghiên cứu khoa học và nhu cầu trong tương lai, Trương Bảo Thắng phải đi học đại học.

Lúc đó muốn vào đại học phải kinh qua thi tuyển. Tuy nhiên, từ nhỏ Trương Bảo Thắng luôn bị đau đầu khi tiến hành học tập. Vì vậy học hành thi cử luôn là chuyện khó khăn với ông.

Cuộc thi được tiến hành tại Lễ Đường Trung Nam Hải. Đối với Trương Bảo Thắng, các câu hỏi trong bài thi ông không thể nào làm được. Trong phòng thi yên lặng, ông bắt đầu thấu thị bài thi của người khác. Đáp án của người khác từ từ hiện lên trong não của ông, ông như học sinh chép bài giải của thầy giáo trên bảng đen. Sao chép bài thi của người khác, nếu đáp án đúng thì ông cũng đúng, nếu đáp án sai thì ông cũng sai theo.

Sau khi kỳ thi đặc biệt này kết thúc, điểm trong bài thi của ông không phải thấp. Trương Bảo Thắng sau khi thi xong, nhất nhất đều báo cáo với thầy giáo và lãnh đạo, rồi nói : “Tôi không thể đọc sách được, vì tôi nhức đầu”. Do ông nhiều lần phát biểu không tình nguyện học tập, cơ quan hữu quan bèn không ép ông phải vào đại học nữa.

Cuốn sách “Siêu nhân Trương Bảo Thắng” do tác giả Gia Cát Hỉ Hán viết

Từ lúc phát hiện mình có thể đọc tri thức của người khác trong việc thi tuyển bằng công năng tha tâm thông, Bảo Thắng bèn thường xuyên lợi dụng tư tưởng của người khác trở thành tri thức của mình. Trong một khoảng thời gian, ông thường theo tài xế học lái xe, chỉ cần có tài xế ngồi một bên là ông biết lái. Người khác cho rằng ông biết lái xe, kỳ thực chỉ bắt chước các thao tác bên ngoài của tài xế, chủ yếu là lợi dụng tín hiệu tư duy trong đại não của tài xế để thao tác theo.

Lúc mới học lái xe, phát sinh sự kiện này: Ông mượn một chiếc xe của người khác, tài xế đi theo xe, nhưng chỉ ngồi trên xe chứ không lái. Bảo Thắng mượn tín hiệu trong não của tài xế, tự lái xe từ ngoại ô phía Tây đến nội thành.

Khi Bảo Thắng xong công việc, tài xế có việc nên cũng đã đi xa rồi. Khi Bảo Thắng lên xe, thấy không có tài xế, chỉ có hai vị khách không biết lái xe, trong một lúc ông đã hốt hoảng, không biết khởi động, cũng không biết bẻ lái thế nào, giống như trong phút chốc hoàn toàn quên hết kỹ thuật lái xe. Sau đó ông cũng phải khó khăn mới tìm được một người tài xế ngồi trên xe, ông bắt đầu mô phỏng tín hiệu trong não người này và lái xe đi.

Trị bệnh bằng công năng đặc dị

Do Trương Bảo Thắng có công năng thấu thị, ngay thời gian đầu tại Học viện Y học Trung Quốc, tại tỉnh Liêu Ninh, không ít nhân viên y tá và bệnh nhân tìm ông nhờ thấu thị: Những phụ nữ có thai tìm ông nhờ thấu thị để biết bào thai là con trai hay con gái.

Dần dần ông trở thành nửa y sĩ. Về sau do ông tham gia nghiên cứu về kinh lạc, lại có thời gian bị bệnh, nằm bệnh tại Y viện, ông biết nhiều kiến thức y học và kết cấu cơ thể con người, khả năng thấu thị bệnh tình cũng tăng thêm hiệu quả, thậm chí có lúc ở cách xa bệnh nhân, ông cũng có thể xem bệnh.

Trương Bảo Thắng chụp ảnh cùng nữ diễn viên Đài Loan Lâm Thanh Hà. (Ảnh: Internet)

Nhà thư pháp Khải Công của Hội Thư pháp Trung Quốc đã hơn 70 tuổi, là một trong những bạn tốt của Bảo Thắng. Mấy năm trước, Khải Công bị suy nhược thần kinh, thường mất ngủ, nhờ Bảo Thắng giúp đỡ trị liệu. Ông thấu thị thần kinh và nhìn xem tình hình hướng đi của kinh lạc trong người Khải Công, phát hiện thấy có 2 nhánh thần kinh khác thường so với người bình thường, ông bèn đưa ra phương án trị liệu, quả nhiên có hiệu lực. Bảo Thắng nói:

“Hai nhánh thần kinh của người bình thường hợp nhất tại một chỗ, còn hai nhánh thần kinh tương tự của Khải Công lại phân khai, như thế thì ông luôn luôn ở trong trạng thái hưng phấn (do đó mất ngủ). Đơn thuần uống thuốc sẽ không hết, uống thuốc giống như ma túy chỉ làm cho thần kinh tạm thời dịu xuống, uống nhiều sẽ làm cho thần kinh bị suy thoái hư hoại.

Biện pháp của tôi là dùng thôi miên để giúp ông ngủ được một giấc dài mấy ngày mấy đêm. Sau đó dùng ý niệm điều chỉnh cho hai nhánh thần kinh của ông ta hợp nhất đúng chỗ như người bình thường. Khi lâm vào giấc ngủ dài, mọi tổ chức cơ thể của ông ta giống như người chết. Sau khi điều chỉnh vị trí thần kinh đúng chỗ, ông sẽ không còn bị như cũ”. Vài ngày sau, sau khi đã thực hiện đúng phương án, tình trạng hưng phấn lâu dài của ông đã được giải trừ.

Từ đó về sau, Trương Bảo Thắng liên tục trị liệu các loại bệnh về thần kinh, hiệu quả mỗi người mỗi khác.

Tại một đơn vị quân đội, trong nhà của phó chủ nhiệm họ Triệu, có cô gái trong lúc chuẩn bị thi lên lớp, do học tập liên tục, đầu óc căng thẳng nên đã rơi vào trạng thái mụ mị, đọc sách không được nữa. Trương Bảo Thắng thấy vậy nói: “Tôi cho em ‘dẫn một cái’”. Cô bé không biết ông ta dẫn thế nào, chỉ biết ông ta là một vị “tiểu thần tiên” nổi tiếng nên đồng ý để ông ta dẫn.

Bảo Thắng để cho cô ta ngồi ngay ngắn, dùng bàn tay phải đặt trên đỉnh đầu của cô dùng sức nhấn xuống vài lần, lúc lật bàn tay lên xem, trong lòng bàn tay xuất hiện một chất lỏng màu đen. Bảo Thắng dùng giấy lau sạch xong tiếp tục ấn trên đầu cô bé thêm vài cái nữa.

“Được rồi! Em có thể đọc sách được rồi,” Bảo Thắng nói.

“Ái chà! Đầu óc em sao mà nhẹ nhàng thế? Tốt lắm! Thật là tốt!”. Cô bé nhảy lên. Mọi người có mặt tại đó đều khen ngợi không dứt.

Trưởng phòng hành chính Triệu Ngọc của kho lương thực Minh Sơn thị trấn Bổn Khê bị bệnh nhức đầu đã nhiều năm, nói rằng mỗi khi nhức đầu đều đau đớn khôn nguôi, người nóng ran chạy rần rần, la oai oái, trị không được. Nghe người khác nói Trương Bảo Thắng có thể trị được, bèn đến tìm anh. Bảo Thắng xem qua nói: “Ở giữa đầu của ông có một mảnh xương nhọn, làm sao mà không đau được! Mảnh xương này không lấy ra được, tôi sẽ đốt nó cho ông”.

Nói xong Bảo Thắng phát công, dùng tay đặt trên đỉnh đầu Triệu Ngọc, nung nóng đến tê răng méo miệng, sau một hồi, Bảo Thắng dỡ tay lên xem, trong lòng bàn tay quả nhiên có vật nhọn giống sợi lông. Bảo Thắng vừa hút vừa đốt, sử dụng đồng thời hai công năng đặc dị. Từ đó về sau Triệu Ngọc không còn bị nhức đầu nữa, gặp ai cũng nói: “Tôi đã gặp thần tiên!”.

Trương Bảo Thắng trị bệnh cho người ta có hai cách:

Một là hút, nơi nào trên cơ thể có bệnh, ông để bàn tay lên chỗ đó, một vùng vuông cạnh khoảng 10 phân, phát công hút, nếu có u bướu sưng, hút vài phút, trong lòng bàn tay của ông có một cục đen giống như mủ, ngoài ra có nhiều điểm đen, dùng giấy vệ sinh lau đi, tiếp đó tiếp tục hút. Ví dụ, trong đơn vị quân đội có một người tên là Triệu Chính Tài, làm chủ nhiệm, trên lưng có nổi một cục bướu, to như quả trứng gà, liên tiếp 12 lần Bảo Thắng phát công hút, cục bướu hoàn toàn tiêu hết.

Hai là đốt. Nơi nào trên cơ thể có bệnh, ông hướng một bàn tay vào phát một luồng khí, sau đó đặt tay vào chỗ bị bệnh, tiếp đó hướng bàn tay kia vào, phát tiếp luồng khí, rồi hai tay đặt chồng lên chỗ bị bệnh. Với hai lần phát khí như thế, người bệnh sẽ cảm thấy hai tay của ông phát ra một luồng khí nóng xuyên qua da thịt.

Video Trương Bảo Thắng biểu diễn phát công đốt cháy giấy trước mặt các phóng viên người phương Tây:

Có một lần, tay bóng chuyền nữ nổi tiếng của Trung Quốc, Lang Bình khi thi đấu bị thương ở bàn chân, tổ chức mời Trương Bảo Thắng xem, ông dùng hai tay phát công, đốt nóng khiến Lang Bình phải kêu lên. Sau khi đốt xong, vết thương lập tức chuyển biến tốt, rất nhanh thông lành khiến cô có thể ra thi đấu.

Về sau trong một bản tin có thuật lại việc thần y đã trị vết thương cho Lang Bình. Từ đó, Trương Bảo Thắng ngoài danh hiệu “thần tiên sống” lại có thêm danh hiệu “thần y”.

Trị bệnh cho nguyên soái

Một ngày năm 1983, một vị lãnh đạo tìm Trương Bảo Thắng, đề nghị ông dùng công năng phối hợp với các bác sĩ của Cục Y Liệu, trị bệnh cho Nguyên soái Diệp Kiếm Anh của Trung Quốc.

Sau khi xem bệnh lần thứ nhất cho Diệp Kiếm Anh xong, ông yên lặng không nói. Ông nhìn xa xăm, ngây dại một hồi, ông mới từ từ “phục hồi hoạt động”. “Đợi tối nay tôi nghĩ xem”, ông chỉ nói một câu đơn giản như thế.

Liên tiếp mấy đêm khuya, Bảo Thắng suy nghĩ và tìm ra cách phối hợp với bác sĩ chữa trị cho nguyên soái. Sau đó ông vận dụng bản lĩnh của mình, lấy ra một vật gì khỏi cơ thể của Diệp Kiếm Anh, khiến bệnh tình của ông giảm nhẹ, chuyển nguy thành an. Qua sự cùng nhau nỗ lực của các bác sĩ và Trương Bảo Thắng, bệnh tình của Diệp soái bắt đầu chuyển tốt.

Nhân viên công tác đều rất quen thuộc cách trị liệu của Bảo Thắng. Lúc đó, họ đã đem đến cuộn giấy vệ sinh màu phấn hồng đưa vào tay Bảo Thắng. Chỉ thấy ông lấy giấy đã xé ra thành dây dài, gấp lại, đặt trước ngực Diệp soái, hai tay đè lên, tiếp đó dỡ tay phải lên, dùng miệng hướng vào lòng bàn tay phải thổi một cái, sau đó liền áp lòng bàn tay phải lên xấp giấy, rồi lại lấy bàn tay trái đè lên, trong chớp mắt, xấp giấy bốc lên khí nóng. Có người lấy ngón tay sờ vào xấp giấy, giống như bị lửa đốt, vội rút tay lại. Lại một buổi tối, đường dây điện thoại nóng vang lên, truyền đến một thông tri khẩn cấp: “Diệp soái bệnh nặng, lập tức đi Tây Sơn”. Bảo Thắng vội lên xe đi ngay.

Lúc đó, Diệp Kiếm Anh bị Bảo Thắng dùng nhiệt công gây hiệu ứng, cử động nhè nhẹ, tùy theo động tác Bảo Thắng dùng lưng bàn tay đè xuống, ông tỉnh lại dần, nhiệt độ của xấp giấy dần giảm xuống.

Qua khoảng 10 phút sau, Trương Bảo Thắng trở lại bên giường của Diệp soái, dùng lòng bàn tay sờ nhẹ vào ngực của ông, tiếp đó dùng năm ngón của bàn tay phải nắm yết hầu của ông giật hai cái. Chính đang lúc mọi người tại hiện trường đang nhìn xem mà không hiểu ra sao, Bảo Thắng lật bàn tay phải ra, trong lòng bàn tay xuất hiện một vật giống như mủ. Sau khi mọi người nhìn rõ, liền hiểu ra, lại một cơn xao động kinh ngạc: “Ra rồi! Đờm lấy ra rồi!”

Bảo Thắng dùng giấy vệ sinh lau sạch đờm trong lòng bàn tay phải, rồi tiếp tục lặp lại những động tác như trước. Sau khi Bảo Thắng dùng công năng đặc dị của mình lấy đờm ra khỏi cổ họng Diệp soái, tiếng thở của ông đã khác đi, trở nên thông thoáng hơn, tình trạng biểu hiện thống khổ được tiêu trừ.

Trong suốt thời gian từ 1983 đến 1985, Bảo Thắng thường xuyên hỗ trợ điều trị cho Diệp Kiếm Anh, cho đến khi Diệp soái qua đời vào năm 1985.

Video quay cảnh Trương Bảo Thắng dùng ý niệm làm xoắn 2 chiếc thìa inox vào nhau:

Theo Trithucvn

Những điều ít người biết về công năng đặc dị trong giới khí công

Trung Quốc từ những năm 80 bắt đầu rộ lên trào lưu khí công cùng công năng đặc dị, vào thời điểm cao trào nhất thì những người tu luyện khí công đã vượt trên cả trăm triệu người. Dưới đây là một số sự thật ít người biết về điều vốn vượt ngoài khả năng lý giải của khoa học.

Một môn khí công được nhiều người biết đến – Thái Cực quyền

Những năm đầu của thập niên 80, báo chí từng đưa tin: Tứ Xuyên có cậu bé tên Đường Vũ, được phát hiện có thể dùng tai đọc chữ. Theo đó, nếu viết một chữ lên giấy, che nó lại (không cho cậu nhìn thấy), rồi kề vào tai của Đường Vũ, thì cậu có thể nghe ra được. Thời đó, tin tức sau khi đưa ra, đã tạo nên những tranh luận sôi nổi, khiến nhiều nhà khoa học và học giả hứng thú, bắt đầu các cuộc điều tra nghiên cứu. Theo đó, họ xác thực sự tồn tại của công năng đặc dị.

Về sau, người ta liên tiếp phát hiện rất nhiều trẻ em và thầy khí công sở hữu các loại công năng đặc dị khác nhau. Ví dụ như ngoài việc “dùng tai đọc chữ”, sau này người ta còn phát hiện những bộ phận khác cũng có thể đọc chữ. Ngoài ra còn có “ý niệm ban vận” (vận chuyện đồ vật bằng ý niệm), lấy viên thuốc từ trong hộp thuốc chỉ bằng cách dùng ý. Thêm nữa là “dao thị” (công năng nhìn xa), ví như: ngồi ở Bắc Kinh có thể nhìn được một số hiện tượng nơi Thượng Hải, v.v….Trào lưu khí không với nhiều phát hiện về công năng đặc dị đã khiến rất nhiều người làm khoa học tiến hành nghiên cứu khá hệ thống đối với những hiện tượng này.

“Khoa học sinh mệnh mới của nhân loại”

Tại Trung Quốc, để có thể tiến hành nghiên cứu trên quy mô lớn đối với những sự việc loại này, người ta cần phải có sự đồng ý của giới chức cấp cao trong chính phủ. Nói cách khác, những người có công năng đặc dị này đều phải biểu diễn cho giới lãnh đạo cao cấp của Trung Quốc xem, khiến họ tin tưởng và cho phép nghiên cứu.

Trương Bảo Thắng, sinh năm 1960, người Nam Kinh là một ví dụ điển hình vào thời này. Vào cái thời “dùng tai đọc chữ” nổi lên, Trương Bảo Thắng tuyên bố rằng bản thân mình có công năng “phi nhãn thị giác” (không cần dùng mắt để nhìn), và còn có thể biểu diễn năng lực “đưa vật lấy hàng”. Hẳn mọi người còn nhớ Trương Bảo Thành có năng lực kì lạ được nói đến trong “Thần Bài 2“? Người này chính là hình tượng được tạo dựng từ thực tế.

Bàn về công năng đặc dị trước tiên cần phải nói rằng, trình diễn nó trước công chúng cũng giống tiêu tiền, tiêu xài càng nhiều thì số tiền còn lại sẽ càng ít. Trương Bảo Thắng biểu diễn quá nhiều, đến sau cùng công năng đã cạn kiệt, không còn khả năng biểu diễn nữa, và vấp phải những chỉ trích.

Trương Bảo Thắng và Lâm Thanh Hà
Trương Bảo Thắng và Quỳnh Giao
Trương Bảo Thắng và Tề Tần, Thành Phương Viên

Thời bấy giờ, viện khoa học Trung Quốc bao gồm cả Viện Nghiên cứu Vật lý cao năng lượng, cho đến một số trường cao đẳng, đều có một số giáo sư, học sinh lẫn đội ngũ chuyên nghiên cứu những hiện tượng này. Việc nghiên cứu được thực hiện tương đối hệ thống, vận dụng rất nhiều phương thức khoa học nghiêm ngặt, bao gồm bịt mắt, phong kín, đối chiếu, đã chứng thực rằng những hiện tượng này xác thực có tồn tại.

Ngày 3/6/1980, Bắc Kinh thành lập nhóm nghiên cứu công năng đặc dị trên thân thể người. Ngày hôm sau, Tiền Học Sâm, nhà khoa học nổi tiếng, đã tiếp nhận lời mời phỏng vấn của trang “tạp chí Tự nhiên”, ông bày tỏ sự ủng hộ việc nghiên cứu công năng đặc dị để khai phá những tiềm năng trên thân thể người.

Ông nói: “Một hạng mục nghiên cứu khoa học mới, khi vừa mới được đưa ra, sẽ luôn có người phản đối, người dẫn đầu cũng sẽ luôn nhận phải sự phản đối của người ta, vậy nên cần phải có dũng khí, cần phải dám đứng thẳng mới được”. Trong cuộc trò chuyện, lần đầu tiên ông nhắc đến khái niệm “khoa học thân thể người” này.

Tiền Học Sâm viết về khoa học nhân thể

Đối với tất cả công năng đặc dị, thời bấy giờ các nhà khoa học đều gọi là “khoa học sinh mệnh mới của nhân loại”. Theo chia sẻ của người từng thực hiện các nghiên cứu công năng đặc dị, việc nghiên cứu được thực hiện chủ yếu trên hai phương diện, một là tổng kết kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước, rồi căn cứ vào đó để phân tích quy luật. Mặt khác là tiến hành một số thực nghiệm.

Cả trong và ngoài nước xưa nay đều tồn tại công năng đặc dị

Căn cứ trên tài liệu ghi chép trong và ngoài nước, những hiện tượng này trong lịch sử Trung Quốc đã có ghi chép từ lâu. Ở các quốc gia khác, như học Viện Khoa học Liên Xô, khoa quân đội Liên Xô cũng đều có nghiên cứu về hiện tượng này, thông thường đều được giữ bí mật. Những người sở hữu công năng đặc dị này đều được xem như bảo bối quốc gia. Nước Mỹ cũng có nghiên cứu về phương diện này.

Thời bấy giờ, Trung Quốc có một đơn vị gọi là “y ban khoa học kỹ thuật quốc phòng”, cơ quan này từng chiêu mộ được rất nhiều người có công năng đặc dị, trong đó có rất nhiều người có công năng rất mạnh.

Trong số những người nghiên cứu về công năng đặc dị này còn có Lý Tự Sầm, hiệu trưởng trường công lập Đài Loan, Giáo sư Khoa Điện cơ, Bộ môn điện tử …. Ông còn đảm nhận vai trò chỉ đạo đối với một số đoàn thể xã hội, gồm có học viện tinh hạm Đài Đại, Trung tâm Công năng đặc dị Đài Đại. Lý Tự Sầm luôn dốc hết tâm huyết nghiên cứu về phương diện tiềm năng của thân thể người.

Hướng dẫn thực nghiệm công năng đặc dị

Theo chia sẻ của một người từng làm các nghiên cứu này, trong nhóm của ông còn có người từng đến trường học về công năng đặc dị. Thực tế việc giảng dạy về công năng đặc dị chính là hình thức “tu luyện” trong văn hóa truyền thống Trung Quốc, với các trường phái như Đạo gia, Phật gia, ngay cả khí công dân gian.

Nhìn chung, theo các trường phái tu luyện này, công năng chính là bản năng tiềm tại thuộc về tiên thiên của con người, chỉ là nó chưa được biểu hiện ra hoặc mất dần khi con người trưởng thành. Vậy nên, trẻ con vì chúng khá ngây thơ nên những bản năng này vẫn tồn tại ít nhiều trên thân.

Ví như, bạn đi vào một lớp tiểu học và nói với các em học sinh rằng: người bạn nhỏ này có thể nghe chữ bằng tai, rồi để những đứa trẻ khác cũng đi nghe thử, và bạn kiên nhẫn hướng dẫn, liền phát hiện ra những đứa trẻ cũng sở hữu khả năng nhận biết nhất định.

Điều này nói lên rằng, công năng biểu hiện ở mỗi người không nhất định sẽ mạnh mẽ, lúc đầu cũng không ổn định, nhưng dần dần sẽ được gia cường nếu trải qua rèn luyện. Một số trẻ em có thể biểu hiện rõ ràng hơn, điều này chứng tỏ trẻ vẫn còn sót lại một số bản năng. Sự thật này hoàn toàn trùng khớp với những điều được giảng trong giới tu luyện truyền thống, nó cho thấy công năng đặc dị thật sự là bản năng của con người chúng ta.

Các thí nghiệm liên quan đến công năng đặc dị dưới sự quan sát tỉ mỉ tinh vi của khoa học

Ngoài ra, người này còn chia sẻ về thí nghiệm của Ủy ban Khoa học Quốc phòng Trung Quốc. Họ bỏ một cây kim vào bình thủy tinh bị phong kín, trên mũi kim có xuyên một sợi chỉ rất dài, rồi để cho người có công năng đặc dị lấy nó ra. Bởi vì ống thủy tinh này đã được niêm kín, và họ liên tục dùng máy quay tốc độ cao để quay lại quá trình này nên có thể phát hiện cách người ta dùng công năng đặc dị để thực sự lấy mũi kim ra. Toàn bộ thí nghiệm được ghi hình lại, và trở thành chứng cứ không thể phủ nhận về công năng đặc dị. 

Một thí nghiệm khác được thực hiện vào năm 1986-1987, thời điểm diễn ra Hội nghị Khí công Toàn quốc lần thứ ba, Rất nhiều thí nghiệm được tiến hành. Viện khoa học các tỉnh đều đã cử người đến dự. Hiệu trưởng tại nơi làm việc của tác giả cũng từng làm không ít thí nghiệm, trong đó có thí nghiệm mà ông ấy đưa ra một lọ thuốc với bốn mặt đều bị bọc kín hết cả, dán giấy và băng keo đến mấy lớp. Ông đưa lọ thuốc này cho người có công năng đặc dị. Ông này liền cầm lọ thuốc trong tay, chăm chú nhìn vào đó một hồi, sau ra sức lắc mạnh. Một hồi ông bảo bác sĩ đưa tay vào chỗ đáy lọ, nửa số thuốc từ trong lọ bị phong kín rơi vào tay của vị bác sĩ, thuốc vẫn còn rất nóng. Lọ thuốc được niêm kín này không hư hỏng, nhưng số thuốc bên trong đã ít đi một nửa. Điều này được thực hiện trước sự chứng kiến của rất nhiều nhà khoa học. Hơn nữa, theo báo cáo ghi chép lại, người sở hữu công năng đặc dị này không được biết trước bất kể điều gì.

Thí nghiệm khác nữa là, một nhà khoa học trước khi đến đại hội, đã bỏ tờ 1 tiền giờ vào một lá thư rồi dán kín lại. Mọi người đều biết mỗi tờ tiền giấy thông thường đều có số seri duy nhất. Khi đến hội nghị, nhà khoa học trao phong thư cho người có công năng đặc dị, người này khẳng định ông sẽ ký tên mình lên đó. Ông cầm lá thư trong tay một lúc, rồi quay người bảo đã ký xong rồi. Mở bìa thư ngay tại hiện trường, mọi người quan sát và phát hiện trên tờ tiền giấy với đúng số seri đó đã xuất hiện chữ ký của ông ta. Hiện tượng những công năng dặc dị tương tự như vậy còn có rất nhiều, mọi người đã làm rất nhiều thí nghiệm kiểu như vậy, trong đó có một số thí nghiệm vô cùng chuẩn xác.

Ví như, thí nghiệm “chất đồng vị thay đổi chu kỳ bán rã”, mọi người đều biết chu kỳ bán rã của chất đồng vị là cố định, trong lĩnh vực khảo cổ nó được dùng để xác định niên đại. Nhóm nghiên cứu tham gia hội nghị vốn không biết cách để thay đổi chu kỳ bán rã của chất đồng vị này, và họ liền tiến hành thí nghiệm. Sau khi thầy khí công phát công năng nhắm vào chất đồng vị, thì chu kỳ bán rã của nó đã có sự thay đổi. Điều này khiến các nhà khoa học khó mà lý giải được

Hơn nữa, khi các thầy khí công phát công năng vào nước, một số chỉ số của nước này đã thay đổi, không còn giống với nước bình thường nữa.

Còn có rất nhiều thí nghiệm thật sự đã chứng thực những hiện tượng này có tồn tại, nhưng vật lý học, khoa học tự nhiên hiện đại vẫn không thể giải thích rõ ràng. Dẫu vậy, giới tu luyện trong Đạo gia, Phật gia từ lâu đã nắm vững tất cả nguyên lý liên quan đến bản năng tiềm tàng của con người, vốn được phần đông gọi là công năng đặc dị

Tiểu Thiện, theo NTDTV

Công năng đặc dị thật sự tồn tại: Người tu hành cổ đại có năng lực phi thường

Mấy năm nay, cùng với việc phim ảnh được trình chiếu rộng rãi, các loại siêu năng lực cũng được nhiều người biết đến. Tuy nhiên, có người dù vẫn xem say sưa và rất yêu thích, nhưng lại không tin trong thực tế thực sự có những siêu năng lực này. Vậy siêu năng lực có thật sự tồn tại?

Kết quả hình ảnh cho himalayan monks
Khoa học cũng đã kiểm nghiệm được, tu luyện có thể sản sinh năng lực siêu thường. (Ảnh minh họa: ManagementSite)

Siêu năng lực còn được gọi là công năng đặc dị. Các nhà khoa học phương Tây đã nhiều năm nghiên cứu về lĩnh vực này và cũng đã đạt được nhiều bước tiến không nhỏ, thậm chí họ còn phát hiện, ngồi thiền tĩnh tu có thể xuất ra công năng đặc dị.

Tiến sĩ người Mỹ Dean Radin là nhà khoa học đứng đầu Viện Khoa học Nghiên cứu Tư duy (IONS). Viện nghiên cứu này đã một lần thực hiện cuộc khảo sát đối với 2.000 người tĩnh tu, xem họ có những công năng như nhìn xa, đọc suy nghĩ người khác, biết trước tương lai,… hay không.

Cuối cùng, 75% số người tu hành cho biết, họ đã thể nghiệm được những điều này, và đó là thông qua ngồi thiền tĩnh tu mà đạt được. TS. Dean Radin trong cuốn sách “Siêu thường” của mình đã viết: “Một vị danh nhân không có bất kỳ hoài nghi gì về công năng đặc dị thừa nhận, ông cho rằng công năng đặc dị đã được khoa học chứng minh”.

Phương Tây nghiên cứu công năng đặc dị, nhưng đa số bị giới hạn ở khái niệm “lực ý niệm”, kỳ thực, trong văn hóa tu luyện ở phương Đông từ sớm đã có rất nhiều bằng chứng và những giải thích rất đầy đủ về công năng đặc dị, ví dụ như:

Công năng thiên nhãn thông

Tây Tấn, thời Hâu Triệu có vị tăng nhân tên là Phật Đồ Trừng rất giỏi về niệm thần chú, có thể xua được quỷ quái. Khi ông dùng dầu vừng trộn son phấn bôi vào tay, thì những sự vật sự việc ở cách xa ngàn dặm đều hiển hiện ra trong tay ông, rõ mồn một như đang đứng trực tiếp ở đó quan sát.

Phật Đồ Trừng thường sai đệ tử đến Tây vực mưa hương. Một lần, Phật Đồ Trừng nhìn trong lòng bàn tay mình thấy người đệ tử đi mua hương gặp phải cướp, ông lập tức thắp hương niệm chú để bảo vệ. Đệ tử của ông sau khi trở về nói, ngày đó tháng đó có đạo tặc đến cướp, đúng thời điểm đó thì có mùi hương xuất hiện, ngay lập lức bọn cướp chạy hết không rõ nguyên nhân.

Công năng túc mệnh thông

Kết quả hình ảnh cho lao tu
Lão Tử (571-470 TCN) được coi là vị Thánh nhân đã sáng lập ra Đạo giáo. (Ảnh: Chine Magazine)

Rất nhiều nhà dự ngôn cổ đại đều có công năng này, ví dụ như Gia Cát Lượng trong thời Tam Quốc, Lý Thuần Phong trong triều đại nhà Đường, Thiệu Ung thời nhà Tống, Lưu Bá Ôn thời nhà Minh,….

Lão Tử thời Xuân Thu, trước khi ở ẩn đã đến nước Tần. Khi đi qua Hàm Cốc Quan (Ngày nay là huyện Linh Bảo tỉnh Hà Nam), thủ quan nơi đây là Lệnh Doãn thông qua xem bói biết được sắp có thần nhân đi qua nơi đây, liền lệnh cho dân quét dọn 40 dặm đường để tiếp đón, và quả nhiên Lão Tử đã tới.

Lão Tử chưa bao giờ truyền thụ bất cứ điều gì ở trung nguyên, nhưng ông biết Lệnh Doãn là người trong mệnh có tuệ căn đắc đạo, nên Lão Tử đã dừng lại ở nơi đây. Điều này cho thấy Lão Tử có công năng có thể biết trước được tương lai.

Công năng thần túc thông

Trương Tam Phong trong triều đại Nam Tống có một lần ẩn cư trên núi Thái Bình, nhưng ông bẩm sinh hiền hòa, rất hòa hợp với các phụ lão hương thân ở đó. Trước khi đi ông mời các lão nhân trong thôn đến dùng bữa cơm từ biệt, nhưng Trương Tam Phong ở trên núi đã rất lâu rồi không nhóm lửa, cũng không có gì để mồi lửa, thế là ông nói sẽ xuống núi lấy lửa, nhưng ngay trong chốc lát đã mang được lửa về, trong khi khoảng cách từ đó đến chân núi là 40 dặm (khoảng 64 km).

Kết quả hình ảnh cho dưỡng sinh
Trương Tam Phong, là một đạo sĩ, người sáng lập phái Võ Đang và Thái Cực quyền, những câu chuyện thần kỳ về ông được lưu truyền rất nhiều. (Ảnh: sohu.com)

Trương Tam Phong còn mua một chút đậu hũ cùng chiếc khay gỗ để bưng. Ăn cơm xong, ông nói với các lão nhân, cái khay gỗ này là đồ của nhà họ Vương ở Thành Đường Ấp, sau đó nhờ họ mang đến đó trả lại giúp ông. Những lão nhân này sau khi tìm đến nhà họ Vương mới biết Thành Đường Ấp cách núi Thái Bình hơn 140 dặm (khoảng 225 km).

Những siêu năng lực này, nếu theo quan điểm của khoa học hiện tại thì rất khó giải thích, nhưng cũng có những nhà khoa học đã đột phá quan niệm cũ và tích cực triển khai nghiên cứu.

Ví dụ như hai nhà khoa học vĩ đại của lịch sử nhân loại là Newton và Einstein, khi nghiên cứu các quy luật khách quan trong thế giới vật lý, đã phát hiện ra câu trả lời cuối cùng cho các câu hỏi liên quan đến vũ trụ, chỉ có thể là sự chỉ dẫn của thần. Vì thế, khi về gia hai nhà khoa học này đều gia nhập vào tôn giáo.

Như Newton từng nói:

“Vạn vật trong vũ trụ, nhất định có một đấng toàn năng cai quản, thống trị. Trong tận cùng của kính viễn vọng tôi nhìn thấy dấu tích của thần”.

Lê Hiếu biên dịch

6 loại công năng đặc dị của con người đã được thế giới công nhận

Con người luôn tiềm tàng những khả năng kỳ diệu. Ngày nay, bằng những thí nghiệm của khoa học, đã chứng minh được rằng công năng đặc dị của con người không phải là chuyện gì “mê tín”, mà thực sự có tồn tại.

Từ cổ chí kim trên toàn thế giới đều đã từng xuất hiện công năng đặc dị. (Ảnh: Internet)

Những công năng đặc dị của con người đã được thế giới công nhận hiện nay gồm có: công năng dịch chuyển, nhận biết vật thể bằng bộ phận khác ngoài con mắt, dao thị, thấu thị, dự đoán, truyền cảm tâm linh.

1. Công năng ban vận (dịch chuyển đồ vật từ xa)

Từ những năm cuối thể kỷ 19, một phụ nữ người Ý tên Eusapia Pallandino đã được phát hiện và chứng minh có công năng đặc dị. Người ta đã tiến hành một lượng lớn các thí nghiệm về công năng dịch chuyển, những cuộc thí nghiệm này còn lưu lại rất nhiều tư liệu đáng tin cậy.

Những người có công năng dịch chuyển có thể khiến cho vật thể bị phong kín trong ống thủy tinh đột phá chướng ngại của không gian và dịch chuyển ra bên ngoài ống thủy tinh. Những máy quay phim tốc độ cao đã quay chụp lại được toàn bộ quá trình đột phá chướng ngại không gian này một cách rõ ràng.

Bà Eusapia Pallandino. (Ảnh: Internet)

2. Nhận biết vật thể bằng bộ phận khác ngoài con mắt

Không thông qua con mắt thịt của cơ thể con người chúng ta, mà là thông qua những bộ phận khác của cơ thể như tai, ngón tay, bàn tay, gót chân, … để nhận biết màu sắc, hình ảnh, chữ viết, v.v… Các nhà khoa học đã tiến hành một lượng lớn thí nghiệm đối với loại công năng này và đã xác nhận nó thật sự tồn tại.

3. Truyền cảm tâm linh

Không cần đến các bộ phận cảm quan, giữa hai người với nhau, một phía hay hai phía truyền đi tín tức trong tư tưởng tâm linh.

Những thí nghiệm của tiến sĩ Honzan, Nhật Bản đã chứng minh được rằng năng lực ý chí có thể đi qua căn phòng thành công truyền đến người được làm thí nghiệm (mà sóng điện từ không cách nào đi xuyên qua được).

Thí nghiệm còn chỉ ra rằng truyền cảm tâm linh giữa hai người có xu hướng hợp nhau càng rõ ràng hơn.

(Ảnh minh họa: Internet)

4. Thấu thị (nhìn xuyên qua)

Đây là loại công năng, không cần phải dùng đến bộ phận cảm giác thông thường (con mắt) mà có thể “nhìn” xuyên qua chướng ngại vật để nhận biết trạng thái bên trong của vật thể.

Năm 1930, học giả người Mỹ JB Rhine trong phòng thí nghiệm tâm lý học siêu nhiên của trường đại học Duke đã dùng 25 tấm thẻ ESP (các thẻ này không cùng hình dạng hoa văn) tiến hành thí nghiệm có tính mù đôi. Tổng cộng đã tiến hành quan sát đánh giá hơn 85.000 lần, phát hiện xác suất thành công của người được trắc nghiệm luôn luôn vượt cao hơn xác suất ngẫu nhiên thông thường. Kết quả này đã chứng minh công năng nhìn xuyên thấu là có tồn tại.

Những trung y nổi tiếng thời Trung Quốc cổ đại đều luôn có công năng đặc dị nhìn xuyên thấu đồ vật. Về điểm này trong sử sách có ghi chép lại. Ví như Hoa Đà biết được có khối u trong não của Tào Tháo, Biển Thước trị bệnh tình bên trong cơ thể của Tề Hoàn Công, v.v…

HuaTuo
Hoa Đà, trung y nổi tiếng thời Trung Quốc cổ đại. (Ảnh: Internet)

5. Dao thị (công năng nhìn xa)

Đây là loại công năng mà có thể miêu tả lại một cách chuẩn xác về cảnh vật hay sự kiện của một nơi nào đó mà người có công năng chưa từng ghé đến.

Vào những năm 60, thí nghiệm của “nhóm người quay phim” SRI International đã chứng thực sự tồn tại của loại công năng này. Những người có công năng dao thị tập trung ở một địa điểm làm thí nghiệm, mỗi người được bố trí mấy “nhân viên quay phim” một cách ngẫu nhiên. Những nhân viên quay phim này được cử đến các nơi toàn nước Mỹ, có một vài người còn được cử ra nước ngoài. Họ được yêu cầu ghi chép lại nhân vật hoặc sự việc phát sinh mà họ nhìn thấy được trong môi trường xung quanh họ vào một thời gian đặc định nào đó (thời gian thí nghiệm). Và những người có công năng dao thị thì được yêu cầu miêu tả lại sự vật mà một vị nào đó trong mấy nhân viên quay phim này nhìn thấy.

Toàn bộ thí nghiệm được giữ theo tính ngẫu nghiên. Kết quả chứng minh, miêu tả của một số người có công năng hoàn toàn giống với tình huống thực tế, điều này đã chứng minh công năng dao thị thật sự là có tồn tại.

6. Dự đoán (tiên tri)

Nhà tiên tri Vanga với những dự đoán chính xác về tương lai. Ảnh: Internet
Nhà tiên tri Vanga với những dự đoán chính xác về tương lai. Ảnh: Internet

Có thể đoán trước được những sự việc sẽ xảy ra trong tương lai. Thí nghiệm nổi tiếng nhất là thí nghiệm vẽ tranh của Carrington. Người được làm thí nghiệm trong khi hoàn toàn bị gián cách có thể thành công vẽ ra các bức tranh mà Carrington vẽ ra trong quá khứ và tương lai dựa trên nguyên tắc ngẫu nhiên. Điều này chứng tỏ người được thí nghiệm có năng lực biết quá khứ và tương lai.

Nhà y học nước Pháp E Ostia đã làm thí nghiệm với những chiếc ghế ngồi. Người được thí nghiệm có thể đoán trước những người nào sẽ ngồi vào ghế nào trong mấy giờ đồng hồ trước đó, và xác suất thành công luôn luôn lớn hơn so với xác suất thông thường.

Tiểu Thiện, dịch từ NTDTV

Công năng đặc dị : Người đi xuyên tường và khôi phục vật thể

Công năng đặc dị là từ mà các nhà nghiên cứu khoa học và khí công sử dụng để gọi những khả năng đặc biệt (siêu năng lực), vượt xa khỏi khả năng của con ngươi bình thường và không thể giải thích được bởi khoa học hiện đại.

Công năng đặc dị – Kỳ 1: Người đi xuyên tường và khôi phục vật thể. Ảnh 1
Khả năng đi xuyên tường. (Ảnh qua Encoremedstaffing.com)

Khoa học đã từng ghi lại được nhiều trường hợp siêu năng lực trên thế giới. Ví dụ như Wolf Grigorievich Messing với khả năng điều khiển tâm trí người khác, các thí nghiệm của quân đội Mỹ về khả năng di chuyển đồ vật bằng tâm trí hay dao thị (nhìn xa)… Các hiện tượng này xác thực là có tồn tại, nhưng cho đến nay người ta vẫn chưa lý giải được rõ ràng.

Trong giai đoạn thập kỷ 80-90 của thế kỷ trước, các môn khí công rất được thịnh hành và phổ biến rộng rãi ở Trung Quốc. Trong những người tu luyện khí công, có rất nhiều người có công năng đặc dị. Bên cạnh đó cũng có rất nhiều người là sở hữu năng lực từ bẩm sinh.

Dưới đây là những người có công năng đặc dị nổi tiếng nhất Trung Quốc.

Phần 1: Trương Bảo Thắng, khả năng đi xuyên tường và khôi phục vật thể

Trương Bảo Thắng (1960 – 3/8/2018), quê ở xã Bản Khê, huyện Tây Hồ, tỉnh Liêu Ninh, Trung Quốc, là một trong những người có công năng đặc dị nổi tiếng nhất Trung Quốc giai đoạn những năm 1980. Tuy nhiên, Trương Bảo Thắng không phải là người tu luyện, khả năng của của ông là bẩm sinh.

Trương Bảo Thắng là đối tượng nghiên cứu của rất nhiều các Viện nghiên cứu, các Trường đại học, thậm chí là các chương trình nghiên cứu đặc biệt của Trung Quốc như Sở 507- Bộ công an, đơn vị chuyên nghiên cứu về những sự kiện bí mật, Trung tâm Nghiên cứu Vũ trụ của quân đội… Có rất nhiều bài báo, nghiên cứu khoa học, sách và video mô tả về khả năng của người đàn ông này.

Cuốn sách “Siêu nhân Trương Bảo Thắng” xuất bản năm 1989, do tác giả Gia Cát Hỉ Hán viết, được viết lời tựa bởi Lâm Thanh, Phó chủ tịch tỉnh Liêu Ninh, Trung Quốc, đã ghi lại rất nhiều thí nghiệm cũng như câu chuyện về Trương Bảo Thắng.

Công năng đặc dị - Kỳ 1: Trương Bảo Thắng

Sau đây là một vài câu chuyện về Trương Bảo Thắng được ghi chép trong các tài liệu về ông.

Dùng ý nghĩ di chuyển vật thể

Dùng ý nghĩ để di chuyển vật thể là một trong những khả năng mà Trương Bảo Thắng thường xuyên biểu diễn.

Để nghiên cứu thăm dò khả năng dùng ý niệm di chuyển vật của Trương Bảo Thắng, các giáo viên khoa Vật lý của Học viện Sư phạm Bắc Kinh đã sử dụng tất cả các thiết bị có tại viện, và tất cả thủ pháp nào có thể, tiến hành theo dõi toàn bộ quá trình di chuyển vật của ông.

Thí nghiệm như sau: Theo dõi bằng sóng điện từ. Người ta để cho Bảo Thắng cầm trong tay một máy phát xạ vô tuyến cỡ nhỏ và di chuyển nó bằng ý niệm. Một máy thu sóng và định vị tung tích của máy phát được đặt tại gần chỗ Bảo Thắng để theo dõi liên tục tung tích của vật thể.

Lúc Bảo Thắng phát công, dùng ý niệm di chuyển chiếc máy phát xạ đến một chỗ khác, trong thời gian máy phát xạ rời khỏi tay ông thì nó “mất tích”, máy thu sóng cũng không thể thu được tín hiệu nữa, tức là công năng của ông làm cho vật thể tiến vào “trạng thái ẩn” không còn tung tích.

Các giáo viên khoa Vật lý của Học viện Sư phạm Bắc Kinh cũng làm trắc nghiệm công năng đặc dị dịch chuyển tức thời đột phá chướng ngại trong không gian (teleport) đối với Trương Bảo Thắng. Một hộp bánh kẹp xốp nhân mứt đào Thượng Hải còn nguyên bao bì chưa mở (trọng lượng tịnh 180g bên trong chứa 22 miếng bánh kẹp, trên giấy niêm phong các cạnh hộp, người ta còn dùng bút ghi thêm tên và tiêu chí).

Trương Bảo Thắng lần thứ nhất dùng ý niệm lấy ra 6 miếng, các tiêu chí niêm phong hoàn toàn không bị tổn hại. Lần thứ hai ông cầm hộp bánh xốp bằng tay trái, tay phải cầm 4 bịch đường (bao bì giấy kiếng), hai tay vỗ vào nhau, trong chớp mắt các bịch đường bao giấy kiếng “biến mất”, gần như đồng thời trên tay trái của ông “xuất hiện” hai miếng bánh xốp.

Lúc đó, ông nói ba bịch đường đã “vào” trong hộp, còn bịch thứ 4 thì đã di chuyển lên trên nóc tủ đứng lớn trong phòng. Tại hiện trường (có 3 người) kiểm tra hộp bánh tại chỗ, các tiêu chí niêm phong không hề bị tổn hại. Cân hộp bánh, thấy giảm 2,1g so với trước khi thực nghiệm, đồng thời tại hiện trường phát hiện trên nóc tủ đứng có một bịch đường.

Sau đó dùng X quang chụp hình hộp bánh, trên phim phát hiện trong hộp bánh chỉ còn 14 miếng bánh xốp, nhưng lại có thêm 3 bịch đường. Trước và sau thực nghiệm đều có kiểm tra các tiêu chí niêm phong, sau thực nghiệm niêm phong hoàn toàn không bị tổn hại và hoàn toàn “là một.” Trọng lượng trước và sau thực nghiệm rõ ràng có thay đổi, lại dùng X quang kiểm tra để bảo toàn nguyên trạng của hộp, hộp bánh đến lúc này vẫn chưa được mở ra.

Trong điều kiện giám sát chặt chẽ của nhiều người, Trương Bảo Thắng có lần ngồi tại chỗ mà đưa một bao gạo nặng khoảng 50kg, nặng hơn trọng lượng của ông từ nhà bên sang phòng đang ngồi mà không hề mở cửa, đục tường…

Có một lần tại thị trấn quê nhà Bản Khê, Trương Bảo Thắng làm cho 100 viên thuốc từ trong lọ thủy tinh dày 2mm đậy nắp kín, từng viên từng viên xuyên qua vỏ lọ thuốc ra ngoài mà không hề mở nắp chai, vỏ chai vẫn còn nguyên.

Video dưới đây quay lại một sự kiện Trương Bảo Thắng biểu diễn công năng đặc dị trước cố Phó chủ tịch Trung Quốc, Vương Chấn. Bảo Thắng dùng ý niệm đưa 5 que diêm vào phong bì thư, đồng thời đọc và trả lời nội dung của thư vào chính mặt sau của lá thư trong phong bì thư đang được dán kín. Trong video này, Bảo Thắng cũng dùng ý niệm, lấy ra các viên thuốc nằm trong lọ thủy tinh đang được bịt kín.

Khả năng đi xuyên tường

Năm 1982, lúc Trương Bảo Thắng còn ở Viện Y học Trung Quốc, tỉnh Liêu Ninh, thầy giáo Vương Phẩm Sơn và đồng nghiệp yêu cầu ông trình diễn khả năng đi xuyên tường vào Đại Lễ Đường:

“Anh có thể nào đi vào Đại Lễ Đường mà không bị người ta phát hiện không?”.

“Thử một cái xem!”, Trương Bảo Thắng cười đáp lại.

Hoạt động bắt đầu. Có người dẫn Bảo Thắng ra xa khỏi Đại Lễ Đường. Sau đó các giáo viên bố trí sinh viên đứng quan sát ở tất cả cửa ra vào và cửa sổ của Đại Lễ Đường, kể cả các cửa sổ, cửa nhỏ bên hông. Tất cả bố trí xong. Thầy trò đều mở to mắt nhìn, đề phòng Bảo Thắng giở trò ảo thuật. Vài phút trôi qua, rồi mười mấy phút trôi qua, lúc mọi người đều hướng ra ngoài tìm kiếm, Trương Bảo Thắng đã ở bên trong lễ đường kêu to: “Tôi ở đây này!”. Tức thì mọi người chạy ùa vào.

Sau sự kiện đó, mọi người truyền nhau: có người nói Trương Bảo Thắng có thuật ẩn thân, có người nói ông có khả năng xuyên tường tẩu bích. Bảo Thắng trả lời rất giản đơn: “Trái với thông thường, các ông không thể ngăn trở tôi được”.

Sau khi ông đến Bắc Kinh, rất nhiều nhà nghiên cứu về công năng đặc dị rất hứng thú với khả năng của ông, với sự tham gia của vài nhà khí công, họ tổ chức một hoạt động.

Lần đó, vài người cùng với Trương Bảo Thắng đứng phía ngoài cổng bảo vệ của một cơ quan cấp quốc gia, có hai cảnh vệ đứng gác tập trung chú ý, họ không hiểu mấy người ngoài cổng có việc gì.

“Anh có thể nào không cầm giấy thông hành, không để cho chiến sĩ cảnh vệ thấy, đi vào bên trong cái cổng lớn kia, sau đó đi trở ra không?”, Có người nói với Bảo Thắng.

“Tôi có thể thí nghiệm thử”, ông trả lời.

Chỉ thấy Bảo Thắng đi xăm xăm vào bên trong cái cổng lớn, sau đó đi trở ra, mà không thấy các cảnh vệ ngăn cản. Sau đó mấy người kia đến hỏi hai cảnh vệ:

“Vừa rồi các anh có thấy một thanh niên đi vào bên trong cổng lớn không?”.

“Chúng tôi không thấy ai đi vào cả”, Hai cảnh vệ trả lời

Sau khi nghe trả lời, bọn họ cảm thấy mê hoặc chưa hiểu, bèn tra hỏi Bảo Thắng, câu trả lời của ông cũng vẫn giản đơn mà càng khiến người ta mê hoặc: “Trái với thông thường, các ông không thể ngăn trở tôi được”.

Lại có một lần, người ta đem Trương Bảo Thắng khóa nhốt trong một căn phòng, bên ngoài có người canh giữ, bảo ông ta có cách nào rời khỏi căn phòng, băng qua đường, đi vào tòa nhà đối diện, vào một căn phòng đã bị khóa, rồi dùng điện thoại báo cho những người giám sát ông.

Hoạt động bắt đầu. Có người đứng ở cửa phòng nơi Bảo Thắng bị khóa bên trong, có người đứng trên con phố quan sát, có người đứng giữ nơi căn phòng người ta yêu cầu ông đi vào, có người đứng canh bên máy điện thoại. Mọi người cũng không biết ông cần bao nhiêu thời gian để đi ra. Có người phỏng đoán : “Chắc là ông ta không thể đi ra ngoài được”.

Vài chục phút trôi qua, chuông điện thoại reo vang. Mọi người mở cửa hai căn phòng khác nhau, Trương Bảo Thắng đã từ căn phòng ông bị khóa, đi vào căn phòng ông cần vào, quay số điện thoại gọi đến người đang chờ mà không bị ai phát hiện. Lúc đó có một vị thầy khí công tự xưng có khả năng phát hiện tín hiệu di chuyển, vội chạy ra ngoài phòng, căn phòng mà Bảo Thắng đi vào 3 mặt hướng ra ngoài đều là tường. Ông ta dùng “huệ nhãn” phát hiện: Tại chính giữa bức tường ở giữa có lưu lại tín hiệu Trương Bảo Thắng đã xuyên qua, ông ta nói: “Có một chỗ giống như cái lỗ rất sâu, Trương Bảo Thắng đã khom người nhảy qua chỗ đó mà vào, theo hướng ông đi vào, cảnh tượng biến đổi càng lúc càng nhỏ, cuối cùng rơi xuống đất”.

Để thăm dò bí mật phía sau sự kiện “xuyên tường phá bích” của Trương Bảo Thắng, có người đã phỏng vấn ông Tống Khổng Trí là người nhiều năm nghiên cứu về công năng đặc dị. Đề tài nghiên cứu của ông là: Vật thể vật chất siêu việt không gian. Đề tài này thu được thành quả cấp Bộ, do đó nhóm của Tống Khổng Trí đã được bằng khen.

Công năng đặc dị - Kỳ 1: Trương Bảo Thắng
Khổng Trí (giữa) là nhà nghiên của Sở 507 cùng Trương Bảo Thắng (P).

“Ông tin Trương Bảo Thắng có thể ẩn thân, có thể xuyên tường phá bích không?”, có người hỏi Tống Khổng Trí.

“Tôi làm thí nghiệm vật thể xuyên việt không gian, trước mắt chưa làm thực nghiệm với Trương Bảo Thắng về việc này, nhưng căn cứ nhiều năm quan sát anh ta, anh ta có thể làm cho vật thể xuyên qua không gian đối với bất cứ vật thể nào, việc đó nhất định có một loại năng lượng tạo ra tác dụng. Có thể thiết tưởng, loại năng lượng này chỉ cần đạt tới một lượng nhất định thì có thể làm cho thân thể vật chất của anh ta xuyên việt không gian, lấy đó mà suy luận, tôi tin Trương Bảo Thắng có khả năng xuyên tường phá bích”, Tống Khổng Trí nói dựa trên suy lý.

Khả năng khôi phục vật thể

Năm 1986, tại thành phố Chu Hải, tỉnh Quảng Đông, trước đám đông, Trương Bảo Thắng xin ông thị trưởng Chu Hải là Lương Quảng Đại lấy ra tấm danh thiếp và ký tên lên mặt sau. Sau đó ông yêu cầu một khán giả bỏ danh thiếp vào miệng nhai nát, nhổ ra một cái đĩa.

Trương Bảo Thắng lấy từ trong đĩa ra đống giấy bị nhai nát giống như hồ dính đó, để trong bàn tay xoa xoa trong vài phút, xong đưa lên miệng thổi vài cái, lại xoa miết thêm một hồi. Lúc đó ông quay xuống khán giả bên dưới nói: “Còn thiếu một chút”.

Lúc đó bí thư thị ủy Chu Hải là Phương Bao nghe thế bèn để ý tìm trên bàn, trong dĩa, thậm chí tìm trong kẽ răng của người nhai danh thiếp hồi nảy, quả nhiên tìm được mảnh giấy vụn nhỏ xíu. Khán giả bên dưới hỏi: “Có nuốt vô bụng không đó?”. Sau đó trên bàn lại tìm được một mạt vụn nữa.

Bảo Thắng bèn bỏ những mạt vụn đó thêm vào đống hồ trong tay tiếp tục xoa miết, lại dùng hai tay ép lại, đem đống hồ ép thành miếng, dùng miệng thổi vài cái, sau đó để xuống bàn, ngưng thần nhìn chăm chú, chậm chậm dùng tay gõ, không bao lâu, đống hồ dính trong tay ông từ từ hoàn nguyên thành tấm danh thiếp, 3 chữ Lương Quảng Đại của ông thị trưởng ghi thêm trên mặt sau danh thiếp cũng phục hiện như cũ.

Công năng kỳ diệu của Trương Bảo Thắng khiến Lương thị trưởng vô cùng kinh ngạc. Ông cầm tấm danh thiếp trên bàn đưa lên nói: “Đúng là tấm danh thiếp tôi có ghi thêm tên mình”.

Theo Trithucvn

Công năng đặc dị : Hầu Hi Quý biểu diễn chém đứt đầu, súng bắn không bị thương

Công năng đặc dị là từ mà các nhà nghiên cứu khoa học và khí công sử dụng để gọi những khả năng đặc biệt (siêu năng lực), vượt xa khỏi khả năng của con ngươi bình thường và không thể giải thích được bởi khoa học hiện đại.

Hầu Hi Quý chụp hình cùng tài tử Hong Kong Châu Nhuận Phát. (Ảnh: 4qe)

Khoa học đã từng ghi lại được nhiều trường hợp siêu năng lực trên thế giới. Ví dụ như Wolf Grigorievich Messing với khả năng điều khiển tâm trí người khác, các thí nghiệm của quân đội Mỹ về khả năng di chuyển đồ vật bằng tâm trí hay dao thị (nhìn xa)… Các hiện tượng này xác thực là có tồn tại, nhưng cho đến nay người ta vẫn chưa lý giải được rõ ràng.

Trong giai đoạn thập kỷ 80-90 của thế kỷ trước, các môn khí công rất được thịnh hành và phổ biến rộng rãi ở Trung Quốc. Trong những người tu luyện khí công, có rất nhiều người có công năng đặc dị. Bên cạnh đó cũng có rất nhiều người là sở hữu năng lực từ bẩm sinh.

Dưới đây là những người có công năng đặc dị nổi tiếng nhất Trung Quốc.

Hầu Hi Quý biểu diễn chém đứt đầu, súng bắn không bị thương

Hầu Hi Quý (1946-2007), người huyện Hán Thọ, tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc, là một trong những người có công năng bẩm sinh nổi tiếng nhất ở Trung Quốc giai đoạn 1980-2000.

Cuốn sách “Đông phương Kỳ nhân” do nhà báo Liêu Văn Vĩ viết và phát hành năm 1993 là tập hợp các câu chuyện được tác giả tận mắt chứng kiến hoặc được những ngưới tận mắt chứng kiến kể về những lần “siêu nhân” họ Hầu triển khai công năng của mình, khiến nhiều người ví ông là thần tiên tái sinh.

Cuốn sách “Đông phương Kỳ nhân” viết về Hầu Hi Quý của tác giả Liêu Văn Vĩ. (Ảnh: Internet)

Trong phần lời bạt của cuốn sách, tác giả Liêu Văn Vĩ viết:

Ngày 10-02-1882, người Anh thành lập “Hội nghiên cứu siêu tâm lý học” (Society for Psychical Reseach), từ đó người châu Âu bắt đầu nghiên cứu về chính mình, về sau người Mỹ, người Liên Xô cũ, người Đức cho tới người Israel đều kế tiếp nhau đầu tư nhiều nhân lực tài lực vào, trải qua công tác gian khổ, cuối cùng khám phá và thừa nhận trong cơ thể con người có tiềm năng về năng lực đặc dị còn gọi là công năng đặc dị…

Vì vậy mà nói công năng đặc dị vẫn là một khái niệm mơ hồ, khi đề cập tới nó, mọi người chỉ có thể ngầm hiểu với nhau rằng “không thể lý giải”, “không thể nắm bắt”, “người bình thường không có cách nào làm được”, muốn đem nó lý giải ra, cho nó một định nghĩa thực tế, đó là phương hướng nghiên cứu của khoa học về nhân thể.

Nghiên cứu về khoa học nhân thể của Trung Quốc bắt đầu từ lúc xuất hiện những nhân vật có công năng đặc dị điển hình tại Trung Quốc đại lục như Trương Bảo Thắng, Nghiêm Tân (xem công năng đặc dị, kỳ 4 – TTVN). Trên thân thể họ biểu hiện ra kỳ tích, sự thần bí của nó không hề kém cạnh so với việc đĩa bay đáp xuống địa cầu.

Bởi vậy, nhà khoa học trứ danh Tiền Học Sâm (người có nhiều đóng góp quan trọng cho các chương trình không gian và tên lửa tự hành của cả Hoa Kỳ và Trung Quốc – TTVN) nói, “Một khoa học nhân thể huyền bí chính là đang sắp sửa hình thành”, nghiên cứu khoa học về nhân thể sẽ “nhất định có thể dẫn đến cuộc cách mạng khoa học, nhận thức về thế giới khách quan của nhân loại sẽ có bước nhảy vọt. Nếu làm tốt, cuộc cách mạng này có thể đến trong thế kỷ 21.”

Cuộc “cách mạng” mà giáo sư Tiền Học Sâm chỉ ra, thực tế sẽ là sự đột phá thâm sâu về nhận thức tự thân của nhân loại; mà cuộc đột phá này đối với bản thân của chính nhân loại, khởi điểm là là tái nhận thức, khám phá những năng lực còn tiềm tàng trong cơ thể, ở cuối con đường sẽ tìm ra kết luận, cứu cánh của những năng lực đặc dị này là sự tiến bộ của khoa học, nó sẽ có tác dụng như thế nào đối với sự phát triển của xã hội loài người, và sẽ được ứng dụng như thế nào trong lĩnh vực công tác và sinh hoạt. Thành thật mà nói, cuộc “cách mạng” này đòi hỏi gian nan và nỗ lực rất lớn, cũng có thể cần nhiều thế hệ tiếp nối của chúng ta, mới có thể khai mở được bí ẩn cốt lõi của thế giới, hiểu được tận cùng bí ẩn của thân thể con người.

Liêu Văn Vĩ, tác giả cuốn sách Đông phương kỳ nhân về Hầu Hi Quý. (Ảnh: Internet)

Tôi có may mắn từ năm 1984 quen biết người có đặc dị công năng, siêu nhân Hầu Hi Quý, từ ngày quen nhau, tôi tin chắc rằng, phổ biến con người và công năng của ông, thu thập những sự việc liên quan đến ông rải rác trong dân gian, đó chính là công việc giai đoạn đầu của cuộc “cách mạng”. Vì vậy tôi thoát khỏi sự khống chế của những người coi Hầu Hi Quý là một đối tượng nghiên cứu, mà thiết lập mối quan hệ thân thiết đầu năm 1985.

Công năng đặc dị của Hầu Hi Quý khiến người ta suy nghĩ trăm chiều cũng không tìm ra lời giải, những nơi có dấu chân của ông đặt đến đều lưu lại những câu chuyện thần thoại kỳ diệu. Cái mà tôi viết ra, tuy kinh qua phỏng vấn kỹ càng và xử lý thận trọng, nhưng chung quy đều là những câu chuyện về công năng đặc dị của Hầu Hi Quý. Tôi đem chúng cống hiến cho các độc giả quan tâm tới khoa học nhân thể và các khoa học gia nghiên cứu khoa học về trí lực của con người, đem chúng viết thành tài liệu chân thật và sinh động, làm nên một nhân vật văn học tả thực, tôi cho rằng đó là điều có thể…

Biến cua giấy thành… cua thật

Khác với Trương Bảo Thắng thường dịch chuyển vật từ chỗ này sang chỗ kia, Hầu Hi Quý thích “hóa phép” để vật tự dưng rơi từ “trên trời” rơi xuống. Khi có yêu cầu từ bạn bè hoặc người quan sát, ông thường “ăn trộm” rượu ngon, thuốc lá ngon, đồ nhắm từ chỗ khác để họ thưởng thức.

Một ngày tháng 11/1987, cháu đích tôn của nhà danh họa Trung Quốc Tề Bạch Thạch là Tề Phật đến Thâm Quyến dự bị triển lãm họa phẩm của ông nội. Ông tập họp vài nhân sĩ hữu quan tại trung tâm giải trí cựu chiến binh khu La Hồ để bàn công việc. Trong đó có Thẩm Tích Chính, giám đốc phòng Trưng bày nghệ thuật hội họa Thâm Quyến, Đào Sâm chủ nhiệm hội nghị trù bị Viện nghệ thuật Tề Bạch Thạch. Hầu Hi Quý là hội trưởng của Hội Phúc Duyên thuộc Viện nghệ thuật Tề Bạch Thạch thành phố Trường Sa, nên có trong thành phần được mời tham dự của Tề Phật.

Tề Phật cùng với mấy vị nhân sĩ có tiếng sau khi bàn luận thỏa thuận xong, cảm thấy vui vẻ, bèn thừa hứng vẽ tranh để tặng vài vị khách. Chỉ thấy ông múa bút lông thì trên giấy xuất hiện hai con cua đen. Hầu Hi quý tuy không am tường về thư họa, nhưng cũng thích nghệ thuật, ông đứng bên họa sĩ ngưng mắt nhìn kỹ. Bỗng nhiên trên khóe miệng ông xuất hiện một nụ cười khó thấy, ngẩng đầu hỏi Thẩm Tích Chính và Đào Sâm tiên sinh : “Các ông thấy hai con cua trên giấy có thể ăn được không?”

Tại hiện trường, Đào Sâm trước tiên hiểu ra, biết Hầu Hi Quý đang muốn đùa, vì vậy trả lời: “Tranh trên giấy đương nhiên là không thể ăn.” Mọi người đều gật đầu cho là phải, đều nói không thể ăn được.

Nghe mọi người khác miệng cùng lời, Hầu Hi Quý nhìn đăm đăm. “Tôi nói là có thể ăn được thì có thể ăn được, tin không?” Nói xong ông nhướng mày, đi vào phòng vệ sinh. Có người thấy ông hai tay nhúng vào bồn rửa mặt, bỗng nhiên xuất hiện hai con cua mà về độ lớn và màu sắc đều giống hệt hai con cua trên giấy. Ông cầm hai con cua sống ra khỏi phòng vệ sinh, để trên bàn họa, chúng liền bò ngang bò dọc, so với hai con cua trên giấy, thật khó phân thật giả. Mọi người kinh ngạc khôn xiết, vây quanh nhìn ngắm bốn con cua, miệng tặc lưỡi “chách chách” khen kỳ lạ.

“Hai con cua này từ trên trời rơi xuống, hãy để tôi mang về làm kỷ niệm đi nhé.” Thẩm Tích Chính nhìn Tề Phật và Hầu Hi Quý, “chẳng mấy khi được Hầu tiên sinh thi triển công phu, không thể quên ngày hôm nay.”

Một năm sau, một hôm, ông Thẩm Tích Chính nói với người khác một cách thần bí, Hầu Hi Quý “gọi đến” hai con cua từ trên trời, ông đã mang về luộc ăn sạch, được hưởng thụ một bữa ăn từ một vật đến từ thần thoại.

Hầu Hi Quý (phải) chụp ảnh cùng tỷ phú Lý Gia Thành sau khi biểu diễn công năng mang chiếc bàn ăn mạ vàng từ nhà đến văn phòng của vị tỷ phú. (Ảnh: Internet)

Đầu bị chém không chết

Mùa thu năm 1984, Hầu Hi Quý cùng vợ là Hạ Linh Na đến Du Huyện thăm người bạn cũ, trước là đến nhà của Ngô Tam Dư. Hôm ấy, vợ của Ngô Tam Dư vừa mới sinh con không bao lâu, còn nghỉ hộ sản một tháng, ngẫu nhiên trùng hợp với lúc Lưu Tư Lý của cục công an Du Huyện đến thăm hai mẹ con. Thấy vợ chồng Hầu Hi Quý có vẻ phong trần bước vào nhà, mọi người rất vui mừng. Lưu Tư Lý đã sớm nghe Ngô Tam Dư kể qua về những chuyện “thần thoại” của Hầu Hi Quý, hôm nay may mắn được gặp, trong lòng thầm vui mừng.

“Đã sớm nghe qua Tam Dư nói về đại danh của ông, hôm nay được gặp ông, thật là hân hạnh, xin cho tôi được mở rộng tầm mắt.” Lưu Tư Lý tràn đầy hi vọng, cười nhìn thẳng vào Hầu Hi Quý.

Hầu Hi Quý từng có lúc bị giam tại Công an Cục thành phố Trường Sa vài tháng, nói gì thì nói, cũng có chút không tự nhiên, thấy Lưu Tư Lý mặc sắc phục công an, bỗng nhiên phát sinh ý nghĩ “hiển lộ công phu”, để cho anh ta khỏi coi thường người khác. Trong lúc chờ câu trả lời thì Lý Bỉnh Hiền của Cục Công an và Tạ Sơ Sinh cũng đồng thời bước vào, mọi người chào và thăm hỏi nhau rồi mới an tọa, Ngô Tam Dư mang trà ra.

“Các ông đến thật là tốt.” Hầu Hi Quý cầm chén trà để xuống bàn, sau đó nhìn thẳng vào Lưu Tư Lý, nói “Ông muốn tôi hiển lộ vài chiêu, cũng được, sẵn dịp để cho các ông thấy được một dạng công phu.”

Nói xong, Hầu Hi Quý đứng dậy, đưa bàn tay to lớn về phía Ngô Tam Dư: “Có dao xắt cải tốt không? hãy mang ra một cây.”

Ngô Tam Dư không hiểu hết ý, vội vào nhà bếp lấy một cây dao xắt cải bén đưa cho Hầu Hi Quý.

“Có vị nào tình nguyện đến tham gia trò chơi này?” Hầu Hi Quý quét mắt nhìn mọi người, nói, “Cây dao này rất bén, một dao chém rơi đầu là chuyện dễ dàng, nhưng mà đừng có sợ, bảo đảm là khi anh vào còn sống thì khi anh ra vẫn sống.”

Nghe Hầu Hi Quý muốn chơi trò chém đầu, mọi người nhìn nhau lấm lét, không ai dám đáp ứng.

“Nhát gan thế” Hầu Hi Quý khịt khịt mũi không thèm chấp, nhìn một vị khách trẻ tuổi của Ngô Tam Dư, nói “Anh đến đây, bảo đảm là anh không sao cả.”

Nói xong, một tay nắm đầu tóc anh thanh niên, một tay vung dao…

Vợ của Ngô Tam Dư thấy Hầu Hi Quý muốn chém thiệt, sợ hãi, nhanh chóng quay mặt đi, quay lưng về phía mọi người.

Chỉ thấy ánh dao lóe lên, tay trái của Hầu Hi Quý đưa lên, anh thanh niên quả nhiên đầu lìa khỏi thân. Nhìn cái đầu, sắc diện không thay đổi, mắt nhìn tứ phía, trên cổ không có máu. Nhìn cái thân, vẫn ngồi thẳng trên ghế như cũ, trên cổ cũng không có vết máu. Mọi người vô cùng kinh hãi, lại thấy Hầu Hi Quý bỏ dao xuống, hai tay cầm cái đầu lâu đặt ổn định lên cổ anh thanh niên, sau đó dùng tay vỗ lên vết dao chém xoa một vòng.

“Xong rồi, đừng có sợ, có thể xem được rồi.” Hầu Hi Quý nhẹ nhàng nói, hiển nhiên là nói cho vợ của Ngô Tam Dư nghe.

Lúc nhìn anh thanh niên, anh ta đang đưa tay sờ vào cần cổ, mắt nhìn tứ phía, có vẻ như không hiểu rõ lắm đã phát sinh ra sự việc gì. Ngô Tam Dư hỏi anh ta có cảm giác thế nào, anh ta đáp giống như bị kiến cắn, còn những cảm giác gì khác thì hình như không cảm thấy. Lưu Tư Lý, Lý Bỉnh Hiền làm trong ngành công an đã lâu, thấy người chết không ít, còn giống như hôm nay, người bị chém đứt đầu mà vẫn sống, thì từ lúc sinh ra tới nay mới thấy lần đầu. Hai người vừa kinh ngạc vừa vui, chỉ nhìn chăm chăm vào anh thanh niên: Kinh ngạc vì sợ xảy ra sự cố, mừng vì được mở rộng kiến thức, không uổng công tới nhà họ Ngô.

Hầu Hi Quý (mặc quân phục), Phó chủ tịch Trung Quốc Vương Chấn (ngồi giữa), Phó thủ tướng Trung Quốc Dư Thu Lý (thứ hai từ phải sang trái)

Súng bắn không bị thương

“Chỉ là để cho các ông có thêm kiến thức.” Hầu Hi Quý lại nói, mọi người lúc đó mới từ chỗ kinh ngạc bây giờ đã hoàn toàn tỉnh táo. Chỉ nghe Hầu Hi Quý nói với Lý Bỉnh Hiền, “Ông Lý, tôi biết ông có mang theo súng, cho tôi mượn sử dụng, được không?”

Lý Bỉnh Hiền lại kinh ngạc, ông ta có mang theo súng thật, nhưng không hề nói cho ai biết, cũng không dễ bị người phát hiện, tại sao Hầu Hi Quý này lại khẳng định như thế ? Tâm lý nghĩ như vậy, nhưng miệng thì lại nói không được.

“Đừng có đùa dai nữa, trò chơi dao của ông đã làm tôi chết khiếp, súng càng không phải trò đùa.” Ông ta nói, lại sợ Hầu Hi Quý không bằng lòng, giả lả thêm một câu: “Chơi trò khác đi, được không?”

Ngô Tam Dư thấy hai người có vẻ căng, muốn giải vây cho Lý Bỉnh Hiền, không ngờ đang lúc định mở miệng, Hầu Hi Quý tỏ dấu không vui.

“Tin chưa đủ, phải không? Bảo đảm là không tốn của ông một viên đạn nào, bảo đảm là không ai bị thương, không được sao?” Hầu Hi Quý đưa bàn tay to lớn về phía Lý Bỉnh Hiền “Thế nào?”

Lý Bỉnh Hiền cười tiu nghỉu, thấy rằng không thể không cho mượn, bèn từ trong lưng quần lấy cây súng ra, đưa cho Hầu Hi Quý, nói “Cái này không thể đùa nhé, phải cẩn thận.”

Hầu Hi Quý nhận cây súng, cân nhắc một chút, “ha ha” cười khan một tiếng, sau đó lại đưa cho Lưu Tư Lý. “Ông lại đây, ông nhắm vào tôi bắn ba phát, dám không?” ông đưa tay vỗ vào ngực mình, “nhắm vào chỗ này mà bắn!”

“Hầu sư truyền lại đùa rồi,” Lưu Tư Lý hai tay cầm khẩu súng đưa trả lại, rồi lại lùi ra sau hai ba bước, nhìn Ngô Tam Dư nói, “Có thể gây ra án mạng, phải không?”

“Bắn lỡ có chết cũng không đòi ông bồi thường, được không?” Hầu Hi Quý nói lớn, “thật sự chỉ muốn cho ông có thêm kiến thức thôi, nếu cũng vẫn không dám, nói xem có phải là vậy hay không?”

“Không, không, không. Ông không đòi tôi bồi thường, cũng có người khác đòi tôi đền mạng, cái này tôi không can dự đâu.”

Hầu Hi Quý thấy Lưu Tư Lý kiên quyết không chịu, bèn vén ống quần lên, một chân gác lên tường, họng súng nhắm vào đùi.

“Tôi tự mình bắn vậy, các ông xem kỹ nhé!”

Nói xong, ông bóp cò, một tiếng “đoành” vang lên, không khí trong phòng lập tức căng thẳng. Mọi người còn đang kinh ngạc, lại hai tiếng súng nữa vang lên, tiếng súng nổ làm điếc tai. Mấy cặp mắt đều mở to nhìn trừng trừng vào chỗ đùi trần gác trên tường của người đàn ông tráng kiện. Nhưng họ thấy Hầu Hi Quý vẫn tươi cười, ông cầm cây súng ngắn, đã dùng tay bóp cò mấy phát nhưng một là không thấy bị thương, hai là không thấy máu.

“Trả cho ông đây” Ông đưa súng cho Lý Bỉnh Hiền, tiếp đó buông lai quần xuống, “Ông kiểm tra xem có thiếu mất viên đạn nào không.”

Lý Bỉnh Hiền vừa mới kinh hồn, trấn tỉnh, lập tức mở súng, phát hiện mấy viên đạn vẫn còn y nguyên. Mọi người không hiểu tại sao, họ vừa chính mắt thấy Hầu Hi Quý lên cò súng, chính mắt thấy ông bóp cò khai hỏa, chính tai nghe ba tiếng súng nổ giòn, nhưng đạn lại không bắn ra, khó nói tất cả đều là giả, đều là sự phối hợp đóng kịch? Rõ ràng là không phải! Súng phải chăng là đạo cụ của kịch viện? Càng không phải! Thế thì việc này giải thích ra sao? Mấy người vây quanh, lật qua lật lại xem cây súng, trăm suy nghĩ đều không có lời giải.

“Chết khiếp thật! Đừng có bắt chước làm cái chuyện lạ lùng nguy hiểm này nhé.” Lưu Tư Lý sực tỉnh, nói.

Ca sĩ Ân Tú Mai, danh họa sĩ Tề Lương Chỉ và Hầu Hi Quý.

Biến mình thành “người khổng lồ”

Tác giả Liêu Văn Vĩ đã chính mắt mục kích việc biến ra “cao thấp” của Hầu Hi Quý và kể lại như sau :

“Tôi nghe nói anh có thể tùy ý làm cho thân thể biến thành cao lớn, trong công ty du lịch đã có không ít người từng xem qua, tôi cảm thấy có chút ly kỳ, vậy anh có thể biến cho tôi xem không?”

Hầu Hi Quý cũng không trả lời, ông kéo cửa bước ra ngoài, một lát sau, ông trở lại cùng với một người từ trong phòng khách. Người đó họ Nhiếp tên Tổ Đức, từng công tác trong đoàn Hán Kịch tại thành phố Thường Đức, cũng từng gặp cha của Hầu Hi Quý, là một trong số rất đông những người sùng bái cha con họ Hầu. Ông đi Trường Sa chơi, đặc biệt đến thăm Hầu Hi Quý.

“Anh cứ sờ vào đỉnh đầu của hai chúng tôi.” Hầu Hi Quý bảo Nhiếp Tổ Đức cùng với ông dựa lưng vào nhau, đứng thẳng đầu kề nhau, muốn tôi dùng bàn tay đặt lên hai đỉnh đầu, ông hỏi “Ai cao?”

Chiều cao của hai người xê xích không nhiều, nói một cách nghiêm ngặt, Nhiếp Tổ Đức cao hơn một hai phân.

“Được, hãy xem chân của chúng tôi, có ai xoạc chân không?” Hầu Hi Quý nghiễm nhiên bố trí một phương thức trắc nghiệm nghiêm túc, “Anh nhìn rõ chưa?”

Dĩ nhiên tôi không dám dễ dãi, tay đặt lên hai đỉnh đầu, mắt nhìn hai đôi chân. Bỗng nhiên tôi cảm thấy nửa bàn tay đặt trên đầu Hầu Hi Quý bị đội lên, nghiêng đi, nghiêng hẳn đi, cuối cùng rời khỏi hẳn đầu của Nhiếp Tổ Đức. Đang lúc đó tôi xác định đôi chân của hai người không hề nhúc nhích, bèn nhìn lên hai cái đầu. Trời ơi, cái đầu to lớn của Hầu Hi Quý đã cao hơn đầu của Nhiếp Tổ Đức đến hơn 10 phân tây!

“Như vậy được chưa ký giả?” Hầu Hi Quý quay đầu hỏi tôi, không đợi tôi trả lời, bèn rời khỏi Nhiếp Tổ Đức.

“Thật là thần thoại! thật là thần thoại!” tôi lắc đầu đưa ra nhận thức, ngồi phịch xuống chiếc ghế bên cạnh cửa.

Bản thân Hầu Hi Quý cao hơn 1,8m. Khi biến thân thể cao thêm 10 phân, ông đã cao đến gần 2m.

Theo Trí Thức VN

Tại sao con người gần như không chịa nổi không gian biệt lập ?

Hãy tưởng tượng bạn đang bị nhốt trong một căn phòng tối tăm, chật chội, không có mối liên hệ hay tương tác nào với xã hội bên ngoài trong vòng 30 ngày. Trên thực tế, không nhiều người dám liều mình thử thách bản thân trong tình huống đó.

Tuy nhiên, vẫn có những người can đảm. Vào tháng 11 năm 2018, một tay chơi bài xì người Mỹ có tên Rich Alati đã đánh cược 100.000 USD rằng anh có thể sống sót sau 30 ngày sống một mình trong bóng tối.

Anh được giam trong một căn phòng nhỏ, hoàn toàn không có một chút ánh sáng nào. Trong phòng để sẵn một cái giường, một tủ lạnh và một phòng vệ sinh nhỏ. Và ngay cả khi có đầy đủ mọi nguồn lực dự trữ để sống sót, Alati vẫn không thể hoàn thành được mục tiêu đề ra. Sau 20 ngày, anh buộc phải thoả thuận để ra ngoài, chấp nhận trả khoản tiền phạt trị giá 62.400 USD.

Có vô số những tác động tiêu cực đến cơ thể và hệ thần kinh mà việc sống tách biệt khỏi xã hội, hay tệ hơn, trong trường hợp của Alati là sống biệt lập hoàn toàn, mang lại. Alati cũng không phải là ngoại lệ; anh cho biết bản thân đã gặp phải khá nhiều tác động không mong muốn, trong đó có sự thay đổi về chu kỳ của giấc ngủ và tình trạng ảo giác.

Nhưng tại sao việc sống biệt lập lại khó khăn đến mức con người không thể chịu đựng nổi?

Một trong những lý do khiến cho việc sống biệt lập trở nên khó khăn đến vậy là bởi bản chất của con người là một sinh vật xã hội. Một số người do các lý do khách quan mà buộc phải sống trong các môi trường biệt lập – chẳng hạn các nhà nghiên cứu sinh sống dài ngày ở Nam Cực – cho biết rằng việc phải sống cô đơn là điều khó khăn nhất trong công việc của họ.

Yossi Ghinsberg, một nhà văn, nhà thám hiểm người Israel, người đã sống sót sau nhiều tuần sống một mình ở vùng rừng rậm Amazon, nói rằng sự cô đơn là điều giày vò anh nhiều nhất và anh đã phải tạo ra những người bạn tưởng tượng để mang lại cảm giác mình có bạn đồng hành.

Việc sống cô độc có thể gây hại đến cả sức khỏe tinh thần và thể chất của chúng ta. Những người bị cô lập về mặt xã hội sẽ khó có khả năng đối phó với các tình huống căng thẳng.

Họ cũng nhiều khả năng cảm thấy chán nản và gặp vấn đề trong việc xử lý thông tin. Điều này có thể dẫn đến những khó khăn nhất định đối với họ trong việc đưa ra các quyết định và trí nhớ.

Những người cô đơn cũng dễ mắc bệnh hơn. Các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng hệ thống miễn dịch của một người cô đơn phản ứng với việc chống lại virus theo cách khác biệt so với những người bình thường, khiến họ dễ mắc bệnh hơn.

Tác động của sự cô lập xã hội sẽ càng trở nên tồi tệ hơn nếu cùng lúc đó, con người được đặt trong môi trường bị cô lập về vật lý. Ví dụ, việc bị giam cầm trong trạng thái đơn độc có thể có tác động tiêu cực về mặt tâm lý đối với các tù nhân – bao gồm sự gia tăng đáng kể trạng thái cảm xúc lo âu và hoảng loạn, mức độ hoang tưởng và cuối cùng khiến họ ít có khả năng suy nghĩ rõ ràng.

Nhiều tù nhân cũng cho biết về các vấn đề sức khỏe tâm thần lâu dài mà họ phải đối mặt sau khi bị cách ly khỏi xã hội trong một thời gian.

Natascha Kampusch – một phụ nữ Úc bị bắt cóc năm 10 tuổi và bị giam cầm tám năm trong một căn hầm – thuật lại trong cuốn tự truyện của cô rằng việc sống thiếu ánh sáng và sự tiếp xúc với con người làm tinh thần cô bị suy yếu.

Cô cũng lưu ý thêm việc bị giam cầm trong nhiều giờ, nhiều ngày liên tục một cách hoàn toàn biệt lập khiến cô dễ nghe theo lệnh và tuân theo sự thao túng của kẻ bắt cóc.

Cô đơn trong bóng đêm

Những ảnh hưởng của việc bị cô lập có thể trở nên rõ rệt hơn nữa nếu bạn phải sống như vậy trong không gian tối một cách tuyệt đối, mang lại những hậu quả tiêu cực cả về thể chất và tâm lý. Một trong số đó là việc chu kỳ giấc ngủ của bạn có thể bị phá vỡ. Hai trong số các cơ chế chính để điều hòa chu kỳ giấc ngủ, gồm hoóc-môn melatonin và các nhân trên chéo(một cấu trúc thần kinh của não), đều dựa vào ánh sáng để hoạt động.

Ánh sáng ban ngày làm giảm lượng melatonin trong máu, giúp chúng ta cảm thấy tỉnh táo. Ánh sáng ban ngày cũng giúp nhân trên chéo thiết lập lại thời gian chúng ta thức dậy nếu chu kỳ giấc ngủ bị sai lệch. Không có ánh sáng ban ngày, nhịp sinh học 24 giờ của chúng ta sẽ thay đổi.

Lấy ví dụ, điều này có thể giúp giải thích tại sao những người tham gia thám hiểm hang động thường nhận thấy rằng thấy rằng chu kỳ ngủ-thức của họ bị gián đoạn. Điều này có nghĩa là những thời điểm trong ngày mà họ cảm thấy buồn ngủ không tuân theo các quy luật thông thường nào và có thể liên tục thay đổi theo từng ngày.

Sự gián đoạn về nhịp sinh học cũng có thể khiến con người ta cảm thấy chán nản và mệt mỏi. Điều này có thể làm tăng nguy cơ mắc ung thư, bệnh kháng insulin và bệnh tim, cũng như các vấn đề thể chất khác như béo phì và lão hóa sớm.

Những người bị cô lập cũng có thể gặp ảo giác. Việc thiếu đi các kích thích từ môi trường bên ngoài khiến con người bị nhầm lẫn các suy nghĩ, cảm xúc xảy ra ở bên trong nội tâm của chúng ta như là các cảm xúc, suy nghĩ diễn ra ở môi trường bên ngoài. Về cơ bản, ảo giác xảy ra trong trường hợp con người bị thiếu kích thích não.

Thực tế, Alati tiết lộ anh bắt đầu trải qua ảo giác từ ngày thứ ba sống biệt lập. Anh nhìn thấy căn phòng đầy bong bóng, rồi có lúc lại tưởng tượng rằng trần nhà đã mở ra và anh nhìn thấy một bầu trời đầy sao.

Những người bị cô lập hoàn toàn cũng có thể cảm thấy rằng có điều gì đó đang hiện diện một cách ma quái hoặc có ai đó đang theo dõi họ.

Mặc dù sự cô lập có thể đem đến những tác động nghiêm trọng tới cả thể chất và tinh thần của con người, song tin tốt là những điều này có thể đảo ngược. Người bệnh khi được cho tiếp xúc trở lại với ánh sáng ban ngày thường có thể điều chỉnh lại chu kỳ giấc ngủ – mặc dù có thể phải mất vài tuần hoặc thậm chí, trong một số trường hợp là vài tháng.

Việc kết nối lại với những người xung quanh có thể giúp làm giảm cảm giác cô đơn ở người bệnh và giúp họ phục hồi sức khỏe thể chất và tinh thần. Tuy nhiên, một số người khi bị cách ly khỏi xã hội trái với ý muốn của họ, có thể gặp phải một số vấn đề lâu dài về sức khoẻ tâm thần, chẳng hạn như chứng rối loạn căng thẳng sau chấn thương (PTSD).

Dù vậy, có một số người khi phải đối mặt với thử thách ở một mình trong một thời gian dài đã cho thấy một số dấu hiệu sự phát triển bản thân – bao gồm sự tăng trưởng về cảm xúc, cảm giác gần gũi hơn với gia đình và bạn bè và có một cái nhìn tích cực hơn về cuộc sống – vốn là kết quả của trải nghiệm của họ.

Sau 20 ngày sống hoàn toàn trong sự cô lập, ngay cả Alati cũng nói rằng bản thân anh đã thay đổi – anh cho biết trải nghiệm này giúp anh cảm thấy biết ơn cuộc sống và những người xung quanh mình nhiều hơn. Khả năng tập trung của anh cũng được cải thiện đáng kể, và nhìn chung, anh cảm thấy hạnh phúc hơn bao giờ hết.

Bài viết của tác giả Sarita Robinson, Giảng viên Tâm lý học, Trường Đại học Central Lancashire. VnReview chuyển ngữ và giới thiệu tới bạn đọc.

An Huy.