Chuyên mục: Khám Phá Khoa Học

Vào năm 9600 TCN, điều gì đã khiến nền văn minh Atlantis bị hủy diệt?

Cuối năm 2018, bộ phim Aquaman: Đế vương Atlantis ra mắt công chúng, mang về doanh thu hơn 1 tỷ USD trên các rạp chiếu khắp thế giới. Bộ phim là dấu mốc mới nhất trong hàng dài các tác phẩm trong hơn 2000 năm qua khai thác câu chuyện xưa cũ về thành phố Atlantis chìm dưới đáy biển, vốn là một trong những truyền thuyết lâu đời nhất mà con người từng biết đến. Có lẽ đa phần người xem phim chỉ coi đó là một truyền thuyết thú vị, nhưng có thể không chỉ là vậy.

(ảnh: Internet)

Theo lời kể của nhà hiền triết Hy Lạp cổ đại Plato…

Thành phố Atlantis từng sở hữu nền văn minh cao cấp, nền nông nghiệp phát triển, tàu của họ đi khắp thế giới. Người dân Atlantis từng rất cao thượng và tài ba, họ đã xây những công trình to lớn và phát triển kiến thức uyên thâm trong mọi lĩnh vực, trở nên rất thịnh vượng và hùng mạnh. Nhưng rồi, sự suy đồi đã len lỏi vào xã hội làm họ trở nên xấu xa và tham lam. Họ bắt đầu truy cầu và lợi dụng quyền lực trên thế giới.

Plato nhấn mạnh rằng: Atlantis đã không còn hưởng thụ thịnh vượng với sự điều độ nên có.

Sự ngạo mạn đã làm cho Atlantis trở nên quá tự mãn, để rồi sau đó vũ trụ đã làm cho nó sụp đổ. Đại hồng thủy và động đất đã dìm thành phố sâu xuống lòng đại dương.

Phải chăng Plato chỉ dựng lên câu chuyện này để minh họa cho quan điểm triết lý hay chính trị nào đó?

Bản thân Plato đã nói đi nói lại rằng đây là câu chuyện có thật. Ông còn cho biết thời điểm mà cơn đại hồng thủy xảy ra, đó là vào 9.000 năm trước thời của Solon.

Solon là một nhà lập pháp nổi thời của Hy Lạp cổ đại, ông sống trước Plato 200 năm, tức khoảng năm 600 TCN. Solon từng đến thăm Ai Cập và ở đó, các tu sĩ trong ngôi đền thần Neith đã kể cho ông về câu chuyện Atlantis – vốn được viết bằng chữ tượng hình trên tường của ngôi đền. Họ cho biết Atlantis đã bị hủy diệt 9000 năm trước, quy ra lịch của chúng ta thì đó là khoảng năm 9.600 TCN.

Plato nói rằng một nền văn minh vĩ đại đã bị hủy diệt trong một thảm họa lũ lụt khủng khiếp. Ông từng bị cười nhạo bởi các nhà sử học và giới hàn lâm. Nhưng một số khám phá mới có thể sẽ làm chúng ta phải suy ngẫm.

Khoảng thời gian 9.600 TCN đúng là một chương đầy thảm họa trong lịch sử địa chất, nó là thời điểm xảy ra Trận lũ băng tan 1B (Meltwater pulse 1B). Khi đó, nước biển tăng mạnh vào cuối kỷ Dryas Trẻ, khi các tảng băng ở Bắc Âu và Bắc Mỹ rung chuyển và tan vào đại dương.

Nước dâng lên trong Trận lũ băng tan 1B

Nếu Plato bịa ra câu chuyện Atlantis, ông đã bịa chính xác một cách đáng kinh ngạc đối với địa chất học hiện đại.

Người ta cũng đã tìm ra địa điểm mà Plato mô tả về Atlantis.

Vào tháng 7/2005 tại đảo Milos, Hy Lạp, một hội nghị về Atlantis đã được tổ chức. Tại đây các nhà nghiên cứu Atlantis thuộc nhiều ngành khoa học như khảo cổ học, địa chất, núi lửa, giáo sư của nhiều trường đại học trên thế giới… đã xem xét và phân tích một loạt các địa điểm khảo cổ có khả năng là Atlantis, dựa trên 24 tiêu chí khách quan.

Theo nghiên cứu của Jim Allen, bình nguyên Altiplano tại Bolivia không chỉ đáp ứng 24 tiêu chí mà hội nghị Milos Atlantis 2005 đưa ra, mà còn phù hợp với 50 đặc điểm mà Plato đề cập đến trong mô tả của của ông về Atlantis.

Bình nguyên Altiplano ở Bolivia nằm trên dãy núi Andes ở Nam Mỹ (ảnh: atlantisbolivia.org)
Thành phố Altantis nằm trên phế tích Pampa Aullagas, ngay cạnh bình nguyên Altiplano, cách biển (hồ Poope) 2,5km (ảnh: atlantisbolivia.org)
Mảnh ghép vẽ bản đồ Thế giới Mới của Sebastian Münster, phiên bản thứ 2, năm 1961, có tên “Insula Atlantica” – “Đảo Atlantic” (ảnh: atlantisbolivia.org)
Chi tiết bản đồ của Münster chỉ rằng “Thế giới Mới” là “Đảo Atlantic”, cũng được biết đến như Brasil và Mỹ” (ảnh: atlantisbolivia.org)

Các di chỉ đá và hóa thạch sinh vật biển quanh hồ Titicaca, khu vực Peru và Bolivia đều cho thấy từng có một nền văn minh rất tiên tiến đã từng có mặt ở đây và bị nhấn chìm bởi Đại hồng thủy.

Năm 9.600 TCN còn là thời điểm bắt đầu xây dựng một công trình cự thạch quy mô lớn còn lưu lại đến ngày nay. Đó là ngôi đền Gobekli Tepe ở Thổ Nhĩ Kỳ.

Ngôi đền làm lịch sử phải viết lại

Di chỉ khổng lồ gồm nhiều cột đá hình chữ T này đã làm lung lay thời gian biểu cố hữu và rất khó giải thích. Nếu các nhà khảo cổ nói với mọi người rằng xã hội săn bắt hái lượm là rất giản đơn, không thể xây dựng những công trình kiến trúc và kỹ thuật quy mô lớn, thì bỗng nhiên, trong thời săn bắt hái lượm, trước khi xuất hiện thành thị hay nền văn minh, có một dự án quy mô lớn với nhiều vòng tròn đá khổng lồ, các khối cự thạch 40-60 tấn mà chắc chắn phải có công nghệ, kỹ năng tổ chức cao cấp, quản lý nhân công, quy hoạch… Tất cả đều không phù hợp với bức tranh về tổ tiên mà chúng ta có thời đó.

(ảnh: Shutterstock)

Khi quét bằng radar xuyên đất (bởi phần lớn di chỉ này vẫn bị chôn lấp dưới một ngọn đồi) người ta phát hiện rằng diện tích của nó to gấp 50 lần Stonehenge, nhưng nó đã xuất hiện trước Stonehenge tới 7000 năm, tức năm 9600 TCN (kết quả đo đạc do Viện khảo cổ Đức công bố).

Giới khảo cổ học về cơ bản đồng thuận rằng các kim tự tháp Ai Cập được xây dựng đâu đó 2.500 năm TCN, còn trước đó thì hoàn toàn là xã hội nguyên thủy, săn bắt hái lượm. Theo đó, sẽ không thể có tượng đài quy mô lớn nào trên thế giới xuất hiện trước năm 2500 TCN.

“Các nhà khảo cổ sẽ không thể ‘nhét’ Gobekli Tepe vào bất cứ nơi nào trong thời gian biểu tuyến tính của họ. Di chỉ này đã đánh đổ tất cả.” – nhà nghiên cứu Graham Hancock

Ngoài ra, trên những khối cự thạch của Gobekli Tepe còn ghi lại thảm họa các mảnh vỡ sao chổi lao vào Trái Đất vào khoảng năm 10.950 TCN, mà hiện nay giới khoa học đã có đủ bằng chứng xác nhận được sự kiện này. (xem bài: Ngôi đền cổ ở Thổ Nhĩ Kỳ ghi lại vụ sao chổi rơi gây ra Kỷ băng hà 13.000 năm trước)

Ít nhất 8 mảnh vỡ sao chổi, có cái đường kính lên tới 1 dặm, đã va vào nhiều nơi trên Trái Đất, nhưng chủ yếu là Bắc Mỹ, gây ra sự hủy diệt trên diện rộng (ảnh: Graham Hancock)

Sự chuyển giao công nghệ?

Năm 9.600 TCN cũng là thời điểm nông nghiệp bỗng xuất hiện trong lịch khảo cổ của Thổ Nhĩ Kỳ, đã phát triển hoàn thiện một cách kỳ lạ dù trước đó không có dấu hiệu gì. Do vậy, ngôi đền Gobekli Tepe hẳn không phải là do ai đó bỗng dưng phát minh ra kiến trúc cự thạch và nông nghiệp giữa xã hội săn bắn hái lượm ở Thổ Nhĩ Kỳ khi đó. Đây nhiều khả năng là một sự chuyển giao công nghệ từ những người sống sót trong một nền văn minh đã thành thục các kỹ năng cần thiết. Họ có thể đã dạy lại cho những người bạn ở vùng đất mới.

Vậy phải chăng những người sống sót trong thảm họa Atlantis đã cố gắng ghi lại dấu tích hay thậm chí phục dựng lại nền văn minh của họ? Theo nhà nghiên cứu Graham Hancock, rất có thể. Họ đã không thành công lắm, nhưng họ cũng đạt được những kết quả nhất định. Họ đã có một công trình khổng lồ kỳ vĩ lưu lại thông điệp cho hậu thế và mang ngành nông nghiệp tới vùng đất hoang sơ.

Cái khung tư duy đang rạn nứt

Các nhà khảo cổ thường từ chối những nền văn minh cổ đại, họ có xu hướng theo thuyết phát triển ổn định (uniformitarianism). Họ không thích thuyết tai biến (catastrophism) cho lắm, và có xu hướng không xem trọng xứng đáng các thảm họa đã xảy ra trong lịch sử loài người.

Chúng ta thực sự có lẽ nên xem lại thái độ của mình đối với những câu chuyện lịch sử của tiền nhân. Giới hàn lâm đã quá nhanh chóng phủi tay và cho rằng họ đã hiểu biết tất cả mọi thứ, rằng chẳng còn gì bí ẩn trong câu chuyện đó. Nhưng tư duy đó sẽ ngăn chúng ta tìm hiểu sâu hơn. Chúng ta nên lắng nghe các manh mối của quá khứ dẫn đến các nền văn minh to lớn.

“Chúng ta là một giống loài bị mất trí nhớ. Đã có nhiều chương bị lãng quên trong lịch sử nhân loại, mà chúng ta không đoái hoài đến khi xét xem chúng ta là ai và tại sao chúng ta lại ở đây. Những lịch sử đó đã bị chôn vùi, một phần bởi các thảm họa toàn cầu, ví dụ như khoảng 12.800 năm trước, một phần bởi lực lượng các nhà khảo cổ không muốn những thông tin đó. Họ muốn ý tưởng về sự phát triển của nhân loại theo một đường thẳng – từ nguyên thủy, thời đồ đá, săn bắt hái lượm cho đến nền văn minh có tổ chức, cho đến chúng ta ngày nay – đỉnh cao của lịch sử nhân loại. Nếu bạn toàn tâm toàn ý với dòng thời gian biểu đó, hẳn sẽ rất khó chịu khi khám phá ra rằng có những nền văn minh đã tồn tại trước đó với trình độ công nghệ cao cấp, và diệt vong bởi thảm họa trên quy mô rộng lớn và khủng khiếp. Như Plato đã nói, ‘Con người phải bắt đầu lại, như những đứa trẻ không có ký ức của quá khứ’…”

Khi được hỏi về nội dung tóm tắt của quyển sách best-seller “Dấu vân tay Thượng Đế” (1995), nhà nghiên cứu Graham Hancock đã trả lời như trên trong một video phỏng vấn với hãng Gaia. Lịch sử có thể cung cấp cho chúng ta nhiều câu trả lời quan trọng, bởi người xưa về cơ bản đã mắc hết những lỗi lầm mà chúng ta đang mắc phải hiện nay, thậm chí còn lập đi lập lại chúng. Nhưng buồn thay, nhiều chương đã bị lãng quên.

Các bằng chứng mới vẫn tiếp tục xuất hiện mà những mô hình cũ không thể giải thích hay dung chứa. Giờ đây, các bằng chứng đang trở nên quá nhiều, đến nỗi chúng ta đang tiến dần đến một điểm bùng phát, và rất nhanh, trong một tương lai gần, toàn bộ bức tranh quá khứ sẽ hiện ra và thay đổi hiểu biết của chúng ta về vị trí của con người trên Trái Đất.

Theo Trithucvn

Xem thêm :

Categories: Văn Minh Cổ Đại

Những nền văn minh cổ đại ‘kỳ lạ’ khác biệt hoàn toàn với dòng lịch sử chính thống

Trong tác phẩm nổi tiếng “Dấu vân tay của Thượng đế”, Graham Hancock nói rằng một số nền văn minh trên Trái đất đã cho thấy dấu hiệu của trí tuệ cao cấp kì lạ trong các hệ thống kiến trúc, khoa học và chữ viết. Nền văn minh của nhân loại phát triển cao hơn rất nhiều so với nhận thức ban đầu của chúng ta.

Ảnh tái hiện một tòa kim tự tháp của văn minh Sumer (ảnh qua elishean.fr)
Ảnh tái hiện một tòa kim tự tháp của văn minh Sumer (ảnh qua elishean.fr)

Những nền văn minh “kỳ lạ”

Bài viết này đưa ra một số khía cạnh kỳ lạ đã bị lãng quên từ lâu về nhân loại, đồng thời nhắc nhở rằng tổ tiên chúng ta để lại nhiều cổ vật, các công trình và kiến trúc đáng kinh ngạc mà chúng ta có trách nhiệm phải giải mã. Nếu lịch sử của nhân loại còn đang được khám phá, các di tích này sẽ trở thành những điểm mốc quan trọng giúp chúng ta nhìn nhận lại dòng lịch sử.

Đa số các nhà khảo cổ, vốn chịu ảnh hưởng của thuyết tiến hóa Darwin, nhìn nhận rằng sự tiến bộ của nhân loại và khoa học kỹ thuật là tuân theo đường thẳng hướng lên trên; rằng mỗi nền văn minh mới sẽ tiến bộ hơn và thông minh hơn nền văn minh cũ, cũng giống như sự tiến hóa giữa các loài.

Theo họ, nền văn minh của loài người phát triển từ thuở hoang dã cho đến ngày nay, có thể ước chừng 10.000 năm. Còn trước đó thì chỉ là con người nguyên thủy, hoang dã.

Tuy nhiên, nhiều khám phá khảo cổ đã phát hiện một số nền văn minh chưa rõ nguồn gốc, nhưng lại có tiến bộ vượt bậc trong khoa học và không phù hợp cái khung 10.000 năm phát triển nói trên. Một vài nền văn minh cổ đại trên khắp thế giới cho thấy một trình độ hiểu biết cao về thiên văn học và toán học.

Những nền văn minh rực rỡ từ hàng nghìn năm trước

Khi vương quốc Babylon xuất hiện 2500 năm trước, một trong những nhà thiên văn học hàng đầu của họ, Kidinnu, đã có thể lập bản đồ quỹ đạo chuyển động hàng năm của mặt trời và mặt trăng. Tấm bản đồ này không có đối thủ cho tới năm 1857, khi nhà thiên văn học Peter Andreas Hansen lập biểu đồ vòng cung của các thiên thể này với biên độ sai sót trong phạm vi chỉ 9 giây góc.

Một cuốn niên giám Babylon, đề cập đến vị trí của các hành tinh trong tương lai (Ảnh: Bảo tàng Anh)
Một cuốn niên giám Babylon, đề cập đến vị trí của các hành tinh trong tương lai (Ảnh: Bảo tàng Anh)

Vào triều đại nhà Thương ở Trung Quốc, trải dài từ giai đoạn 1700-1100 trước Công nguyên, một loại dương lịch đã xuất hiện. Được gọi là Ssu-Ten, loại lịch này bao gồm các tháng, có mức độ chính xác tới 29,53055106 ngày, nghĩa là năm nhuận đã được bao hàm trong đó. Một văn bản thậm chí còn cổ hơn nữa của Trung Quốc, được biết đến là Hoàng Đế Bình Túc Vương, đã ghi nhận Trái đất là một thực thể trôi nổi trong không gian.

Tương tự, hai học giả Hy Lạp Parmenides và Empedocles, vốn được trích dẫn một cách riêng biệt, đã cho rằng “mặt trăng soi sáng bầu trời đêm nhờ ánh sáng thu mượn”. Trong 10.000 năm trước hoặc tương đương, con người hiện đại đã biết về khả năng tồn tại trí tuệ ngoài hành tinh [i].

Cái gì đã thúc đẩy xã hội loài người sơ khai bước qua ranh giới và thu thập các kiến thức đáng kinh ngạc ở giai đoạn sớm như vậy?

Những ví dụ đã nêu không phải chỉ là một trường hợp riêng biệt, không phải chỉ một khu vực trên Trái đất phát triển được một trình độ khoa học cao đến thế, mà là rất phổ biến. Qua đó, chúng ta dần dần thấy một bức tranh rất sôi động về lịch sử nhân loại.

oracle-bones nha Thuong


Hai mảnh xương tiên tri từ triều đại nhà Thương, Trung Quốc (giai đoạn 1800 -. 1200 TCN). Những dòng chữ khắc trên mảnh xương tiên tri thời nhà Thương cho thấy ít nhất cho đến vào thế kỷ 14 TCN, nhà Thương đã thiết lập được năm mặt trời với 365¼ ngày và tháng âm lịch với 29½ ngày. (Ảnh: CalendarsThroughTheAges)

Nền văn minh Sumer

Nền văn minh Sumer được xem là một trong những cái nôi khởi thủy của nhân loại hiện đại. Nền văn minh này xuất hiện khoảng 3800 năm trước Công nguyên, tọa lạc tại khu vực phía nam Iraq ngày nay, văn minh Sumer đã bùng nổ với những thành tựu văn hóa đáng kinh ngạc.

Sumer cũng được gọi là Shinar, và khu vực này nằm giữa hai con sông Tigris và Eughrates. Vì thế khu vực này cũng được gọi là Lưỡng Hà. Hai dòng sông này đóng vai trò quan trọng giúp nền văn minh Sumer phát triển rực rỡ, tạo điều kiện cho giao thương và buôn bán.

Thành phố Sumer. (Ảnh: thecultureconcept.com)
Thành phố Sumer. (Ảnh: thecultureconcept.com)

Lưỡng Hà nằm trong khu vực Trăng lưỡi liềm Màu mỡ (Fertile Crescent), nơi có vị trí địa lý, khí hậu và nguồn nước phù hợp để phát triển nông nghiệp. Trước khi nền văn minh Sumer xuất hiện có tồn tại một nền văn minh trước đó tên là Ubaid. Nền văn minh Ubaid có nguồn gốc chưa rõ ràng, rất có thể bao gồm các bộ tộc nằm rải rác xung quanh hai con sông lớn.

Văn minh Sumer phân nhánh thành một số lĩnh vực với trình độ phát triển đáng kinh ngạc. Chiêm tinh học, thực vật học, động vật học, toán học và luật học đã tạo nên những thành tựu vĩ đại của Sumer. Y học và dược học đã được ứng dụng rộng rãi. Những ngôi nhà đầu tiên bằng gạch đã được tìm thấy trong vùng.

Sumer thậm chí còn có một hệ thống truyện thần thoại, cùng với một nền lịch sử đầy đủ trong văn hóa của riêng mình  [ii]. Vào một thời kỳ khi săn bắn hái lượm là hình thức sinh sống phổ biến tại nhiều khu vực, thì người Sumer đã có thể xây dựng các bộ luật cao cấp và tính toán thiên văn học ở trình độ trung bình. Một trong những văn bản viết tay đầu tiên trên thế giới cũng cũng được tìm thấy tại khu vực này.

Bản tái hiện thành phố Sumer của thành Ur. (Ảnh: Kings Academy)
Bản tái hiện thành phố Sumer của thành Ur. (Ảnh: Kings Academy)

Nền văn minh Sumer sử dụng chữ hình nêm để ghi chép lại kiến thức của mình, bao gồm các hình tam giác hẹp xếp theo mô thức khác nhau. Bảng chữ cái của người Sumer bao gồm các chữ tượng hình – tương tự như các loại ngôn ngữ phương Đông (Trung Quốc, Nhật Bản…). Cách này khác với việc sử dụng ngữ âm kết hợp với nhau để tạo thành các từ, như trong tiếng Anh.

Văn bản được khắc lên các tấm đất sét ướt rồi và sau đó sẽ được đem đi nung và bảo quản. Phương pháp này có lẽ đã ra đời trước cuộc cách mạng in ấn Gutenberg khoảng 2500 năm. Hơn 500.000 những tấm đất sét như vậy đã được phát hiện, cho thấy hơi thở của tri thức mà nền văn minh này sở hữu và thời gian họ dự định sẽ bảo quản chúng.

Một trong hàng ngàn tấm bảng có chữ hình nêm được phát hiện tại Iraq. (Ảnh: Wikipedia)
Một trong hàng ngàn tấm bảng có chữ hình nêm được phát hiện tại Iraq. (Ảnh: Wikipedia)

Nền văn minh Sumer cũng phát triển các công trình kiến trúc độc đáo gọi là ziggurats (bệ núi). Đây là những cấu trúc hình kim tự tháp, cao hàng chục mét.

Nền văn minh này trải dài qua 3 triều đại riêng biệt, triều đại cuối cùng bắt đầu vào khoảng 2100 năm trước Công nguyên. Nền văn minh này cũng đã tạo ra hai trong số các thành phố đầu tiên trên thế giới, Uruk và Eridu. Trong những thành phố này, đây là lần đầu tiên trong lịch sử các thợ thủ công, nhà văn, bác sĩ, nhà toán học và luật sư có thể trao đổi buôn bán các sản phẩm của họ. Các thành phố nhỏ của Sumer cuối cùng cũng hợp nhất với nhau, trở thành một phần của nền văn minh Babylon trải rộng trên toàn bộ khu vực Lưỡng Hà.

Ngoài nông nghiệp, y tế và thương mại, người Babylon cũng có một sự hiểu biết sâu sắc trong lĩnh vực thiên văn. Kiến thức của họ về các ngôi sao và thiên thể đã được sưu tầm vào các tấm đất sét, trên đó mô tả sự chuyển động của các chòm sao và chuyển động của Mặt trời trong mối liên hệ với Mặt trăng.

Những hiện tượng quan trọng như điểm xuân phân, điểm thu phân, nhật thực và nguyệt thực cũng đã được ghi chép. Một nhóm các nhà khoa học Babylon biên soạn các kiến thức của họ về sự chuyển động của các ngôi sao, các chuyển động của chúng và các chòm sao thành một công trình gọi là MUL.APIN, có nghĩa là “chòm sao Đại Hùng”, đó là tên được đặt cho chòm sao đầu tiên trong tài liệu. Tài liệu này có niên đại từ năm 1370 TCN.

Hình ảnh tái hiện Ziggarut (bệ núi) 3D  của thành Ur. (Ảnh: Wikipedia)
Hình ảnh tái hiện Ziggarut (bệ núi) 3D  của thành Ur. (Ảnh: Wikipedia)

Một tài liệu ấn tượng không kém có tên là Enuma Anu Enlil, bao gồm một số bảng chiêm tinh, không chỉ đề cập đến nhật thực, nguyệt thực và các hiện tượng thiên văn, mà còn được sử dụng như một hệ thống tiên tri.

Mặc dù phương pháp của họ có thể chứa một số yếu tố siêu thường, nhưng các phương pháp tính toán này đã đi vượt quá xa tính chất nguyên thủy của nhân loại.

Lĩnh vực thiên văn học và toán học của Babylon đã sử dụng hệ thống tính toán rất đặc thù dựa trên các bội số của 60 và nó được gọi là hệ thống sáu mươi. Các nhà khoa học Babylon có thể tính toán các phép đo chính xác đến 1/60 của 1 độ, còn được gọi là một phút góc [iii].

Nền văn minh Babylon đã đưa ra hai tiền lệ rất đặc thù trong lịch sử nhân loại. Thứ nhất, nó thiết lập các tiêu chuẩn của một nền văn minh hiện đại. Thứ hai, việc theo đuổi  lĩnh vực thiên văn học đã đưa ví dụ đầu tiên cho thấy con người đã chủ động quan sát và thu thập thông tin về các hiện tượng nằm ngoài tầm với trực tiếp của bản thân. Về cơ bản, đây là một bước tiến trưởng thành của nhân loại.

Nhưng một câu hỏi lớn hơn xuất hiện. Những điều kiện tiên quyết của một nền văn minh là gì? Liệu chúng chỉ đơn giản xuất hiện một cách “ngẫu nhiên”, giống như thuyết tiến hóa nói rằng sự bùng nổ kỷ Cambri đã sản sinh ra những dạng thức mới của sự sống? Đến khi nào chúng ta mới nhìn nhận những thông tin mới này và cập nhật lại cách nhìn nhận về lịch sử của nhân loại?

Thông tin trong bài viết trên được lấy từ cuốn sách “The Human Anomaly” (Sự dị thường của loài người – tạm dịch). Để biết thêm thông tin, xem tại đây.

Dịch và đăng lại với sự cho phép của tác giả Tashi Javed, Ancient-Origins.net,Quế Trà biên dịch.

Nguồn tham khảo:[i] Steiger, Brad. Worlds Before Our Own.pg,134. London: W.H. Allen, 1980. Print.
[ii] Sitchin, Zecharia, Divine Encounters, 7
[iii] Magli, Giulio, Mysteries and Discoveries of Archaeoastronomy: From Giza to Easter Island, 100

Xem thêm :

Categories: Văn Minh Cổ Đại

Những loài cây ăn thịt ẩn thân cực đỉnh

Những loài cây ăn thịt rất đa dạng về hình dáng, chủng loại khiến chúng ta dễ bị nhầm lẫn và khó phát hiện ra chúng.

Những loài cây ăn thịt ẩn thân cực đỉnh


Cây nắp ấm Heliamphora không có liên hệ trực tiếp với bất cứ một cây nắp ấm nào, nhưng cách thức chúng thu hút và diệt côn trùng thì giống hệt.  Chúng tiết ra một enzyme tiêu hóa, chủ yếu là vi khuẩn cộng sinh để phân giải con mồi.Hầu hết các loài này sống ở khu vực mưa nhiều, ở trên cao và có khía để thoát nước thừa.

Những loài cây ăn thịt ẩn thân cực đỉnh


Cây Bromeliads. Đây là loài cây trong nhà phổ biến, lá của nó tạo ra một “hố” chứa nước. Chắc ít người biết được rằng cây này cũng được coi là loài cây ăn thịt. Nó khiến côn trùng “chết đuối” trong “hố” nước của mình. Có vẻ như cùng với thời gian, kỹ nghệ bắt mồi của loài này ngày càng được cải tiến.

Những loài cây ăn thịt ẩn thân cực đỉnh


Hạt ăn thịt. Capsella bursa-pastoris hay còn gọi là “cái túi của người chăn cừu” thoạt nhìn không hề giống cây ăn thịt. Tuy nhiên, thực là hạt của cây này có tiết ra một chất dính khi ướt và đã có bằng chứng chứng minh rằng muỗi bị thu hút bởi chất dính này và bị biến thành chất dinh dưỡng nuôi hạt.

Những loài cây ăn thịt ẩn thân cực đỉnh


Cây bắt kiến. Giống những cây nắp lá khác, Nepenthes bicalcarate có những chiếc lá hình nắp, chứa đầy chất lỏng để dụ, giết và tiêu hóa côn trùng. Có điểm khác là thức ăn khoái khẩu của Nepenthes bicalcarate là kiến Camponotus Schmitzi.

Những loài cây ăn thịt ẩn thân cực đỉnh


Nepenthes lowii-cây Toilet. Chất bài tiết có vị ngọt và dính của nó đã thu hút cả loài chuột chù cây. Nó thậm chí còn tiêu hóa được cả phân chim rơi vào trong lá.

Những loài cây ăn thịt ẩn thân cực đỉnh


Cây nắp ấm bắt dơi. Khá giống với cây toilet, nhưng cây Nepenthes rafflesiana có sở thích “khác người” là ăn thịt dơi.

Những loài cây ăn thịt ẩn thân cực đỉnh


Cây ăn thực vật. Thay vì ăn thịt động vật, cây này có khả năng tiêu hóa lá, và các bộ phận của cây.

Những loài cây ăn thịt ẩn thân cực đỉnh


Cây ăn thịt gai. Những hạt nước đẹp long lanh trên gai của cây lại chính là những hạt keo để bẫy con mồi. Cây này có khả năng bắt mồi cực nhanh, chỉ trong vòng 75 mili giây.

Những loài cây ăn thịt ẩn thân cực đỉnh


Cây bắt sâu. Nhiều loài thuộc họ bắt sâu này là những cây nấm thông thường mà ta vẫn thấy. Lớp rễ dưới đất của cây chính là cái bẫy để giết chết những chú giun đất đi qua khu vực cây mọc.

Những loài cây ăn thịt ẩn thân cực đỉnh


Roridula, cây ăn sâu bọ. Đây được coi là một trong những cây ăn thịt lớn nhất thế giới. Roridula có thể cao tới gần 2m, toàn thân phủ đầy gai nhọn, dính và ngắn. .Nhưng lá cây mới là nơi bắt sâu bọ của cây.

Xem thêm:

Gấu trúc từng là loài ăn thịt tàn bạo

Theo Nicole MacCorkle, nhân viên chăm sóc gấu trúc tại Vườn quốc gia Smithsonian (Washington D.C, Mỹ), gấu trúc vẫn ăn thịt nếu người ta đưa cho chúng, nhưng không chủ động săn mồi.

Các nhà khoa học Trung Quốc cho biết những con gấu trúc cổ đại là loài ăn thịt tàn bạo. Theo nhà cổ sinh vật học Trung Quốc Huang Wanbo: “400.000 năm trước, ở đây có nhiều gấu trúc hơn người”.

Các nhà khoa học giải thích rằng chính con người khiến gấu trúc thay đổi tập quán ăn thịt. Khi con người ngày càng đông lên, gấu trúc bị đẩy lên sống ở những vùng cao hơn. Chúng buộc phải ăn tre để tránh cạnh tranh thức ăn với các loài ăn thịt khác.

Tuy nhiên, cho tới nay, gấu trúc vẫn còn giữ lại các đặc tính của loài động vật ăn thịt. Ruột của động vật ăn thực vật thường dài hơn để hỗ trợ tiêu hóa chất xơ, nhưng gấu trúc thì không.

Thêm vào đó, khi các nhà khoa học tiến hành sắp xếp bộ gene của gấu trúc, họ phát hiện ra rằng loại động vật này thiếu các gene mã hóa cho các loại enzyme phân hủy cellulose – chất xơ trong tre và các loại cỏ khác.

Nhà nghiên cứu Fuwen Wei tại Viện Động vật học thuộc Học viện Khoa học Trung Quốc tại Bắc Kinh đã phát hiện ra rằng sở dĩ gấu trúc có thể tiêu hóa được tre là bởi trong ruột của gấu trúc chứa vi khuẩn tương tự như vi khuẩn trong đường ruột của các động vật ăn cỏ.

13 loại vi khuẩn được xác định là từ họ vi khuẩn có khả năng phân hủy cellulose, trong đó 7 loại chỉ có ở gấu trúc.

Tuy nhiên, gấu trúc cũng không thể lấy đủ năng lượng từ tre. Một con gấu trúc chỉ có thể tiêu hóa được 17% từ 9 – 14kg thức ăn mà chúng ăn hàng ngày. Vì vậy chúng chọn lối sống chậm chạp để tiết kiệm năng lượng.

Xem thêm:

Chim khổng lồ DIatryma không phải là loài ăn thịt

Trái với những điều đã được kết luận trước đây, một nghiên cứu mới cho thấy chim Diatryma khổng lồ chỉ là loài động vật ăn cỏ hiền lành.

Các dấu chân của con chim khổng lồ Diatryma cho thấy nó là động vật ăn cỏ hiền lành chứ không phải là một động vật ăn thịt hung dữ.

Một nhóm các nhà nghiên cứu từ Washington, Hoa Kỳ, đã kiểm tra các vết chân được phát hiện trong một vụ lở đất trong năm 2009.

Nghiên cứu trước đó cho rằng, con chim khổng lồ nói trên là một kẻ săn mồi ăn thịt hoặc ăn xác thối. Tuy nhiên dấu chân không có móng vuốt đã ủng hộ giả thuyết rằng Diatryma không phải là một loài ăn thịt.

Cao khoảng 2,13m và có một cái đầu và mỏ to, con chim khổng lồ không biết bay Diatryma thường được miêu tả như là một động vật ăn thịt hung dữ trong cả các công trình khoa học cũng như trên các phương tiện truyền thông.

Chim Diatryma khổng lồ


Chim Diatryma khổng lồ

Nhà địa chất học và thành viên nhóm nghiên cứu George Mustoe, từ Đại học Western Washington tại Bellingham, Mỹ cho biết con vật này được nghĩ là: “loài chim thay thế khủng long trở thành loài ăn thịt hàng đầu”“Chúng ta hãy trung thực: những sinh vật đáng sợ, ăn thịt hung dữ thu hút sự chú ý nhiều hơn rất nhiều so với các động vật ăn cỏ hiền lành”.

Nghiên cứu, được công bố trong tạp chí Cổ sinh vật học, phân tích một tập hợp các dấu chân có niên đại khoảng 55,8 đến 48,6 triệu năm trước tại Lower Eocene Eocene. Được bảo quản trong sa thạch, các dấu chân tạo ra một phần của Chuckanut Formation tại phía Tây Bắc Washinton, Mỹ.

Nhóm nghiên cứu kết luận rằng, nhiều dấu vết được bảo quản tốt có thể được tạo ra bởi Diatryma. Điều này giúp họ tìm hiểu về các dấu chân bỏ lại sau bởi con chim khổng lồ này và các dấu chân cung cấp một bằng chứng mới về cái mà loài chim này ăn là gì.

“Các dấu vết rõ ràng cho thấy rằng loài vật này không có móng vuốt dài, nhưng có móng chân khá ngắn”, ông David Tucker, từ Đại học Western Washington, người cũng tham gia nghiên cứu cho biết.

“Các loài chim ăn thịt phải có móng vuốt dài sắc nhọn để giữ con mồi”, David Tucker giải thích.

Các nhà cổ sinh vật học đầu tiên nghiên cứu hóa thạch Diatryma đã kết luận rằng con chim khổng lồ là một động vật ăn thịt vì kích thước của nó, với cái đầu rất lớn và mỏ lớn.

Bộ xương Diatryma được tìm thấy đầu tiên ở Mỹ được bảo quản cùng với xương ngựa nhỏ và các động vật có vú nhỏ khác. Diatryma có chân tương đối ngắn, điều này cho thấy nó không thể chạy đủ nhanh để bắt những con mồi, và do đó nó là động vật ăn cỏ.

Phân tích sâu hơn cho thấy rằng loài chim này không có một cái móc ở cuối mỏ của nó – một đặc điểm được tìm thấy trong tất cả các loài chim ăn thịt giúp chúng giữ và xé xác con mồi.

Nhiều khả năng là Diatryma sử dụng mỏ của chúng để cắt lá, ăn trái cây và hạt giống từ các khu rừng cận nhiệt đới nơi mà chúng sinh sống.

Xem thêm:

Mây trên Trái đất có thể dần biến mất!

Các đám mây thấp bao phủ các đại dương của Trái đất có thể dần bị phá vỡ rồi biến mất trong thế kỷ tới do mức carbon dioxide trong khí quyển gia tăng chóng mặt.

Nghiên cứu mới do Viện Công nghệ California (Mỹ) dẫn đầu cho thấy nồng độ carbon dioxide (CO2) cao hơn 1.200 ppm có thể đẩy Trái đất đến một “điểm bùng nổ” mà các đám mây tầng thấp đang bao phủ các đại dương sẽ trở nên không còn ổn định. Chúng có thể dần bị phá vỡ rồi biến mất hoàn toàn.


Mây tầng thấp bao phủ các đại dương của Trái đất có thể biến mất nếu mức CO2trong không khí tiếp tục tăng cao – (ảnh: REUTERS).

Cho dù số liệu mới nhất vào tháng 4-2018 cho thấy mức CO2 trung bình hằng tháng của Trái đất mới là 410 ppm nhưng các nhà khoa học cảnh báo với tốc độ ô nhiễm hiện nay, ngưỡng nguy hiểm trên có thể đến vào thế kỷ tới.

Mây biến mất, Trái đất mất một lớp “áo giáp” chống lại ánh nắng mặt trời, có thể gây ra hiện tượng tăng đột biến nhiệt độ toàn cầu từ 5oC – 8oC. Hiện tượng biến đổi khí hậu kinh hoàng này đã từng xảy ra trong quá khứ, chính là giai đoạn nóng lên cực độ 56 triệu năm trước, trong kỷ Paleocene-Eocene, gây tuyệt chủng hàng loạtsinh vật cỡ lớn trên Trái đất và khiến nhiều loài khác phải di cư.

Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra các đám mây có thể giành lại được vị trí nếu ngưỡng CO2 giảm xuống dưới mức nguy hiểm. Các thống kê cho thấy lượng khí thải CO2 trong khí quyển Trái đất bắt đầu tăng vọt kể từ thời thế giới bước vào cách mạng công nghiệp.

Xem thêm:

Siêu sóng thần khủng khiếp nhất lịch sử nhân loại: Cao 524m, cuốn phăng hàng triệu cây cối

Cách đây 60 năm, một trận động đất gây siêu sóng thần đã xảy ra ở vịnh Lituya, bang Alaska, Mỹ.

Sóng thần là một trong những thảm họa tự nhiên đáng sợ nhất trên Trái Đất. Theo các nhà địa chất học, sóng thần sinh ra từ những trận động đất, những dịch chuyển địa chất cả trên và dưới mặt nước, núi lửa phun trào và va chạm của thiên thạch với Trái Đất.

Sự kiện sóng thần ở Indonesia xảy ra sau khi núi lửa Anak Krakatau phun trào gây sạt lở đất đá xuống biển, tạo nên cơn sóng thần cao 3m tấn công vùng eo biển Sunda (Indonesia) lúc 21:30′ giờ địa phương ngày 22/12 đã khiến hàng nghìn người thương vong, trong số đó, theo thống kê của The Guardian (Anh), ít nhất 280 người đã thiệt mạng sau thảm họa những ngày cuối năm này. 

Lịch sử địa chất thế giới ghi nhận, Trái Đất từng diễn ra siêu sóng thần lớn nhất trong lịch sử. Cao gấp hàng trăm lần so với thảm họa sóng thần ở Indonesia 2018.

“Bức tường nước” cao 524m gầm thét: Cơn ác mộng của Alaska cách đây 6 thập kỷ

Vào đêm ngày 9/7/1958, một trận động đất mạnh 7,7-8,3 độ richter đã gây ra một trận lở đất khổng lồ trên bờ đông bắc vịnh Lituya dọc theo bờ biển phía nam bang Alaska (Mỹ).

Trận động đất xảy ra dọc theo khe đứt gãy Fairweather. Chính Fairweather cũng khiến cho địa hình của vịnh Lituya có hình dạng chữ T đặc biệt như vậy khi nhìn trên cao. Vịnh dài 11,2km, rộng 3,2km.

Siêu sóng thần khủng khiếp nhất lịch sử nhân loại: Cao 524m, cuốn phăng hàng triệu cây cối - Ảnh 2.

Vịnh hẹp Lituya có hình chữ T đặc biệt khi nhìn từ trên cao. Nguồn: Google

Sau khoảnh khắc trận động đất xảy ra, 40 triệu mét khối vật chất ở độ cao 914 mét đã lao từ sườn núi xuống vùng biển Gilbert Inlet. Một phần đất đá rơi trúng sông băng Lituya. Tất cả điều này đã gây nên một cột sóng thần cao hơn 30m ngay lập tức trước khi di chuyển. 

Không dừng ở độ cao đó, tác động của động đất mạnh cùng dư chấn và sạt lở đất khổng lồ đã khiến sóng thần tiếp tục thu năng lượng và tăng dần chiều cao lên đến 524 mét, trở thành siêu sóng thần lớn nhất trong lịch sử Trái Đất. 

Ở độ cao khủng khiếp này, siêu sóng thần trên vịnh Lituya hoàn toàn có thể “nuốt trọn” tòa nhà Empire State cao 443 mét của Mỹ.

Siêu sóng thần khổng lồ cao hơn 520m tiếp tục di chuyển xuống toàn bộ hai bên của vịnh Lituya, qua La Chaussee Spit và vào vịnh Alaska. Sức mạnh không gì cản phá nổi của siêu sóng thần đã khiến hàng triệu cây dọc theo hai bờ của vịnh bị bật gốc và bị cuốn đi.

Siêu sóng thần khủng khiếp nhất lịch sử nhân loại: Cao 524m, cuốn phăng hàng triệu cây cối - Ảnh 3.

Bản đồ thiệt hại của vịnh Lituya sau thảm họa sóng thần cao 524m: Hai bên vịnh bị sóng thần phá hủy hoàn toàn (màu vàng). Màu đỏ là nơi hàng chục triệu mét khối đá lở sau trận động đất. Nguồn: Google

Do vịnh hẹp Lituya là nơi tập trung phổ biến của ngư dân địa phương và vào đêm định mệnh 9/7/1958 đó, có ba chiếc thuyền đánh cá đang neo đậu ở đó.

Trong số đó, một chiếc bị hư hại, một chiếc khác bị chìm, may mắn thay ngư dân trên hai thuyền này được cứu kịp thời. Chiếc thuyền còn lại cùng hai ngư dân đã biến mất không một dấu vết, sóng thần đã cuốn trôi họ ra ngoài biển vĩnh viễn.

Siêu sóng thần khủng khiếp nhất lịch sử nhân loại: Cao 524m, cuốn phăng hàng triệu cây cối - Ảnh 4.

Vịnh Lituya vài ngày sau thảm họa siêu sóng thần khủng khiếp nhất trong lịch sử. Nguồn: USGS

Những con sóng thần cao từng được ghi nhận

Theo các nhà khoa học, gió trên biển tạo nên những con sóng cao trung bình 3 mét. Còn trong những ngày bão biển nổi lên, những con sóng cao nhất cũng chỉ khoảng 9 mét.

Tuy nhiên, tự nhiên khó lường! Những sự kiện địa chất như động đất, sóng thần, dịch chuyển mảng kiến tạo, thiên thạch va chạm với Trái Đất… đều có thể tạo nên những siêu sóng thần cao khủng khiếp, có sức mạnh không gì cản phá nổi.

Tạp chí Smithsonian của Viện khoa học Smithsonian (Mỹ) đã thống kê những trận sóng thần khủng khiếp khác từng xảy ra trong lịch sử, đặc biệt là những năm gần đây:

Sóng cao 9 mét: 

Banzai Pipeline ở Hawaii nổi tiếng với “đặc sản” là những con sóng cao 9m, cuồn cuộn như một chiếc ống nước khổng lồ. Đây là địa điểm mà dân lướt sóng ưa mạo hiểm của thế giới tụ họp để thử thách bản thân. 

Smithsonian Magazine bình chọn Banzai Pipeline là nơi lướt sóng nguy hiểm nhất hành tinh. Ít nhất 10 người được cho là đã thiệt mạng tại đây.

Sóng thần cao 15 mét:

Một con sóng thần cao 15 mét tại Ấn Độ Dương cách đây 14 năm có tốc độ di chuyển lên đến 804km/giờ. Với tốc độ và độ cao này, sóng thần từ ngoài đại dương đã tông thẳng vào đất liền 1,6km khiến 200.000 người thiệt mạng. 

Sóng thần cao 26 mét:

Tính cho đến năm 1995, các nhà khoa học không tin vào sự tồn tại của sóng cồn, hay sóng quái vật, ngoài đại dương cho đến khi những tháng đầu năm 1995, một thiết bị giám sát biển ngoài khơi bờ biển Na Uy đã ghi được hình ảnh của con sóng cao 26 mét, được bao quanh bởi con sóng khác cao 6 mét.

Các nhà khoa học đưa ra giải thích cho sự hình thành của con sóng quái vật này là hai hoặc nhiều con sóng lớn gặp nhau, tạo thành con sóng cao nhất, được bổ trợ sức mạnh từ những con sóng khác.

Bài viết sử dụng các nguồn: Forbes, Smithsonianmag, Geology

Xem thêm:

‘Thủy quái’ hình dạng nửa rùa nửa rắn nổi trên mặt hồ khiến dân tình hoang mang

'Thủy quái' hình dạng nửa rùa nửa rắn nổi trên mặt hồ khiến dân tình hoang mang

Cư dân của một thành phố ở Trung Quốc bị sốc trước sự xuất hiện của “thủy quái” với hình dạng nửa rùa nửa rắn nổi lên trên một hồ nước ở công viên hồi đầu tháng 2.

Một nhân chứng cho biết lần đầu tiên nhìn thấy lưng “con cá” nhô khỏi mặt nước trông nó như lưng rùa nhưng khi nhìn kỹ đầu lại thấy giống con rắn.

“Thủy quái” này được phát hiện vào ngày 9/2 tại Công viên hồ Baiyun ở thành phố Quảng Châu, tỉnh Quảng Đông. Một nhân viên đã chụp ảnh con vật và cho biết “con cá” dài khoảng 2 m và “trông kỳ quái”, theo tờ Guangzhou Daily.

Song Yunchang, trưởng đội an ninh của công viên, cho hay: “Chúng tôi được biết về sự tồn tại của loài cá lạ trước ngày 9/2, nhưng nó chỉ nổi một phần nhỏ cơ thể lên khỏi mặt nước nên chúng tôi không thể xác định được là con gì”.

“Mặt sau của con cá lạ trông giống con rùa và có màu đen. Cái đầu của nó giống đầu rắn”, một nhân viên bảo vệ mô tả.

Các chuyên gia về thủy sản nghi ngờ đây là cá sấu mõm dài dựa vào hình ảnh được chụp.

Nhân viên công viên sau đó đã đặt các biển cảnh báo quanh hồ.

Thủy quái hình dạng nửa rùa nửa rắn nổi trên mặt hồ khiến dân tình hoang mang - Ảnh 2.

“Thủy quái” dưới hồ thực chất là một con cá sấu mõm dài.

Tin tức về “thủy quái” khiến nhân viên Công viên hồ Baiyun và người dân khá hoang mang. Truyền thông địa phương mô tả “con vật ngoài hành tinh” này là “hung dữ” và coi nó là “kẻ giết người dưới nước”. Các nhà báo cũng lo ngại con vật có thể phá hủy hệ sinh thái trong hồ bằng cách “ăn mọi sinh vật sống”.

Một nhóm sau đó được thành lập để điều tra và bắt “thủy quái”. Sau 4 ngày tích cực truy tìm, họ đã tóm thành công con cá. Nó có chiều dài 1,2 m và được xác định là cá sấu mõm dài sinh tới từ khu vực Bắc và Trung Mỹ. Một con cá sấu khác nhỏ hơn (dài 0,9 m) cũng sa lưới.

Nhân viên Công viên hồ Baiyun suy đoán những con cá sấu này đã bơi vào hồ từ sông Ngọc Trai khi một cửa hồ chứa được dỡ bỏ vào năm 2013.

Cá sấu mõm dài có đặc điểm nổi bật là hai hàng răng sắc nhọn. Một con cá sấu trưởng thành có chiều dài trung bình gần 2 m và nặng hơn 45 kg. Nó có khả năng gây ra vết cắn nghiêm trọng cho ngư dân và người bơi do kích thước lớn và hàm răng sắc nhọn.

Xem thêm:

Rùa khổng lồ tưởng tuyệt chủng 100 năm trước nay “tái xuất giang hồ” trong sự ngỡ ngàng của khoa học

Rùa khổng lồ tưởng tuyệt chủng 100 năm trước nay "tái xuất giang hồ" trong sự ngỡ ngàng của khoa học

Lần cuối cùng loài rùa này xuất hiện là vào năm 1906. Vậy mà nay, chúng lại một lần nữa hiện ra trước mắt các nhà khoa học.

Nhiều sinh vật đã biến mất trong hành trình phát triển của loài người. Tuy nhiên, đâu đó vẫn còn điều kỳ diệu có thể xảy ra. Như trường hợp của rùa khổng lồ trên đảo Fernandina chẳng hạn.

Loài rùa này vốn được cho là đã tuyệt chủng từ hơn 100 năm trước, với trường hợp cuối cùng được nhìn thấy vào năm 1906. Nhưng chỉ vài ngày trước, một cá thể rùa Fernandina đã xuất hiện trên ngay chính hòn đảo này, tại công viên bảo tồn quốc gia Galápagos thuộc quần đảo Galápagos Thái Bình Dương, trong sự ngỡ ngàng của khoa học.

Rùa khổng lồ tưởng tuyệt chủng 100 năm trước nay tái xuất giang hồ trong sự ngỡ ngàng của khoa học - Ảnh 1.

Trên thực tế thì năm 2009, đã từng có thông tin về sự xuất hiện của rùa khổng lồ, nhưng khoa học vẫn còn chần chừ. Còn nay, các đội nghiên cứu đã tìm thấy bằng chứng – bao gồm phân, vết cắn … để chứng minh rằng có nhiều hơn một con rùa khổng lồ đang sống trên đảo này.

“Việc bảo tồn rùa Fernandina đã là công việc của tôi trong 29 năm qua, và tôi đã tham gia rất nhiều sự kiện hấp dẫn, bao gồm việc tìm ra loài rùa mới. Nhưng tất cả đều không thể so với cảm giác vào lúc này,” – Wacho Tapia, giám đốc chương trình Khôi phục rùa khổng lồ tại khu bảo tồn Galápagos cho biết.

“Tìm ra một con rùa khổng lồ Fernandina thực sự là phát hiện lớn nhất thế kỷ. Cá thể cuối cùng được tìm thấy trước kia đã từ 112 năm trước rồi.” – ông cho biết.

“Giờ chúng ta chỉ cần xác nhận nốt mẫu gene của cụ rùa cái này là xong. Cụ già rồi, nhưng vẫn khỏe.”

Rùa khổng lồ tưởng tuyệt chủng 100 năm trước nay tái xuất giang hồ trong sự ngỡ ngàng của khoa học - Ảnh 2.

Đảo Galápagos trước kia cũng rất nổi tiếng vì sự tồn tại của rùa khổng lồ. Ngay cả từ “Galápagos” cũng bắt nguồn là một từ tiếng Tây Ban Nha cổ có nghĩa là “rùa”. Tuy nhiên, thực ra thì trên đảo vốn có tới 15 loài rùa khổng lồ khác nhau.

Tuỳ theo địa điểm sinh sống mà các loài rùa này sẽ có hình dáng khác nhau. Những loài sống trên các vùng đất cao và ẩm sẽ có một bộ mai cứng, cong vòm, cổ ngắn và chủ yếu ăn thực vật mọc thấp dưới đất. Còn các loài sống tại vùng khô, bằng phẳng thì có mai phẳng hơn, cổ dài hơn để ăn thực vật mọc trên cao.

Đảo Galápagos trước kia cũng là một nguồn tư liệu quý giá để Charles Darwin viết ra cuốn sách về chọn lọc tự nhiên. Đơn giản là vì hòn đảo này có một hệ sinh thái hết sức đặc biệt, với nhiều loài vật chỉ tồn tại được ở đây thôi.

Tham khảo: IFL Science

Xem thêm:

Phát hiện vật thể nghi kim tự tháp 3 mặt trên bề mặt sao Hỏa

Phát hiện vật thể nghi kim tự tháp 3 mặt trên bề mặt sao Hỏa

Một thợ săn UFO tin chắc vật thể hình kim tự tháp ba mặt trong ảnh chụp Sao Hỏa của tàu NASA là công trình của người ngoài hành tinh.

Phát hiện vật thể nghi kim tự tháp 3 mặt trên bề mặt sao Hỏa
Bức ảnh bề mặt sao Hỏa được tàu MRO chụp cách đây hơn 10 năm bằng camera HiRISE. (Ảnh: NASA).

Scott C Waring, biên tập viên trang UFO Sightings Daily, gây chú ý khi thông báo tìm thấy kim tự tháp ba mặt khổng lồ từ bức ảnh do tàu vũ trụ quay quanh quỹ đạo Mars Reconnaissance Orbiter (MRO) chụp cách đây hơn một thập kỷ, theo IFL Science.

“Kim tự tháp có một mặt trơn nhẵn, nhưng hai mặt còn lại đã bị xói mòn nghiêm trọng. Đây có thể là công trình do người ngoài hành tinh xây dựng trong quá trình định cư” , Scott cho biết.

Bức ảnh chụp bằng camera HiRISE nằm trong số thiết bị trên tàu MRO. Tỷ lệ của bức ảnh là 26 cm/pixel, do đó vật thể trong ảnh có kích thước khoảng 40 x 30 mét.

Vật thể nằm ở vùng Candor Chasma , một trong những hẻm núi lớn nhất ở Valles Marineris, hệ thống hẻm dài và sâu thứ hai trong Hệ Mặt Trời.

Phát hiện vật thể nghi kim tự tháp 3 mặt trên bề mặt sao Hỏa
Cận cảnh cấu trúc nhân tạo trên Sao Hỏa? Kim tự tháp được phát hiện trên Hành tinh Đổ. Ảnh: Gigapan

Các cấu trúc giống công trình của người Ai Cập khác cũng đã được phát hiện trên Sao Hỏa.

Lấy ví dụ, đầu năm 2018, thợ săn UFO và phóng viên không gian nghiệp dư Joe White tuyên bố đã bắt gặp các mảnh vụn của một bức tượng Nhân Sư dường như đã bị lãng quên từ lâu trên bề mặt Sao Hỏa.

Phát hiện vật thể nghi kim tự tháp 3 mặt trên bề mặt sao Hỏa
Mỏm đá giống hình tượng Nhân Sư được phát hiện trên bề mặt Sao Hỏa. Ảnh: Alien Art TV

Theo ông Joe, dựa trên các bức ảnh chụp cấu trúc giống tượng Nhân sư trên Sao Hỏa này của tàu thăm dò tự hành Curiosity Rover tại 5 góc chụp khác nhau qua các năm, bức tượng này ước chừng dài khoảng 60 m.

“Liệu nó có cùng kích thước với tượng Nhân sư Ai Cập trên cao nguyên Giza? Có thể lắm chứ”, ông Joe nhận định.

Phát hiện vật thể nghi kim tự tháp 3 mặt trên bề mặt sao Hỏa
Liệu có tồn tại bất kỳ mối liên hệ nào với tượng Nhân sư Ai Cập. Ảnh: moheet.com

Không chỉ vậy, tại khu vực lòng chảo của Hố va chạm Gale trên Sao Hỏa, ông Joe cũng phát hiện được công trình đá giống phần đầu của bức tượng một phụ nữ chiến binh, trông khá giống những bức tượng Ai Cập cổ đại trên Trái đất.

Phát hiện vật thể nghi kim tự tháp 3 mặt trên bề mặt sao Hỏa
Ảnh chụp bề mặt Sao Hỏa của tàu thăm dò Curiosity, bao gồm vật thể kỳ dị giống hình đầu người được nói đến. Ảnh: NASA

Nhà báo chuyên về lĩnh vực không gian này chia sẻ phát hiện của ông thông qua một video đăng tải trên YouTube. Ông bình luận về phong cách nghệ thuật nổi bật của bức tượng kỳ lạ và khẳng định rằng nó có một sự tương đồng rõ nét với các bức tượng chiến binh cổ đại được tìm thấy trong rất nhiều ngôi đền trên khắp Ai Cập.

Phát hiện vật thể nghi kim tự tháp 3 mặt trên bề mặt sao Hỏa
Hình vẽ các chiến binh Ai Cập cổ đại, với phần đầu mũ khá giống bức tượng trong ảnh chụp NASA. Ảnh: touregypt.net

Ông cũng tiết lộ rằng đây không phải là khám phá duy nhất thuộc loại này trên bề mặt sao Hỏa. Trên thực tế, ông đã tìm thấy hàng trăm di tích tương tự trong một số bức ảnh chụp sao Hỏa được gửi về từ tàu thăm dò Curiosity trong những năm gần đây. Bên dưới là danh sách một số phát hiện tương tự của tàu Curiosity:

Phát hiện vật thể nghi kim tự tháp 3 mặt trên bề mặt sao Hỏa
Một ngôi nhà có mái che trên Sao Hỏa. Ảnh: NASA
Phát hiện vật thể nghi kim tự tháp 3 mặt trên bề mặt sao Hỏa
Một kim tự tháp khác trên Sao Hỏa. Ảnh: NASA
Phát hiện vật thể nghi kim tự tháp 3 mặt trên bề mặt sao Hỏa
Khuôn mặt trên sao Hỏa. Ảnh: NASA
Phát hiện vật thể nghi kim tự tháp 3 mặt trên bề mặt sao Hỏa
Khối đá trông giống bức tượng tạc hình thần Anunnaki trong tín ngưỡng Sumer trên Sao Hỏa. Ảnh: NASA
Phát hiện vật thể nghi kim tự tháp 3 mặt trên bề mặt sao Hỏa
Hình ảnh một khối lập phương trên Sao Hỏa. Đây là một khối đá tự nhiên hay nhân tạo? Ảnh: NASA
Phát hiện vật thể nghi kim tự tháp 3 mặt trên bề mặt sao Hỏa
Hình người trên Sao Hỏa. Ảnh: NASA
Phát hiện vật thể nghi kim tự tháp 3 mặt trên bề mặt sao Hỏa
Một “phụ nữ áo đen” đang đi bộ trên Sao Hỏa? Ảnh: NASA

Sẽ là võ đoán nếu cho rằng những những công trình này có liên hệ nào đó với người Ai Cập cổ đại. Dù vậy, dựa trên những bức ảnh thu thập được của nhiều dị vật như vậy, ông Joe cho rằng chí ít đây là dấu tích của “một nền văn minh cổ đại” và thịnh vượng nào đó từng tồn tại và cư trú trên hành tinh đỏ.

Phải chăng nhân loại không cô đơn trong vũ trụ bao la này?

Xem thêm:

Categories: Văn Minh Cổ Đại

Những linh hồn ở Đại Kim Tự Tháp Giza tiết lộ bí mật con người muốn được biết nhất, đó là gì?

Chúng ta đã tốn nhiều giấy mực khi nói tới Kim tự tháp Giza, đại kim tự tháp cổ xưa nhất thế giới nằm tại vùng đất Ai Cập. Tuy nhiên cho tới nay các câu hỏi: Kim tự tháp này được xây từ bao giờ, nhằm mục đích gì và làm cách nào có thể tạo nên một công trình vĩ đại như thế?..vẫn còn là ẩn đố… Tuy nhiên, cho tới một ngày…

Napoleon đã nhìn thấy một cảnh tượng kinh hoàng trong hầm mộ của Nhà vua. Ông ấy đã nhìn thấy điều gì?

Năm 1798, Napoleon đến Ai Cập, trong một cuộc viễn chinh kết hợp nghiên cứu khảo cổ. Giống nhiều người thời đó, ông rất ấn tượng với các Pha-ra-ông và đất nước Ai Cập huyền bí nên đã đem theo vài kỹ sư, chuyên gia trắc địa, nhà thiên văn học và nhà khảo cổ học để tìm hiểu thêm.

Các nhà khoa học này đã đo đạc, khảo sát, thăm dò và vẽ hình Đại kim tự tháp. Sau này, dưới lệnh ông, họ đã công bố kết quả nghiên cứu của mình trên vài ấn phẩm từ 1809 đến 1822.

Và đây là điều thú vị nhất trong chuyến thăm Ai Cập của Napoleon.

Napoleon muốn khám phá khu vực bên trong kim tự tháp và yêu cầu được ở lại một mình trong “Phòng vua”. Ông đã ngủ qua đêm ở đó.

Trải nghiệm khác biệt đó của Napoleon trong hầm mộ của Nhà Vua vẫn đang nằm trong bức màn bí ẩn. Liệu có bao giờ chúng ta biết được Napoleon đã nhìn thấy những hình ảnh kinh hoàng như thế nào khi ông tới thăm Đại kim tự tháp Giza? Phải chăng đó là những hình ảnh của tương lai?

Khi trở ra, nét mặt ông trở nên sa sầm thấy rõ.

Thấy vậy, một trợ tá hỏi phải chăng ông đã nhìn thấy thứ gì đáng sợ bên trong, nhưng Napoleon từ chối bình luận về điều đã xảy ra bên trong kim tự tháp.

Ông chỉ nói rằng ông không muốn chuyện này được đề cập lần nữa.

Nhiều năm sau, lúc Napoleon đang hấp hối, một người bạn thân hỏi ông đã có trải nghiệm gì bên trong “Phòng vua”. Lúc đó Napoleon định nói ra, nhưng lại đổi ý. Ông chỉ lắc đầu và nói: “Không, không ích gì. Anh sẽ không bao giờ tin tôi”.

Điều Napoleon đã trải nghiệm bên trong Đại kim tự tháp là một bí mật ông đã mang theo xuống mồ.

Đã có rất nhiều phỏng đoán về cuộc chạm trán kỳ lạ của Napoleon ở Ai Cập. Theo một nguồn tin chưa xác thực, Napoleon đã nhìn thấy một vài cảnh tượng về số phận của mình khi ở trong “Phòng vua”.

Một điều thú vị là Napoleon Bonaparte không phải là người duy nhất có các trải nghiệm bí ẩn bên trong kim tự tháp.

Vào những năm 1930, tác giả, nhà báo người Anh Paul Brunton đã dành một đêm bên trong “Phòng vua”. Ông đã miêu tả trải nghiệm của mình trong cuốn sách nổi tiếng với tiêu đề “Một cuộc tìm kiếm ở Ai Cập bí mật (A Search In Secret Egypt)“.

“Phòng vua” được làm từ đá granit. Đêm hôm đó ông ngồi trên một phiến đá granit và thắp một ngọn nến nhỏ. Chỉ có sự tĩnh mịch bao trùm ông.

Đêm dần buông và ông có thể nhìn thấy các hồn ma lảng vảng. Ông thấy rất sợ nhưng kiên quyết ở đó cho đến cùng. Không lâu sau những bóng ma này biến mất, nhưng theo sau bởi thứ còn đáng sợ hơn. Ông cảm thấy cơ thể bị tê liệt.

Ông nhìn thấy một số người mặc đồ nghi lễ trông giống các tư tế. Những hồn ma này dẫn ông tới một căn phòng bí mật bên trong kim tự tháp. Đây gọi là sảnh đường học tập.

Ông cảm thấy linh hồn rời cơ thể và tiến vào một không gian bên kia cái chết. Điều ông miêu tả được gọi là trải nghiệm xuất hồn.

Ông nói ông có thể nhìn thấy một sợi dây bạc kết nối cơ thể “vô hồn” của ông với linh hồn ông đang lơ lửng trong kim tự tháp. Ông nhìn thấy cơ thể mình nằm trên sàn nhà.

Câu hỏi lớn nhất đã được trả lời: Kim tự tháp Giza được xây dựng vào nền văn minh Atlantis rực rỡ.

Những “hướng dẫn viên” cổ đại kể cho ông nghe tất cả về Đại Kim tự tháp này. Nó được xây dựng vào thời điểm nền văn minh Atlantis.

Như vậy, con người đã sáng tỏ điều họ hoài nghi bấy lâu nay:

Chính là Giza cổ đại đã được xây dựng từ nền văn minh Atlantis đã bị chìm xuống đáy biển, và sau này người Ai Cập cổ đại thấy đây là một nơi lý tưởng để làm hầm mộ nên đã để mộ các Pharaoh vào đây.

Ông được nghe kể về tất cả các bí mật, bao gồm về các phòng chứa bí mật bên trong kim tự tháp. Đột nhiên ông nhận ra mình đã sống lại.

Họ đến để khẳng định với con người rằng có tồn tại sự sống sau khi chết và một nền văn minh Atlantis rực rỡ huyền thoại là có thật, đã kết thúc bằng một cơn Đại Hồng Thủy mà Kinh Thánh mô tả.

Điều này cũng chứng minh rằng linh hồn con người có tồn tại. Khi chúng ta chết, cơ thể xác thịt sẽ mục nát nhưng linh hồn thì sống mãi.

Theo những khám phá của Lewis Spence: Đại Kim Tự Tháp Giza là nơi cất giấu những dự ngôn và tiên tri.

Lewis Spence (1874-1955) là một nhà báo người Scotland, một học giả về các môn khoa học huyền bí, với các tác phẩm về Atlantis, những thế giới bị biến mất, các bí ẩn xa xưa và các phương thức giáo dục cổ đại.

Một số chuyên gia cũng đã nghiên cứu về các dự ngôn này, trong đó có David Davidson, một kỹ sư xây dựng và kết cấu đã dành 25 năm nghiên cứu Kim tự tháp Giza vĩ đại và bí ẩn này, một chuyên gia về công trình và ý nghĩa của Giza.

Các kết quả nghiên cứu và điều tra của Davidson được công bố trong cuốn sách “Đại Kim Tự Tháp, Thông Điệp Thần Thánh”.

Trong đó, ông minh hoạ các kết quả của mình thông qua tám mươi trang sơ đồ và chín mươi bảy bảng biểu về các lĩnh vực khảo cổ học, sử học, và các bản đồ sao của thiên văn học, để chứng minh sự chính xác của các dự ngôn Kim tự tháp mà ông phát hiện.

Những hiểu biết của chúng ta về Đại Kim tự tháp Giza còn rất hữu hạn.

Một nhà khoa học khác, cũng đã tuyên bố rằng ông đã tìm ra bằng chứng cho những dự ngôn nằm trong Đại Kim tự tháp là Giáo sư thiên văn học John Greaves, Đại học Oxford, người đã nghiên cứu Đại Kim tự tháp năm 1637.

Giáo sư John và Đại tá Howard Vyse đã dành cả gia sản của riêng mình để nghiên cứu về đề tài này.

Các thời điểm được tiên tri trong các con số kích thước

Lewis đã viết rằng theo các nhà khoa học, người đã tìm ra bằng chứng cho các dự ngôn rằng:

Tất cả những sự kiện trọng đại trong lịch sử nhân loại đã được ẩn trong các biểu đồ và số liệu tạo nên từ các con số như kích thước các cạnh, chu vi, các cấu trúc như đường biên, đường chéo bên trong Kim Tự Tháp”.

Xem thêm:

Categories: Văn Minh Cổ Đại

Vén màn lịch sử: Đại Kim Tự Tháp Ai Cập: Đã từng có công nghệ siêu việt và vĩ đại, được xây dựng bởi những người khổng lồ 5m?

Đại Kim tự Tháp Giza đứng sừng sững trong lớp cát vàng đã hơn ngàn vạn năm, luôn lặng lẽ chăm chú nhìn thế giới, vẫn luôn đang lặng lẽ đợi chờ điều gì đó…

Một sự kiện lịch sử, qua nhiều đời kể đi kể lại, sẽ biến thành truyền thuyết. Nhưng nó lại là lịch sử có thật trong quá khứ. Ngày hôm nay, như một sự lội ngược dòng, VKGT cung cấp tới độc giả những sự thật được khám phá liên quan đến các truyền thuyết qua những kết quả khảo cổ. Một thế giới chân thực, sống động cổ xưa sẽ được mở ra qua Vén Màn Lịch Sử về Kim Tự Tháp Ai Cập.

Lùi về quá khứ xa xưa, trước khi phải chịu đựng xói mòn, Đại kim tự tháp Giza mọc lên sừng sững hùng vĩ giữa bầu trời xanh thẳm, biểu tượng không thể tranh cãi của sức sáng tạo thiên tài của con người. Nhưng con người thời tiền sử thiếu công nghệ ở xã hội “nguyên thủy” thì không thể là tác giả của những tác phẩm hùng vĩ này được? Vậy đó là ai?

Kim tự tháp lớn này của Ai Cập đứng sừng sững trong lớp cát vàng đã hơn ngàn vạn năm, nó vẫn luôn lặng lẽ chăm chú nhìn thế gian, vẫn luôn đang lặng lẽ đợi chờ điều gì đó. Phải chăng là đang chờ đợi chủ nhân của nó, vén lên bức màn thần bí của nó?

Vén màn lịch sử: Đại Kim Tự Tháp Ai Cập: Đã từng có công nghệ siêu việt và vĩ đại, được xây dựng bởi những người khổng lồ 5m?

Đại Kim tự Tháp Giza đứng sừng sững trong lớp cát vàng đã hơn ngàn vạn năm (người Ai Cập sau này chỉ làm thêm một số cái nhỏ), luôn lặng lẽ chăm chú nhìn thế giới, vẫn luôn đang lặng lẽ đợi chờ điều gì đó…

Thời điểm xây dựng của nó vẫn còn là một ẩn số, tuy nhiên ngày càng có nhiều tài liệu hé mở rằng nó được xây dựng tại thời điểm nền văn minh rực rỡ cổ xưa hơn rất nhiều xã hội Ai Cập cổ đại, chứ không phải chỉ cách đây mấy nghìn năm. Người Ai Cập cổ đại sau này tự xây dựng thêm những kim tự tháp nhỏ khác, mô phỏng theo Đại Kim Tự Tháp Giza.

Đại Kim tự tháp đã tồn tại thách thức với thời gian và đã từng là một công trình lớn nhất trên trái đất cho đến tận thế kỷ 20, thì mới có các công trình cao khác vượt qua. Nhưng ở góc độ kỹ thuật xây dựng, và những điều bí ẩn khác xung quanh như trường năng lượng… vv thì mãi mãi vẫn là ẩn số lớn đối với khoa học hiện đại.

Vén màn lịch sử: Đại Kim Tự Tháp Ai Cập: Đã từng có công nghệ siêu việt và vĩ đại, được xây dựng bởi những người khổng lồ 5m?

Ngày nay, đỉnh của nó cao 138 mét, công trình cổ xưa này là “công trình xây dựng cuối cùng còn nguyên vẹn” trong bảy kỳ quan của thế giới cổ đại.

Vén màn lịch sử: Đại Kim Tự Tháp Ai Cập: Đã từng có công nghệ siêu việt và vĩ đại, được xây dựng bởi những người khổng lồ 5m?

Nếu giả định về người khổng lồ được xem xét, vậy thì với tầm vóc của họ, “những người con trai của Gaia” sẽ có một lợi thế vóc dáng đáng kể so với một người đàn ông bình thường trong việc xây dựng các cấu trúc cự thạch vĩ đại. Năm 1901, trong cuốn lịch sử thế giới của mình trên thế giới, Han Ferdinand Helmolt đã viết:

“Việc xây dựng những kim tự tháp vĩ đại này mà không cần nguồn lực và kiến thức hiện đại, dường như không thể thực hiện bằng chút sức lực con người đơn thuần.

Niềm tin phổ biến là những công trình vĩ đại này trên thực tế có thể đã được tạo ra bởi người khổng lồ”

Thậm chí với nguồn lực và kiến thức hiện đại, cũng còn chưa có phương án thực sự khả thi để dựng lại những kim tự tháp khổng lồ với cấu trúc phức tạp như vậy.

Vén màn lịch sử: Đại Kim Tự Tháp Ai Cập: Đã từng có công nghệ siêu việt và vĩ đại, được xây dựng bởi những người khổng lồ 5m?

Truyền thuyết kể rằng, công trình vĩ đại này chính là mô phỏng của một Thế giới thiên quốc có tên là Cự Thiên thế giới. Vị chủ của thế giới này là Cự Thiên Phật. Thánh điện của Phật là tháp vàng lấp lánh ánh vàng kim, óng ánh lung linh. Dưới đáy là hình vuông, bốn phía là hình tam giác cân, tháp vàng lấp lánh ánh sáng thuần tịnh, thấm nhuần vào chúng sinh trong thiên quốc.

Khi Cự Thiên Phật tuyên giảng Phật Pháp, âm thanh to lớn truyền rộng, thiên hoa trải khắp nơi, phi thiên bay múa, hiện ra muôn vàn điềm lành, kể ra không hết. Trong khoảng thời gian đó Kim Phụng (chim phượng vàng) bắt đầu múa, Kim Mã (ngựa vàng) và Kim Sư (sư tử vàng) dương cao đôi cánh, bay vòng tròn, cảnh đẹp hiện lên trước mắt làm chúng sinh không sao thưởng thức hết.

Một ngày nọ, sau khi Cự Thiên Phật giảng Pháp cho chúng sinh xong, Ngài nói: “Các vị sau này tiến nhập vào Tam Giới, trên mặt đất hãy xây dựng Kim Tháp giống Cự Thiên thế giới của chúng ta, để tương lai ta sử dụng, trong các vị ai nguyện đi hoàn thành sứ mệnh?”

Hai đại đệ tử của Phật chủ khấu bái trước Ngài tỏ ý muốn đi xuống, chúng sinh không ai không lộ vẻ cảm động. Cự Thiên Phật mỉm cười, Ngài đưa mắt nhìn chúng sinh rồi nói: “Trong các vị có ai muốn hiệp trợ thì có thể cùng đi xuống”. Trong chúng Thần lại có vài vị bước ra, tỏ ý muốn đi.

Thần sắc Cự Thiên Phật trang nghiêm, Ngài nói: “Các vị hạ thế, cần giúp đỡ lẫn nhau hoàn thành sứ mệnh, đến khi đó ta tự sẽ gia trì cho các vị.”

Ngài lại nói với hộ pháp Ma Ca: “Nơi nhân thế đầy gian khổ, ngươi cần ở trên thượng giới để ý tới họ, bảo hộ họ.”

Ma Ca nhận lời, nói: “Xin Phật chủ yên tâm, tôi sẽ bảo hộ họ.”

Và thế là, công trình Đại Kim Tự Tháp nơi thế gian con người đã được xây dựng lên, bởi 800 tráng sĩ chưa kết hôn vẻ ngoài đứng đắn, phẩm hạnh, khí chất cao thượng, cao từ 5,2m trở lên, cùng 100 thiếu nữ đoan trang, thuần khiết với nhiệm vụ chà các tảng đá, với sự hiệp trợ của Thần Phật khắp trời. Loại đá để xây Kim Tự Tháp là loại đá trải qua nhiều loại tôi luyện trong lửa nóng, lại trải qua ngàn đời ngâm trong băng đông, nên không dễ bị nứt vỡ. Thần Phật biết nhân loại sau này sẽ có nhiều lần đại nạn, có lúc sức gió rất mãnh liệt, lực phá hoại mạnh mẽ, nên phải cần có một dung dịch kết dính đặc biệt để bảo vệ. Vậy là một loại ô thạch (đá đen), có chứa 5 loại kim loại, sau khi tôi luyện, đã được dùng để quét lên đá, có thể làm đá bền chắc gấp nhiều lần. Vị trí chính xác để xây dựng Kim Tự Tháp cũng được Thần điểm hóa.

Công trình tại thế gian chính là mô phỏng của Cự Thiên thế giới, là một công trình kiến trúc bất hủ để thờ phụng bậc Thánh giả – Ngài có thể cứu độ hết thảy con người thoát khỏi khổ nạn thế gian.

Những điều kỳ lạ khó lý giải trong công nghệ xây dựng Kim Tự Tháp vô cùng đáng ngưỡng mộ

Sự tò mò để tìm hiểu chính xác ai là người đã xây dựng Đại Kim Tự Tháp, và chúng được dựng lên như thế nào…vẫn luôn kéo dài nhiều thiên niên kỷ…

Vén màn lịch sử: Đại Kim Tự Tháp Ai Cập: Đã từng có công nghệ siêu việt và vĩ đại, được xây dựng bởi những người khổng lồ 5m?

Dưới đây là 7 căn cứ để chứng minh các Kim tự tháp Giza là bằng chứng về nền văn minh đã từng có một công nghệ rất siêu việt và vĩ đại, và có lẽ được xây dựng bởi những người tráng sĩ khổng lồ có chiều cao khoảng 5m đúng như truyền thuyết kể lại.

# 1 – Kích thước và trọng lượng của các kim tự tháp và vật liệu xây dựng chúng

Một trong những lập luận đầu tiên của những người tin rằng các kim tự tháp Giza được xây dựng với công nghệ siêu việt và vĩ đại là kích thước khổng lồ, trọng lượng và vật liệu xây dựng chúng.

Vén màn lịch sử: Đại Kim Tự Tháp Ai Cập: Đã từng có công nghệ siêu việt và vĩ đại, được xây dựng bởi những người khổng lồ 5m?

Ví dụ, việc xây dựng Đại kim tự tháp đòi hỏi phải khai thác và vận chuyển 2.3 triệu khối đá. Việc nâng từng khối đá này không phải dễ dàng, khi mỗi khối có trọng lượng từ 2,5 đến 15 tấn.

Các nhà khảo cổ học và các nhà nghiên cứu đã đưa ra các giả thuyết về cách cắt xẻ và vận chuyển các khối đá từ một mỏ gần địa điểm xây dựng kim tự tháp.

Tuy nhiên, một số người nhấn mạnh thực tế không thể khai thác, di chuyển và nâng những khối đá nặng bằng các công cụ nguyên thuỷ của thời đó.

Vén màn lịch sử: Đại Kim Tự Tháp Ai Cập: Đã từng có công nghệ siêu việt và vĩ đại, được xây dựng bởi những người khổng lồ 5m?

Người ta ước tính phải mất hai mươi năm để xây dựng Đại Kim tự tháp, thế thì công nhân chỉ có hai phút rưỡi để khai thác và cắt xẻ đá, và chỉ có 2 phút rưỡi để vận chuyển và lắp dựng mỗi khối đá lên kim tự tháp, điều này dường như không thể thực hiện nếu không có sự trợ giúp của một công nghệ cổ xưa chưa được biết đến.

Mỗi viên đá lại được tạo ra một cách chính xác và hoàn hảo, ngay cả chất liệu gắn kết chúng cũng là điều khó lý giải.

Sự hoàn hảo và vẻ đẹp của nó tới từ sự chính xác đến chi tiết, các kim tự tháp sắp xếp thẳng hàng và chúng được xây dựng quay mặt về phía Bắc với sai số chỉ 3/60 độ! Hơn thế nữa nó được đặt ở vị trí có thể xem là trung tâm của Trái Đất.

Vén màn lịch sử: Đại Kim Tự Tháp Ai Cập: Đã từng có công nghệ siêu việt và vĩ đại, được xây dựng bởi những người khổng lồ 5m?

Những kim tự tháp bằng cách nào đó được xây dựng chính xác đến nỗi có thể đặt trong một hình vuông tạo bởi các đường kinh tuyến và vĩ tuyến!

Khi lật lại các nền văn minh tiên tiến cổ xưa, người ta đã chú ý tới dấu vết còn lại của hình ảnh những người khổng lồ. Có thể đây chính là chìa khóa cho câu hỏi: Ai là người có thể nâng những khối đá có trọng lượng từ 2,5 tấn -15 tấn?

Vén màn lịch sử: Đại Kim Tự Tháp Ai Cập: Đã từng có công nghệ siêu việt và vĩ đại, được xây dựng bởi những người khổng lồ 5m?

Hình vẽ trên các phù điêu tại lăng mộ Rekhmire ở Luxor (Thebe cổ đại), Ai Cập, với kích thước người cổ đại to lớn đặc biệt khi tương quan với hình ảnh các công trình gây chú ý của các nhà khoa học…

Vén màn lịch sử: Đại Kim Tự Tháp Ai Cập: Đã từng có công nghệ siêu việt và vĩ đại, được xây dựng bởi những người khổng lồ 5m?

Hình vẽ trên các phù điêu tại lăng mộ Rekhmire ở Luxor (Thebe cổ đại), Ai Cập, với kích thước người cổ đại to lớn đặc biệt khi tương quan với các động vật lớn như hươu cao cổ, voi… gây chú ý của các nhà khoa học…

Vén màn lịch sử: Đại Kim Tự Tháp Ai Cập: Đã từng có công nghệ siêu việt và vĩ đại, được xây dựng bởi những người khổng lồ 5m?

Hươu cao cổ với so sánh tương quan với các em bé bình thường thời hiện đại

# 2 – Các tấm đá vôi trắng của Đại Kim tự tháp

Đại Kim tự tháp là một công trình tuyệt đẹp để chiêm ngưỡng, tuy nhiên, hình ảnh của nó ngày nay chỉ là cái bóng của vẻ đẹp lấp lánh trước đây của nó.

Trong quá khứ xa xôi, người Ai Cập đã đề cập tới Đại Kim tự tháp bằng một từ cổ “Ikhet”, được dịch sang tiếng Việt có nghĩa là “ánh sáng huy hoàng”.

Vén màn lịch sử: Đại Kim Tự Tháp Ai Cập: Đã từng có công nghệ siêu việt và vĩ đại, được xây dựng bởi những người khổng lồ 5m?

Thực tế, Đại Kim tự tháp ban đầu được trang trí bằng những tấm đá vôi trắng mịn, cho đến trận động đất thảm khốc xảy ra năm 1303 SCN khiến những tấm đá trắng này rơi xuống.

Những tấm đá này phản chiếu ánh sáng mặt trời như những chiếc gương, làm cho kim tự tháp lung linh giống như một viên kim cương giữa sa mạc.

Đứng từ rất xa cũng có thể thấy được kim tự tháp tỏa sáng. Nếu không lớp khí quyển, chúng ta thậm chí có thể thấy được ánh sáng phản chiếu ấy từ… Mặt trăng! Nghĩa là nó sáng rực rỡ…

Điều đáng quan tâm về loại đá trắng này không chỉ là hình dạng và bề ngoài của chúng mà còn là nguồn gốc vật liệu đã làm ra chúng.

Để có được một lượng lớn đá vôi trơn nhẵn và bóng mịn, cần phải cắt xẻ chúng từ một mỏ ở phía bên kia sông Nile, có nghĩa là hàng tấn những phiến đá đó sẽ phải di chuyển qua một khúc sông dài trước khi được sử dụng để chế tạo ra các tấm lát của Đại Kim tự tháp.

Điều này dẫn đến một câu hỏi tất yếu là làm thế nào có thể vận chuyển được một phiến đá vôi nặng như vậy nếu không có sự chỉ đạo của một ai đó có kiến thức và thiết bị siêu việt.

# 3 – Hệ thống đường hầm phức tạp bên trong các kim tự tháp Giza

Các nhà khảo cổ khám phá dần dần những bí mật ẩn dấu bên dưới các kim tự tháp Giza, như khám phá ra mạng lưới đường hầm phức tạp ẩn dưới sa mạc rộng lớn, hay việc cắt xẻ đá vôi.

Vén màn lịch sử: Đại Kim Tự Tháp Ai Cập: Đã từng có công nghệ siêu việt và vĩ đại, được xây dựng bởi những người khổng lồ 5m?

Một số người đã dám khám phá những lối đi và các phòng hay các khoang ẩn ở bên trong. Tuy nhiên, phần lớn vẫn chưa được khám phá cho đến nay.

Mục đích của những đường hầm này là gì? Cho đến khi chúng ta có cơ hội tìm hiểu và tiến hành điều tra chuyên sâu các lối đi này, thì vẫn chưa có câu trả lời chính thức cho câu hỏi này.

Một số người cho rằng có thể có một thành phố ngầm bên dưới các Kim tự tháp Giza và thành phố bị chôn vùi bên dưới này có thể cổ xưa hàng ngàn năm.

# 4 – Những điểm nóng bất thường ở nhiều nơi trong Đại Kim tự tháp

Năm 2015, một nhóm các nhà khoa học và kiến trúc sư quốc tế đã tiến hành phân tích nhiệt của các kim tự tháp Giza.

Vén màn lịch sử: Đại Kim Tự Tháp Ai Cập: Đã từng có công nghệ siêu việt và vĩ đại, được xây dựng bởi những người khổng lồ 5m?

Rất ngạc nhiên, họ quan sát thấy những “bất thường về nhiệt” trong các kim tự tháp này và họ đã phát hiện các điểm nóng với nhiệt độ cao ở nhiều nơi trong Đại kim tự tháp.

Khoa học thông thường thì đưa ra giả thiết về các phòng trống, các dòng không khí ở bên trong, việc sử dụng các loại vật liệu xây dựng khác nhau là những nguyên nhân có thể của những dị thường này.

Tuy nhiên, những người khác, xem xét các điểm nóng bằng các thiết bị hiện đại, lại cho rằng chúng thuộc về một thiết bị tiên tiến cổ xưa hoặc một cố máy ấn dấu bên dưới các kim tự tháp.

# 5 – Sự thẳng hàng của Đại Kim tự tháp với chính Bắc

Vị trí và sự thẳng hàng của Đại kim tự tháp với vị trí chính Bắc là một trong những lý do được biết đến nhất để một số cho rằng các kim tự tháp Ai Cập được xây dựng bởi một nền văn minh công nghệ cao cổ xưa.

Vén màn lịch sử: Đại Kim Tự Tháp Ai Cập: Đã từng có công nghệ siêu việt và vĩ đại, được xây dựng bởi những người khổng lồ 5m?

Mặc dù được xây dựng cách đây ngàn vạn năm, hay có lẽ cả triệu năm, Đại kim tự tháp được nhiều người coi như công trình được sắp thẳng hàng một cách chính xác nhất trên hành tinh, với một sai số tối thiểu 3/60e.

Hơn nữa, sai số này không phải là một lỗi tính toán, mà có thể được giải thích bởi thực tế là hướng chính Bắc tự dịch chuyển theo thời gian.

Điều này có nghĩa là Đại Kim tự tháp đã được đặt nằm thẳng hàng hoàn hảo vào thời nó được xây dựng.

Làm sao người Ai Cập cổ đại có thể thiết kế và xây dựng Đại Kim tự tháp với độ chính xác như vậy? Họ không có la bàn, có nghĩa là họ cần phải tính toán sự thẳng hàng bằng các thuật toán phức tạp.

Vén màn lịch sử: Đại Kim Tự Tháp Ai Cập: Đã từng có công nghệ siêu việt và vĩ đại, được xây dựng bởi những người khổng lồ 5m?

Vị trí và hướng của kim tự tháp được tính toán cẩn thận đến mức đáng ngạc nhiên.

Nhưng nếu thậm chí họ không có kiến thức và công nghệ để làm một cái la bàn, làm thế nào họ có thể tính toán ngoại suy một sự thẳng hàng gần như hoàn hảo của Đại Kim Tự Tháp với hướng chính Bắc?

Vén màn lịch sử: Đại Kim Tự Tháp Ai Cập: Đã từng có công nghệ siêu việt và vĩ đại, được xây dựng bởi những người khổng lồ 5m?

Trình độ khoa học và kỹ thuật để xây dựng kim tự tháp với những điểm đặc biệt như thế luôn thách thức hiểu biết của chúng ta.

Các giả thuyết đã cố gắng để trả lời bí ẩn này, nhưng các chuyên gia dường như không đồng ý về một lời giải thích nào.

# 6 – Sự thẳng hàng các kim tự tháp với các ngôi sao của dải Orion (chòm sao Orion)

Theo thuyết tương quan Orion được Robert Bauval đưa ra năm 1983, vị trí của ba kim tự tháp chính ở cao nguyên Giza thẳng hàng với ba ngôi sao chính của chòm sao Orion.

Vén màn lịch sử: Đại Kim Tự Tháp Ai Cập: Đã từng có công nghệ siêu việt và vĩ đại, được xây dựng bởi những người khổng lồ 5m?

Lý thuyết này khẳng định toàn bộ các đường lớn của tượng Đại Nhân sư, quần thể các kim tự tháp Giza và sông Nile phản ánh vị trí của các chòm sao Leo, của dải Orion và dải ngân hà Milky Way, theo thứ tự vừa nêu.

Điều thú vị về lý thuyết này là việc đưa ra phân tích rằng ba đỉnh kim tự tháp Giza được chiếu thẳng hàng chính xác nhất với ba ngôi sao của chòm Orion trên cao vào năm 10.500 TCN.

Vén màn lịch sử: Đại Kim Tự Tháp Ai Cập: Đã từng có công nghệ siêu việt và vĩ đại, được xây dựng bởi những người khổng lồ 5m?

Nếu đó là đúng, có nghĩa rằng các kim tự tháp này đã được xây dựng cách đây ít nhất 12.000 năm, chứ không phải 4500 năm như khoa học truyền thống đã khiến chúng ta tin.

# 7 – Thiết kế tám mặt của Đại Kim tự tháp

Dường như Đại kim tự tháp Giza có bốn mặt như hầu hết các kim tự tháp khác, nhưng thực tế nó là kim tự tháp duy nhất được xây dựng với tám mặt, bốn mặt hơi lõm.

Vén màn lịch sử: Đại Kim Tự Tháp Ai Cập: Đã từng có công nghệ siêu việt và vĩ đại, được xây dựng bởi những người khổng lồ 5m?

Cũng cần ghi nhận độ chính xác khi tạo ra 8 mặt của kim tự tháp với sai lệch chỉ nửa độ đến 1 độ, đây không phải là điều dễ thực hiện ngay cả trong thời đại chúng ta.

Hơn nữa, tất cả các mặt của Đại Kim tự tháp không dễ nhìn thấy từ mặt đất hoặc từ xa, và chỉ có thể nhìn thấy từ trên xuống.

Vén màn lịch sử: Đại Kim Tự Tháp Ai Cập: Đã từng có công nghệ siêu việt và vĩ đại, được xây dựng bởi những người khổng lồ 5m?

Về mục đích thiết kế Đại Kim tự tháp với tám mặt, một số cho rằng đó là để giữ những phiến đá trong ngăn giãn nở. Những người khác lại cho rằng những dấu lõm này chỉ là hậu quả do xói mòn gây ra.

Tất nhiên cũng có những người cho rằng kim tự tháp với nhiều mặt nhằm dùng trong một mục đích thiên văn hoặc nó có thể là một thiết bị giao tiếp giữa nền văn minh thời đó và những người ngoài trái đất trong quá khứ xa xôi.

# 8 – Kim tự tháp và tượng Nhân sư từng chìm trong cơn Đại hồng thủy

Tiến sĩ Robert M. Schoch là nhà nghiên cứu cho rằng kim tự tháp và tượng nhân sư từng bị nhấn chìm trong biển nước. Những dấu vết bị ăn mòn và nước được tìm thấy ở những tảng đá và xung quanh công trình.

Vén màn lịch sử: Đại Kim Tự Tháp Ai Cập: Đã từng có công nghệ siêu việt và vĩ đại, được xây dựng bởi những người khổng lồ 5m?

Nhà khảo cổ Sherif El-Morsi làm việc ở cao nguyên Giza suốt 2 thập kỷ qua cũng tán thành ý kiến này, ông tin rằng cơn lũ lớn đã khiến cho toàn bộ công trình bị nhấn chìm và bị phá hủy phần nào như đền thờ Menkare, Necropolis, tượng Nhân sư,…

Ngoài ra họ còn tìm thấy những bằng chứng khảo cổ chứng tỏ cao nguyên Giza từng chìm trong biển nước.

Dựa trên những lý do đưa ra này, ta có thể kết luận các kim tự tháp Giza có thể được xây dựng ở một ở một thời kỳ vô cùng xa xưa và với công nghệ vĩ đại, siêu việt? Qua ngàn vạn năm lục địa dâng lên chìm xuống, nó cũng chìm nổi theo thời gian. Khi nó nổi lên, thì chính là ở vị trí nền văn minh Ai Cập cổ đại và những người Ai Cập cổ đại tiếp quản chúng như sở hữu của mình, và tiếp tục làm thêm những kim tự tháp nho nhỏ xung quanh?

Xem thêm:

Categories: Văn Minh Cổ Đại

Các pháo đài thủy tinh hóa ở Châu Âu: Bí ẩn một hiện tượng địa chất chưa có lời giải

Bí ẩn các pháo đài thủy tinh hóa ở Châu Âu: Một hiện tượng địa chất chưa có lời giải

Hiện tượng các pháo đài ở Châu Âu đột nhiên hóa thủy tinh vào thời cổ đại cho đến nay vẫn là thách thức chưa có lời giải đối với các nhà khoa học.

Châu Âu – Cựu Thế Giới – được biết đến với những trang lịch sử trầm hùng, giai đoạn Trung cổ đặc sắc, những pháo đài tuyệt đẹp và nền quân chủ dài lâu.

Từ năm 700 đến 300 trước Công nguyên, một lượng lớn pháo đài đã được xây dựng ở Scotland, rất nhiều trong số chúng nằm trên đỉnh đồi, với những bức tường làm bằng đá xếp chồng lên nhau mà không cần đến vữa.

Điều này thoạt nghe có vẻ không có gì dị thường, bởi có rất nhiều cấu trúc tương tự như vậy trên khắp thế giới chứ không chỉ ở riêng châu Âu.

Tuy nhiên, toàn bộ câu chuyện đã thay đổi hoàn toàn từ bình thường sang phi thường khi các cuộc kiểm tra kỹ lưỡng cho thấy nhiều viên đá tạo nên bức tường của những pháo đài cổ này được hàn lại với nhau (giống như bị nấu chảy rồi dính lại với nhau). Và một số bộ phận của pháo đài này đã được biến đổi thành một loại thủy tinh, trên đó hiện rõ dấu tích còn sót lại của bong bóng khí và những giọt đá nóng chảy, bằng chứng cho thấy những viên đá này từng tiếp xúc với một mức nhiệt độ rất lớn, dẫn đến quá trình thủy tinh hóa.

Bí ẩn các pháo đài thủy tinh hóa ở Châu Âu: Một hiện tượng địa chất chưa có lời giải
Một pháo đài có dãy tường được thủy tinh hóa một phần. Ảnh: megalithic.co.uk
Bí ẩn các pháo đài thủy tinh hóa ở Châu Âu: Một hiện tượng địa chất chưa có lời giải
Một phần của bức tường thủy tinh hóa tại Sainte-Suzanne, Mayenne, Pháp. Ảnh: Youtube

Không một học giả nào có thể giải thích được điều này.

Do đó, trong suốt ba thế kỷ qua, các nhà khảo cổ học đã cố gắng trả lời các câu hỏi xung quanh các pháo đài bí ẩn của Scotland.

Một trong những nhà địa chất đầu tiên người Anh đã phát hiện và mô tả các cấu trúc bí ẩn này là ông John Williams, tác giả của cuốn Lịch sử tự nhiên của Vương quốc Khoáng sản (Natural History of the Mineral Kingdom).

Chính ông là người đầu tiên mô tả bí ẩn này vào năm 1777 sau khi quan sát một vài di tích kỳ lạ. Tiếp sau đó hơn một trăm di tích tương tự đã được tìm thấy trên khắp châu Âu, chủ yếu ở Scotland.

Vậy, ai đã xây dựng chúng? Làm thế nào để có thể biến đá thành thủy tinh? Loại công nghệ nào đã được sử dụng? Và phải chăng chúng ta mới chỉ nhìn thấy một phần bức tranh, chứ chưa phải toàn cảnh.

Bí ẩn các pháo đài thủy tinh hóa ở Châu Âu: Một hiện tượng địa chất chưa có lời giải
Một pháo đài với toàn bộ bức tường hóa thủy tinh tại Scotland, Vương Quốc Anh. Ảnh:coolinterestingstuff.com

Quá nhiều câu hỏi được đặt ra nhưng chưa có câu trả lời thỏa đáng.

Những cấu trúc này được đặt tên là pháo đài thủy tinh hóa. Chúng đã làm các nhà địa chất kinh ngạc trong nhiều thế kỷ vì chưa có một lời giải thích khoa học nào cho việc các tảng đá dính lại với nhau và hợp nhất.

Một vài chuyên gia cho biết, nhiệt độ để quá trình thủy tinh hóa đá có thể xảy ra là tương đương với việc phát nổ một quả bom nguyên tử.

Nhưng điều thú vị là không chỉ có một hoặc hai pháo đài bị thủy tinh hóa, mà là hàng trăm pháo đài trải rộng khắp châu Âu, trong đó ở Scotland có 70 pháo đài như vậy.

Khi các pháo đài thủy tinh hóa lần đầu tiên được phát hiện ở Scotland, người ta cho rằng chúng là sản phẩm đặc trưng và “độc quyền” của Scotland, nổi tiếng nhất có thể kể đến các pháo đài như Dun Mac Sniachan, Benderloch, Craig Phadraig, Ord Hill, Dun Deardail, Knock Farril, Dun Creich, Finavon, Barryhill, Laws , Dun Gall, Anwoth, Tap hoặc O’Nort.

Bí ẩn các pháo đài thủy tinh hóa ở Châu Âu: Một hiện tượng địa chất chưa có lời giải
Một phần bức tường thủy tinh hóa tại Sainte-Suzanne, Mayenne, Pháp. Ảnh: Wikimedia Commons .

Tuy nhiên, các cấu trúc tương tự cũng đã được tìm thấy ở Bohemia (Cộng hòa Séc), Silesia (Ba Lan), Thuringia (Đức), ở các tỉnh ven sông Rhine, Hungary, Thổ Nhĩ Kỳ, Iran, Bồ Đào Nha, Pháp và Thụy Điển, và một vài nơi khác.

Điều kỳ lạ là không phải tất cả các pháo đài đều được thủy tinh hóa, và quá trình thủy tinh hóa trên các bức tường cũng không đồng đều. Các chuyên gia đã phát hiện ra rằng trong một số trường hợp những viên đá chỉ bị nung chảy một phần rồi hàn lại với nhau; trong khi ở một số trường hợp khác, chúng được bao phủ bởi một lớp men thủy tinh, và đôi lúc, mặc dù khá hiếm gặp, toàn bộ chiều dài bức tường trở thành một khối thủy tinh đặc rắn.

Không ai biết làm thế nào những bức tường đá này lại có thể biến thành thủy tinh như vậy.

Một số học giả tin rằng việc này là có chủ đích, để nhằm tăng cường khả năng phòng thủ của pháo đài, nhưng trong thực tế, những bức tường này lại khởi tác dụng ngược lại, khi làm suy yếu khả năng phòng thủ pháo đài, vì vậy không nhiều khả năng người cổ đại đã chủ đích làm như thế.

Bí ẩn các pháo đài thủy tinh hóa ở Châu Âu: Một hiện tượng địa chất chưa có lời giải
Quang cảnh pháo đài thủy tinh hóa ở Tap o’North, Scotland. Hình ảnh: Pinterest

Có người cho đây là hậu quả của chiến tranh. Tuy nhiên các chuyên gia cũng không đồng tình, vì để đạt được kết quả thủy tinh hóa, các đám cháy phải kéo dài trong nhiều ngày ở nhiệt độ từ 1050 đến 1235 độ C, việc này rất ít khả năng xảy ra, tuy rằng không phải hoàn toàn là không thể.

Một số lý thuyết chỉ ra kết quả thủy tinh hóa có thể là sản phẩm của việc quân địch phóng lửa cố tình phá hủy pháo đài sau khi chiếm cứ thành công, hoặc cũng có thể đây là một nghi lễ của người dân trong thành.

Các pháo đài thủy tinh hóa trên khắp Châu Âu cũng có những mốc niên đại rất khác biệt, không phải trong cùng một giai đoạn lịch sử.

Các pháo đài lâu đời nhất được cho là đã được xây dựng vào thời đại đồ sắt, nhưng cũng có nhiều pháo đài có đặc điểm tương tự được xây từ thời La Mã, trong khi cái gần đây nhất được xây vào thời Trung cổ.

Kết quả nghiên cứu gần đây cho thấy các bức tường này được tạo ra bởi các hiện tượng plasma khổng lồ như bão mặt trời.

Bí ẩn các pháo đài thủy tinh hóa ở Châu Âu: Một hiện tượng địa chất chưa có lời giải
Quang cảnh pháo đài thủy tinh hóa ở Tap o’North, Scotland. Hình ảnh: Pinterest

Điều này xảy ra khi khí ion hóa trong khí quyển tạo nên các vụ nổ điện khổng lồ, có thể làm tan chảy và thủy tinh hóa các loại đá.

Vào những năm 1930, hai nhà khảo cổ Vere Gordon Childe và Wallace Thassycroft đã tiến hành thí nghiệm, trong đó bắn một đốm lửa khổng lồ hướng đến một bức tường đá, một thí nghiệm được lặp lại vào năm 1980 bởi nhà khảo cổ học Ian Ralston.

Trong cả hai trường hợp, các thí nghiệm đã khiến một vài viên đá bị thủy tinh hóa một phần, nhưng họ không giải thích được làm thế nào những viên đá như vậy có thể được tạo thành trên một diện rộng như trường hợp của các pháo đài thủy tinh hóa.

Trong trường hợp không có một lý thuyết rõ ràng hoặc bằng chứng thuyết phục, các pháo đài thủy tinh hóa ở châu Âu vẫn tiếp tục là một trong những hiện tượng địa chất và khảo cổ kỳ lạ nhất trên thế giới, cần đến hàng thế kỷ để làm sáng tỏ.

Tác giả: Ivan, Ancient Code 

Xem thêm:

Chuyện lạ: Đây có thể là con chim cánh cụt hiếm nhất thế giới: cả hành tinh có đúng 1 con

Đó là những gì được các nhà khoa học đánh giá qua hình ảnh BBC thu được từ Nam Cực.

Tháng 2 năm nay quả là một của hiếm đối với cộng đồng đam mê thiên nhiên hoang dã. Trong tuần trước, chúng ta đã có những bức hình đầu tiên trong 100 năm về sinh vật huyền thoại hiếm bậc nhất châu Phi là báo đen.

Và mới đây, khoa học còn ghi nhận được một sinh vật còn hiếm hơn thế, cũng có màu đen nhưng không phải báo. Đó là chim cánh cụt! Một con chim cánh cụt màu đen tuyền.

Cụ thể thì con chim này thuộc giống cánh cụt hoàng đế, được ghi lại trong một video do BBC thực hiện. Trong đó là cảnh tượng chú chim cánh cụt đen tuyền đang đi lại lững thững giữa một rừng cánh cụt lông đen nhưng bụng trắng.

Theo các chuyên gia lý giải thì cũng giống như báo đen, con chim này bị đột biến melanin (còn gọi là melanism) – một dạng đột biến hiếm gặp khiến cơ thể tăng hắc tố melanin, khiến toàn thân chuyển thành màu đen. Có thể xem đây là một dạng đột biến ngược với bạch tạng.

“Phải chăng đây là con cánh cụt hiếm nhất Trái đất?” – trích lời người phát ngôn của BBC.

Đây có thể là con chim cánh cụt hiếm nhất thế giới: cả hành tinh có đúng 1 con - Ảnh 2.

Trên thực tế, đó là nhận định hoàn toàn có cơ sở. Đột biến melanin từng được ghi nhận ở một số cá thể chim cánh cụt, nhưng đó là đột biến một phần. Chưa bao giờ có con cánh cụt hoàng đế nào mắc phải chứng đột biến này. Và đồng thời, đột biến khiến cánh cụt hoá đen toàn thân cũng là cực kỳ hiếm.

Theo các chuyên gia, đột biến melanin một phần có mức độ hiếm rơi vào khoảng 1:250.000. Và đột biến toàn phần như vậy còn hiếm hơn thế nữa.

“Con cánh cụt này có thể là con duy nhất bị như vậy,”

Cánh cụt hoàng đế trưởng thành thông thường có lông đầu và cánh màu đen, nhưng lưng màu xám và bụng màu trắng, kèm một vòng tròn vàng cam quanh cổ. Trong khi con cánh cụt mới phát hiện lần này thì toàn thân màu đen, dù có một vài khoảng trắng kỳ lạ trên ngực và cánh. Ngoài ra, nó vẫn có một vài khoảng vàng (dù ít) quanh cổ.

Đây có thể là con chim cánh cụt hiếm nhất thế giới: cả hành tinh có đúng 1 con - Ảnh 3.

Việc trở nên quá đặc biệt cũng không phải là điều tốt. Nếu như ở báo đen, dạng đột biến này giúp chúng dễ dàng hòa lẫn vào màn đêm hơn, thì con chim cánh cụt này không được hưởng điều đó.

Sinh sống tại nơi băng tuyết phủ trắng, việc có một bộ lông đen khiến chúng dễ bị phát hiện trong tuyết. Hơn nữa, chiếc bụng trắng của chim cánh cụt còn giúp chúng nguỵ trang khi bơi và săn mồi, nên rõ ràng chú chim này sẽ gặp khó khăn hơn.

Nhưng đó là lý thuyết. Còn theo thực tế được ghi nhận bởi BBC, con cánh cụt vẫn đang khá ổn. Nó trông rất khỏe mạnh và đang đi tìm bạn tình.Cánh cụt hoàng đế là loài cao và nặng nhất trong họ nhà cánh cụt, với chiều cao trung bình là 1,22m, nặng 45kg. Hienej tại, nó đang được xếp vào diện “cận đe dọa” trong sách Đỏ, với số lượng đang giảm dần vì biến đổi khí hậu và các hoạt động của con người.

Tham khảo: BBC, IFL Science

Xem thêm:

Choáng với sự sống đẹp huy hoàng tại chảo muối được mệnh danh là “Vùng đất chết”

Dù được mệnh danh là vùng đất chết, Makgadikgadi vẫn tồn tại sự sống. Trong cái lòng chảo mặn chát, tảo phủ một lớp mỏng xanh xao. Xa trung tâm hơn một chút, cỏ cây bắt đầu phát triển. Và nổi lên trên mặt đất trắng muối, cằn khô là những cây bao báp vĩ đại, đẹp huy hoàng.

Kubu là một hòn đảo đá granite khô nằm trong lòng chảo muối Makgadikgadi của Botswana, quốc gia ở Nam Phi. Nó cách thị trấn khai thác mỏ Orapa và Letlhakane vài cây số. Toàn bộ hòn đảo được chỉ định là di tích quốc gia, đồng thời là địa điểm linh thiêng của người bản địa trong khu vực.

Makgadikgadi: Tập hợp của những chảo muối khô mặn như “vùng đất chết”

Makgadikgadi là một chảo muối nằm giữa hoang mạc cằn cỗi, chiếm hẳn 70% diện tích của Botswana – Kalahari. Đây là chảo muối lớn nhất thế giới, có diện tích trên 30.000 km2. Xưa kia, khu vực này từng là một vùng hồ mênh mông, rộng tới 80.000 km2. Tuy nhiên, vào khoảng 10.000 năm trước, hồ nước bắt đầu cạn, cuối cùng để lại những vũng muối khổng lồ.

Choáng với sự sống đẹp huy hoàng tại chảo muối được mệnh danh là "Vùng đất chết" - Ảnh 1.
Choáng với sự sống đẹp huy hoàng tại chảo muối được mệnh danh là "Vùng đất chết" - Ảnh 1.
Choáng với sự sống đẹp huy hoàng tại chảo muối được mệnh danh là "Vùng đất chết" - Ảnh 1.

Chảo muối Makgadikgadi

Theo ngôn ngữ của người San – tộc bản địa tại đây, đồng thời là dân tộc có truyền thống săn bắn, hái lượm nổi danh của vùng phía nam Châu Phi – thì Makgadikgadi có cùng nguồn gốc ngữ nghĩa với tên của sa mạc Kalahari. Cả 2 đều có nghĩa là “vùng khát cháy”.

Đúng như cái tên, Makgadikgadi thật sự nóng bỏng. Nó được bao phủ bởi một lớp đất sét vừa khô vừa mặn, còn khí hậu thì nóng kinh hồn, có lúc lên đến cả 40 độ C. Chưa kể, nơi đây còn vô cùng hiếm ao hồ có nước. Tất cả những gì sự sống ở Makgadikgadi có thể trông chờ chỉ là mưa rơi xuống từ trên trời.

Choáng với sự sống đẹp huy hoàng tại chảo muối được mệnh danh là Vùng đất chết - Ảnh 2.
Choáng với sự sống đẹp huy hoàng tại chảo muối được mệnh danh là Vùng đất chết - Ảnh 3.

Thú vị là bản thân Makgadikgadi không phải là chảo muối duy nhất. Nó thật ra là tập hợp của các chảo muối con, dù diện tích không hề “con” chút nào. Trong đó có 3 chảo muối lớn nhất là Sua, Nwetwe và Nxai, với diện tích rơi vào tầm 4921 km2.

Vẫn nhộn nhịp sự sống bậc nhất hành tinh

Mặc dù hiếm nước có sẵn trên mặt đất, song Makgadikgadi lại có được “thiên thời”. Mùa mưa (khoảng từ tháng 1-3) vừa sang, trời vội vã đổ những trận mưa như trút, khiến cho lòng chảo rộng mênh mông bất chợt ngập tràn nước. 

Choáng với sự sống đẹp huy hoàng tại chảo muối được mệnh danh là "Vùng đất chết" - Ảnh 4.
Choáng với sự sống đẹp huy hoàng tại chảo muối được mệnh danh là "Vùng đất chết" - Ảnh 4.
Choáng với sự sống đẹp huy hoàng tại chảo muối được mệnh danh là "Vùng đất chết" - Ảnh 4.
Choáng với sự sống đẹp huy hoàng tại chảo muối được mệnh danh là "Vùng đất chết" - Ảnh 4.

Cỏ cây chớp cơ hội, điên cuồng nảy mầm đâm lá, khiến toàn khu vực thoắt cái đã trở nên xanh tốt. Ngựa vằn, linh dương đầu bò, voi và vô số các động vật ăn cỏ khác nô nức kéo nhau về, biến cái chảo muối tưởng chừng không hề tồn tại sự sống thành ra đông vui vào hàng bậc nhất.

Có hồ ngập nước tất cũng sớm có những loài chim ưa tôm cá tới tấp bay về. Trong suốt mùa mưa, chim hồng hạc mọi miền vùng Nam Phi đua nhau vỗ cánh hướng tới Makgadikgadi. Tại đây, chúng vừa kiếm ăn vừa sinh sản, nuôi dưỡng con non.

Ngoài hồng hạc, Makgadikgadi còn đón nhiều loài chim nước khác như bồ nông, vịt, ngỗng… Nó trở thành thiên đường với những người yêu chim chóc trên toàn cầu.

Đáng yêu hơn nữa là bạn còn có thể tận mắt chiêm ngưỡng nhà chồn Meerkat. Dù có ngắm nhìn bao nhiêu lần đi nữa trái tim của chúng ta vẫn cứ bị đàn chồn “muôn con một điệu” này đốn gục.

Choáng với sự sống đẹp huy hoàng tại chảo muối được mệnh danh là "Vùng đất chết" - Ảnh 5.
Choáng với sự sống đẹp huy hoàng tại chảo muối được mệnh danh là "Vùng đất chết" - Ảnh 5.
Choáng với sự sống đẹp huy hoàng tại chảo muối được mệnh danh là "Vùng đất chết" - Ảnh 5.
Choáng với sự sống đẹp huy hoàng tại chảo muối được mệnh danh là "Vùng đất chết" - Ảnh 5.

Ngay cả trong mùa khô, khi toàn bộ lòng chảo rơi vào hạn hán nghiêm trọng, Makgadikgadi vẫn vô cùng ồn ã bởi những đợt động vật có vú di cư rầm rộ. Đặc biệt, nơi này còn là vùng “tổ chức” cuộc di cư ngựa vằn dài nhất Châu Phi.

Thế giới của những cây bao báp hùng vĩ nhất thế gian

Tiến vào chảo muối “con” Nxai, trước mắt bạn còn là cả một cánh đồng rừng bao báp ngàn năm tuổi. Nhưng cũng đừng vội kết thúc hành trình khám phá tại đây mà hãy hướng tới Sua. Chính trong cái “lòng chảo con” lớn nhất của Makgadikgadi này, bạn sẽ bắt gặp một hòn đảo đá granite bị cô lập tràn ngập những thân bao báp trắng vĩ đại.

Về cơ bản, bao báp là một loài thực vật thuộc họ Gạo (Bombacaceae). Cây trưởng thành có chiều cao từ 5m trở lên. Một số cây có thể đạt độ cao ngoài 30m, nhưng thường thì chúng chỉ cao trong tầm 20-25m mà thôi.

Choáng với sự sống đẹp huy hoàng tại chảo muối được mệnh danh là "Vùng đất chết" - Ảnh 6.
Choáng với sự sống đẹp huy hoàng tại chảo muối được mệnh danh là "Vùng đất chết" - Ảnh 6.
Choáng với sự sống đẹp huy hoàng tại chảo muối được mệnh danh là "Vùng đất chết" - Ảnh 6.
Choáng với sự sống đẹp huy hoàng tại chảo muối được mệnh danh là "Vùng đất chết" - Ảnh 6.

Cái độc đáo của nhà bao báp là chúng thuộc loại thân mọng nước. Nhờ tích trữ được cả tầm 120.000 lít nước trong thân cây nên bao báp bất chấp khí hậu khô hạn của sa mạc. Khi mùa khô tới, chúng còn biết rụng lá để giảm thiểu thoát nước.

Dẫu chỉ là một mỏm đá cao có hơn 9m một chút, nhưng trong cái lòng chảo Sua vốn trũng nhất Makgadikgadi, Kubu vẫn đủ để trở thành “tháp quan sát” toàn cảnh. Trèo lên đỉnh Kubu, chầm chậm xoay đủ 360 độ, tất cả cảnh quan Sua sẽ thu vào tầm mắt bạn.

Dưới chân Kubu, toàn bộ Sua trắng xóa như bị tuyết phủ. Có điều, cái lớp trắng xóa ấy không phải tuyết mà là muối. Những trảng muối kéo dài, trải rộng, bao gồm đủ các loại muối tự nhiên, từ natri clorua đến natri cacbonat, natri bicarbonate, natri sunfat… Mỗi năm, nhờ Sua mà Botswana thu hoạch cả 450.000 tấn muối.

Choáng với sự sống đẹp huy hoàng tại chảo muối được mệnh danh là Vùng đất chết - Ảnh 7.

Cây bao báp

Mùa mưa, Sua cũng ngập đầy nước, khiến Kubu như hòn đảo nổi giữa hồ. Vì trũng nhất nên nó giữ được lượng nước quý giá này sang cả tháng 4-5. Tất nhiên, những “khách quen” động vật hoang dã thường niên cũng tập nập kéo vào.

Thêm vào đó, Kubu còn là nơi lưu giữ nhiều đồ vật tạo tác và tàn tích đá từ thời tiền sử, trước cả thời đại của Người tinh khôn (Homo sapien). Trong ngôn ngữ của người Kalanga, một dân tộc bản địa sống quanh khu vực chảo muối Makgadikgadi, thì “Kubu” có nghĩa là “tảng đá lớn”. Còn theo tiếng Tswana – bộ tộc bản địa Châu Phi cũng cư trú quanh vùng, thì nó có nghĩa là “hà mã”.

Đọc thêm:

19 địa điểm bí ẩn và đáng sợ nhất trên thế giới

Những địa điểm càng khó tiếp cận thì càng khơi gợi trí tò mò và khát khao được chinh phục của loài người. Không gì hấp dẫn trí tò mò của con người hơn những địa điểm bị lãng quên. Càng không thể đặt chân tới, bạn càng ham muốn được khám phá nơi đó hơn. Trang web Bored Panda đã sưu tầm 10 địa điểm bí ẩn nhất hành tinh và gần như không thể tiếp cận được. Càng bí ẩn thì càng hấp dẫn đúng không nào?

1. Svalbard Global Seed Vault, Na Uy

19 địa điểm bí ẩn và đáng sợ nhất trên thế giới - Ảnh 1.

Nằm sâu trong Vòng Cực Bắc, trên đảo Spitsbergen của Na Uy, hầm giống Svalbard được xây dựng sâu bên trong một ngọn núi và còn được biết đến với tên gọi “hầm tận thế”. Ngay cả trong những sự kiện hay thảm hoạ kinh hoàng nhất của lịch sử loài người, hầm vẫn sừng sững bảo tồn những nét dị biệt và xứng danh là nơi lưu trữ hạt giống an toàn nhất thế giới. Căn hầm này đã được xây dựng khoảng 200 năm và hiên ngang chống chọi với cả động đất lẫn núi lửa phun trào. Nằm vững chãi trên sườn núi nên băng có tan chải, hầm vẫn toạ lạc cao hơn so với mặt nước biển. Svalbard chứa hơn 100 triệu hạt giống, là một “backup” hoàn hảo nếu “ngày tận thế” thật sự diễn ra và phần còn lại của loài người lâm vào khủng hoảng lương thực. 

Ngay cả CHDCND Triều Tiên cũng gửi hạt giống tại căn hầm này. Syria là đất nước đầu tiên xin hạt giống từ đây để tái thiết lại Trung Tâm Nghiên Cứu Cây Trồng Quốc Tế đã bị phá hoại sau chiến tranh. Nguồn giống quý báu tại căn hầm này là tài nguyên vô cùng quan trọng cho những quốc gia bị tàn phá bởi chiến tranh hoặc thiên tai.

2. Đảo Bắc Sentinel, Ấn Độ

19 địa điểm bí ẩn và đáng sợ nhất trên thế giới - Ảnh 2.

Đảo Bắc Sentinel là quê nhà của tộc Sentinel, một bộ lạc thiểu số gần như tách biệt hoàn toàn với nền văn minh hiện đại của loài người. Bộ lạc này được cho là tồn tại nhờ săn bắt, đánh cá. Hòn đảo này không hề có dấu hiệu của trồng trọt, thậm chí là lửa. Mãi đến năm 1967, đoàn thám hiểm đầu tiên mới đặt chân được lên hòn đảo bí ẩn này, tuy nhiên, bộ tộc man di từ chối mọi “tương tác” với thế giới bên ngoài, bất kì ai xâm phạm lãnh địa của họ đều sẽ bị xua đuổi một cách thô bạo. Năm 2006, tộc người rừng rú này đã sát hại 2 ngư dân xấu số lạc vào bờ biển của họ, đến chính phủ Ấn Độ cũng chẳng dám can thiệp vào sự việc. Để giải quyết vấn đề, Ấn Độ quyết định cấm luôn mọi nỗ lực tiếp cận hòn đảo ma quái này.

3. Cổng “Pluto”, Thổ Nhĩ Kì

19 địa điểm bí ẩn và đáng sợ nhất trên thế giới - Ảnh 3.

Toạ lạc tại thành phố cổ Hierapolis, Thổ Nhĩ Kì, cổng Pluto từng là nơi thờ thần Pluto (thần chết) của người La Mã. Nhà sử học Strabo khi đến thăm chiếc cổng này đã nói: “Bất kì sinh vật nào đi qua cổng này sẽ chết ngay lập tức. Tôi thử ném một con vẹt qua cổng và nó tắt thở luôn”. Sau khi được phát hiện ra vào năm 1965, sự nguy hiểm của cổng Pluto đã được chứng minh rõ ràng hơn. Các nhà khoa học đã đo đach được: khu vực này có hàm lượng khí CO2 cao khủng khiếp, đặc biệt về đêm, khi nhiệt độ giảm xuống, lượng CO2 tại đây trở nên nặng hơn cả không khí và đủ để giết chết mọi sinh vật chỉ trong vài phút. 

4. Hầm m Catacombs, Paris

19 địa điểm bí ẩn và đáng sợ nhất trên thế giới - Ảnh 4.

Thật khó tin rằng ngay giữa kinh đô ánh sáng hoa lệ dập dìu hàng triệu khách du lịch mỗi năm lại có một nơi ít ai được đặt chân đến: hầm rượu Catabombs. Nơi đây nổi tiếng vừa bí ẩn, vừa đáng sợ, được xây dựng từ một phần đường hầm nối với mỏ đá Paris. Nơi này cũng trở thành hầm chứa 6 triệu xác người chết cuối thế kỉ 18. Một phần nhỏ của căn hầm này được mở cửa cho khách du lịch tham quan, bạn có thể thấy hàng ngày bộ xương và đầu lâu được xếp chồng lên nhau. Gần như không ai có thể khám phá được căn hầm dài 170 dặm này vì nguy cơ bị lạc là điều chắc chắn. Tuy nhiên, càng như vậy, dân tình càng tò mò tìm cách thám hiểm hầm, đến mức chính quyền Paris có hẳn một lực lượng cảnh sát riêng quản lí căn hầm này. 

5. Đảo Poveglia, Ý

19 địa điểm bí ẩn và đáng sợ nhất trên thế giới - Ảnh 5.

Poveglia là một trong hòn đảo bí hiểm và đáng sợ nhất thế giới. Dưới triều đại La Mã, hòn đảo này được dùng làm nơi nhốt những người mắc bệnh dịch. Tới thời Trung Cổ, khi bệnh dịch trở lại, hòn đảo lại trở thành nơi giam cầm những người mắc bệnh. Một lượng lớn người chết bị chôn tập thể dưới đất hoặc hoả thiêu. Người ta nói, đất đai ở đây thậm chí bị nhiễm khuẩn, 50% là đất và 50% là… tro từ xác người chết. Tới năm 1922, để góp phần cho đảo thêm đáng sợ, người ta mở hẳn một bệnh viện tâm thần tại đây.

6. Ilha Da Queimada Grande (Đảo Rắn), đâu đó trên Đại Tây Dương

19 địa điểm bí ẩn và đáng sợ nhất trên thế giới - Ảnh 6.

Đảo Ilha da Queimada Grande, ngoài khơi bờ biển Brazil, nơi sinh sống của loài rắn đầu vàng được coi là độc nhất thế giới. Hòn đảo này hoàn toàn không có người qua lại để góp phần bảo tồn số lượng cho toàn rắn này, cũng như an toàn cho con người. Vài thống kê khoa học cho rằng cứ một mét vuông trên đảo sẽ có một chú rắn.

7. Khu vực xảy ra thảm hoạ hạt nhân Cherbobyl, Ukraine

19 địa điểm bí ẩn và đáng sợ nhất trên thế giới - Ảnh 7.

Năm 1986, nhân loại rúng động trước thảm hoạ hạt nhân tồi tệ nhất lịch sử loài người: vụ nổ Chernobyl. Hậu quả để lại là lượng phóng xạ quá cao đã khiến mọi người dân địa phương đều phải sơ tán khẩn cấp khỏi khu vực này và Chernobyl đã bị bỏ hoang từ đó đến nay. Tới bây giờ, người ta vẫn tìm thấy giày dép, đồ chơi và các vật dụng cá nhân của các nạn nhân xấu số. Một vài phần của thị trấn Chernobyl vẫn có thể được tiếp cận cho mục đích nghiên cứu, nhưng nói chung phần lớn diện tích của khu vực này vẫn không được phép xâm phạm do bất kì ai đặt chân vào đây đều đối mặt với nguy cơ nhiễm phóng xạ. 

8. Lăng mộ Tần Thuỷ Hoàng, Trung Quốc

19 địa điểm bí ẩn và đáng sợ nhất trên thế giới - Ảnh 8.

Đội quân “Terrecotta” được Tần Thuỷ Hoàng đầu tư chạm trổ để canh giữ giấc ngủ ngàn thu của mình.

Nằm tại thành phố Tây An, tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc, lăng mộ Tần Thuỷ Hoàng là nơi tuyệt đối cấm người ra vào. Dù được phát hiện một cách rất tình cờ khi đoàn quân tượng của Tần Vương vô tình… trồi lên mặt đất năm 1974, đến tận bây giờ, lăng mộ này vẫn chưa được khai quật. Các đoàn thám hiểm đều cho rằng công nghệ hiện nay không thể vừa khai quật vừa bảo tồn vẹn nguyên được di tích này, nên mọi sự xâm phạm đều bị cấm. 

9. “Đặc khu” 51, Mỹ

19 địa điểm bí ẩn và đáng sợ nhất trên thế giới - Ảnh 9.

Trông có vẻ hoang vắng nhưng nơi đầy thường xuyên dập dìu lính Mỹ tập trận.

Đặc khu 51 là một vùng đất hoang vắng được quản lí bởi quân đội Mỹ, nằm cách thành phố Las Vegas 100 dặm. Chính phủ Mỹ một mực phủ nhận sự tồn tại của khu vực này, vô tình lại biến nó thành một trong những nơi bí ẩn nhất thế giới. Ngày nay, đặc khu 51 được biết đến như một trong những nơi thường xuyên xuất hiện UFO. Vì là vùng đất khỉ ho cò gáy nên cơ quan tình báo Mỹ CIA và không quân Mỹ thường xuyên dùng nơi này để tập trận chống khủng bố. Dù là vùng giới nghiêm được quân đội quản lí nhưng nhiều người vẫn tin rằng đã có các nhà khoa học phát hiện ra đĩa bay của người ngoài hành tinh rơi tại đây. 

10. Đảo Surtsey, Island

19 địa điểm bí ẩn và đáng sợ nhất trên thế giới - Ảnh 10.

Surtsey là hòn đảo mới hình thành năm 1963 sau một đợt phun trào núi lửa kéo dài tận 3 năm. Giờ đây, đảo này được sử dụng chủ yếu với mục đích khoa học, và công việc chính của các nhà nghiên cứu là tìm ra cách hình thàn của một hệ sinh thái không có con người. Chỉ có vài nhà khoa học được phép tiếp cận hòn đảo này và họ tuyệt đối không được mang theo bất kì hạt giống nào lên khỏi đảo. Tuy nhiên, một vài người không tuân thủ luật này và “đi nặng” lên trên dung nham. Một cây cà chua hiên ngang mọc lên giữa hòn đảo hoang khiến tập thể các nhà khoa học hết sức bối rối. Họ nhận ra sơ suất của mình đã khiến một hệ sinh thái nguyên sơ hoàn toàn bị phá vỡ và làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới các nghiên cứu sau này. 

11. Đường tàu điện ngầm số 2, Nga

19 địa điểm bí ẩn và đáng sợ nhất trên thế giới - Ảnh 11.

Dưới chính quyền Stalin, một hệ thống đường tàu điện ngầm bí mật đã được xây dựng và có tên là Metro-2. Hệ thống đường ray này vốn được dựng nên để kết nối các cơ quan hành chính đầu não như điện Kremlin, sân nay Vnukovo-2 và Đại học tổng hợp của lực lượng vũ trang Liên Xô. Nhiều báo cáo cho rằng trong hệ thống đường hầm này còn có cả các căn hộ và phòng kỹ thuật. Người ngoài khó lòng xâm nhập vào hệ thống đường ray này. Đây được cho là nơi trú ẩn và thoát hiểm cho các nhân vật chủ chốt của chính quyền trong trường hợp xảy ra chiến tranh. Chính quyền Mát-xcơ-va một mực phủ nhận sự tồn tại của đường hầm này. Đến năm 1994, một nhóm người dân thông báo họ đã tìm được lối vào hầm. Đến ngày nay, chỉ một trong 4 nhánh của đường hầm được xác nhận là có tồn tại, chính là đường ray D6. 

12. Động Lascaux, Pháp

19 địa điểm bí ẩn và đáng sợ nhất trên thế giới - Ảnh 12.

Động Lascaux là một hệ thống hang động phức tạp gần làng Montignac, Pháp. Trên vách hang có rất nhiều các bức vẽ về động vật với niên đại khoảng 17 ngàn năm tuổi. Vào những năm 1940, động Lascaux được tìm thấy bởi một thanh niên 18 tuổi, Marcel Ravidat, khiến rất nhiều người tò mò về nguồn gốc cũng như ý nghĩa của các bức vẽ trên động. Các nhà nhân loại học cho rằng những bức vẽ này biểu tượng cho các thành tựu trong nền văn minh săn bắn, hoặc một tín ngưỡng thần bí nào đó cho rằng săn bắn là tương lai của nhân loại. Việc mở cửa hang động vào những năm xảy ra chiến tranh thế giới thứ 2 đã làm tổn hại nghiêm trọng di tích cổ này. 1200 lượt khách tham quan mỗi ngày đã khiến không khí trong hang bị thay đổi, ánh sáng do con người mang vào hang cũng làm hư hại các bức vẽ trên vách, dẫn đến việc đóng cửa động vào năm 1963. 

13. Phòng văn thư bí mật của toà thánh Vatican

19 địa điểm bí ẩn và đáng sợ nhất trên thế giới - Ảnh 13.

Bản thân thành phố và thánh điện Vatican đã là một nơi thần bí, nhưng bên trong nó còn chứa một địa điểm khác bí ẩn hơn: phòng văn thư bí mật. Nơi này lưu trữ rất nhiều tài liệu liên quan đến toà thánh Vatican, có những tài liệu được ghi chép từ… thế kỉ thứ 8. Kho tài liệu này rộng đến mức tổng độ dài của các giá sách lên tới 53 dặm. Trừ các nhà khoa học, không ai được phép tiếp cận khu vực này.

14. Đảo Niihau, Hawaii

19 địa điểm bí ẩn và đáng sợ nhất trên thế giới - Ảnh 14.

Niihau là một hòn đảo nhỏ gần Hawaii, thường được gọi với tên “hòn đảo quên lãng”. Năm 1864, nữ đại gia Elizabeth Sinclair mua đứt hòn đảo này và từ đó đến nay nó vẫn là đất tư. Đến năm 1952, hòn đảo lấy lại cái tên Niihau trong khi đại dịch bại liệt đang lây lan khắp quần đảo Hawaii. May mắn thay, không ai trên đảo mắc phải bệnh dịch. Hiện tại, dân số Niihau vào khoảng 170 người, rất hiếm người ngoài có cơ hội được đặt chân lên đảo. 

15. Đảo North Brother, Mỹ

19 địa điểm bí ẩn và đáng sợ nhất trên thế giới - Ảnh 15.

North Brother là hòn đảo rộng khoảng hơn 50 ngàn mét vuông trên sông East, cách quận Manhattan, New York vài dặm. Đây là nơi hơn 1000 người chết trong một vụ chìm tàu. Sau đó, nơi này được dùng để điều trị các bệnh truyền nhiễm. Cư dân nổi tiếng nhất của hòn đảo này là bà Mary Mallon, người đầu tiên được ghi nhận là bệnh nhân đầu tiên mắc chứng thương hàn. Các tài liệu ghi chép lại: bà lây bệnh cho 50 người, 3 người tử vong. Trong khi bà luôn khẳng định mình chẳng mắc bệnh gì cả. Hòn đảo này sau đó bị bỏ hoang vào những năm 50 khi người ta mở một trại cai nghiện ở đây. 

16. Khu vực nhà máy hạt nhân Fukushima, Nhật Bản

photo-15

Thảm hoạ hạt nhân Fukushima là một trong những hậu quả của trận động đất kèm sóng thần năm 2011 tại Nhật Bản. Cư dân trong bán kính 18 dặm tại khu vực này phải đi sơ tán khẩn cấp. Đây là thảm hoạ hạt nhân thứ 2 trên thế giới được gán mức báo động 7, bên cạnh vụ nổ Chernobyl. Do nồng độ phóng xạ quá cao, không ai được phép tiếp cận khu vực này, duy chỉ có một người đàn ông dũng cảm (hoặc dại dột) thường xuyên ra vào đây mà không có thiết bị bảo vệ, đó là Keow Wee Long, nhiếp ảnh gia 27 tuổi người Malaysia. Anh đột nhập trái phép vào khu vực này để chụp ảnh.

17. Đền Ánh Sáng Vĩ Đại của Ise, Nhật Bản

19 địa điểm bí ẩn và đáng sợ nhất trên thế giới - Ảnh 16.

Đền Ánh Sáng Vĩ Đại của Ise, một ngôi đền thần bí đến đáng sợ nơi người ta thờ nữ thần mặt trời Amaterasu của đạo Shinto. Ngôi đều này được xây mà không có một chiếc… đinh nào, chỉ toàn là gỗ. Điều thú vị nhất là cứ mỗi 20 năm lần, đền đều được tháo ra xây lại để tôn vinh chu kì qua đời và tái sinh của đạo Shinto. Bất chấp vẻ đẹp thần thánh thiêng liêng của ngôi đền, chỉ có các tu sĩ và gia đình quý tộc mới dám ra vào ngôi đền này. Người ngoài không dám vào và cũng khó có thể chụp ảnh.

18. Rừng Bohemian, Mỹ

photo-17

Rừng Bohemian là một khu cắm trại cạnh đại lộ Bohemian, thành phố Monte Rio, California. Mỗi năm, khoảng 2500 quý ông lịch lãm tham dự sự kiện sang chảnh tại khu rừng này. Đây là một bữa tiệc quy tụ nhiều đại gia trên thế giới: chính trị gia, nhà khoa học đạt giải Nobel, tướng lĩnh cấp cao trong quân đội, hiệu trưởng các trường danh tiếng như Harvard, Yale. Sự kiện bí ẩn này vẫn được duy trì đến ngày nay nhưng chỉ cho phái mạnh, phụ nữ có thể tham gia với tư cách… phục vụ. 

19. Morgan Islan (đảo Khỉ), Nam Carolina

19 địa điểm bí ẩn và đáng sợ nhất trên thế giới - Ảnh 17.

Đảo Morgan, phía bắc thị trấn Beaufort, Nam Carolina, còn được biết tới với tên gọi “đảo Khỉ” bởi đây là nơi sinh sống của 4000 chú khỉ rhesus. Đám khỉ này phần lớn được chuyển đến từ Puerto Rico. Hiện nay, luật pháp cấm khách tham quan tiếp cận hòn đảo này để an toàn cho cả du khách và cộng đồng khỉ trên đảo. Chỉ có các nhà khoa học thuộc Viện Hàn Lâm Quốc Gia về Dị Ứng và Bệnh Truyền Nhiễm mới được phép nghiên cứu trên đảo.

Theo Bored Panda

Xem thêm

Chữ Vạn của nhà Phật: Biểu tượng phổ biến trong các nền văn minh tiền sử

Không chỉ phổ biến trong một số tín ngưỡng phương Đông, chữ Vạn cũng từng là biểu tượng phổ biến trong văn hóa phương Tây. Hơn nữa, các nhà khảo cổ đã phát hiện ra chữ Vạn đã từng là biểu tượng của các tín ngưỡng trong một số nền văn minh tiền sử đã bị hủy diệt.

Chữ Vạn

Đồ hình chữ Vạn

Đồ hình chữ Vạn, tiếng Phạn gọi là Swastika, là biểu tượng chữ thập ngoặc 卍 được sử dụng rất phổ biến trong nhiều trường phái tôn giáo và tín ngưỡng. Đồ hình chữ Vạn được hiểu theo tiếng Phạn có nghĩa là “phúc lộc, an khang, thành công, thịnh vượng”.

Chữ Vạn đã bị Hitler biến tấu để làm biểu tượng của Đức Quốc xã, tuy nhiên trong biểu tượng của Phát-xít, ký hiệu có màu đen và hướng đầu nhọn lên trên, mang ý nghĩa là 2 chữ S đan vào nhau, tượng trưng cho “socialism” của Đảng Công nhân Đức Quốc gia Xã hội chủ nghĩa. Còn đồ hình chữ Vạn đã có từ hàng ngàn năm trước.

Chữ Vạn trong văn minh Hy Lạp cổ (ảnh qua minghui.org)

Đồ hình chữ Vạn được cho là lấy ý tưởng từ việc quan sát vũ trụ, hệ Mặt Trời, nó thể hiện nơi phát sinh ra nguồn sống vô tận, và sự vĩnh hằng. Trong tín ngưỡng Ấn Độ giáo, chữ Vạn được đồng hóa với thần Vishnu và được liên kết với thần Shiva và việc thờ rắn thần Nagar. Trong Phật giáo, người ta coi chữ Vạn là một trong những tướng tốt của Phật, tượng trưng cho trí tuệ quang minh và lòng từ bi vô hạn của Đức Phật.

Chữ Vạn
Đồ hình chữ Vạn trên ngực tượng Phật tại Đại Dữ Sơn, Hồng Kông (ảnh: Internet)

Đồ hình chữ Vạn là một biểu tượng phổ biến trong các nền văn hóa

Không chỉ xuất hiện trên các bức tượng và các công trình, vật dụng của các tôn giáo, tín ngưỡng phương Đông như Phật giáo và Ấn Độ giáo, các biểu tượng chữ Vạn được tìm thấy phổ biến tại khắp nơi trên thế giới, trong các nền văn minh 5.000 năm trở lại đây.

Tại châu Mỹ, người ta tìm thấy biểu tượng chữ Vạn xuất hiện rất nhiều trên những ngọn đồi, trên nhà cửa, quần áo và đồ trang sức của người Aztec và người Maya.

Biểu tượng chữ Vạn xuất hiện trên các vật dụng của người Aztec và Maya (ảnh: decacs-inc.com)

Người Anasazi, tồn tại đến khoảng 1250 SCN tại phía Tây Nam nước Mỹ ngày nay, cũng có rất nhiều các công trình và vật dụng có biểu tượng chữ Vạn.

Chữ Vạn
Biểu tượng trên chữ Vạn xuất hiện trong văn hóa người Anasazi, châu Mỹ (ảnh: decacs-inc.com)

Tại Châu Âu, biểu tượng chữ Vạn là một hình tượng khá phổ biến và thường được đúc trên các đồng tiền cổ.

Biểu tượng chữ Vạn trong các đồng tiền cổ của châu Âu (ảnh: decacs-inc.com)

Biểu tượng chữ Vạn cũng có thể thấy trong các nhà thờ, các hầm mộ La Mã và các ngôi mộ.

Hình tượng chữ Vạn trong nhà thờ Saint Georges của Éthiopia (Bet Giyorgis (Lalibela)), xây dựng vào thế kỷ XII. Liệu Thiên chúa giáo và Phật Giáo có mối quan hệ gì không? (ảnh: epochtimes.fr)

Biểu tượng chữ Vạn xuất hiện trên một bức tượng đồng cổ tại Châu Âu (ảnh: epochtimes.fr)
Chữ Vạn được tìm thấy trong một đồ trang trí La Mã cổ đại thế kỷ thứ 2. (ảnh: epochtimes.fr)

Sự xuất hiện của đồ hình chữ Vạn từ trong các nền văn minh tiền sử

Tại khu vực Samarra nằm cách thủ đô Baghdad, Iraq 125km về phía Bắc, người ta tìm thấy biểu tượng chữ Vạn được tạo bởi hình tượng của 4 người phụ nữ, có niên đại 5.000 năm TCN.

Hai biểu tượng chữ Vạn được tìm thấy ở Samarra, Iraq, có tuổi đời 7.000 năm tuổi (ảnh: decacs-inc.com)

Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Ukraine tại thủ đô Kiev có trưng bày một bức tượng nhỏ hình một chú chim, bức tượng được làm từ ngà voi ma-mút. Trên bức tượng này, người ta phát hiện ra một hình mẫu hoa văn có biểu tượng là một chữ Vạn. Sử dụng phương pháp xác định độ tuổi bằng đồng vị phóng xạ carbon, các nhà khoa học đã phát hiện rằng bức tượng này có tuổi thọ khoảng 12.000 năm.

Biểu tượng chữ Vạn được tìm thấy trên bức tượng hình chú chim tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Ukraine (ảnh: decacs-inc.com)

Có lẽ chữ Vạn cổ xưa nhất được phát hiện cho đến nay là đồ hình xuất hiện trong những văn tự của những người thuộc nền văn minh Naacal – nền văn minh phát triển rất cao được cho là có từ hơn 50.000 năm trước – đã chìm ở dưới Thái Bình Dương bởi động đất và sóng thần hơn 12.000 năm trước. Những văn tự này được James Churchward (1851-1936) – một nhà văn, nhà phát minh, nhà thám hiểm người Anh – thu nhận được từ 2 nguồn: các bản ghi bằng đất sét của người Naacal ở Ấn Độ, ghi chép lại bằng các ký hiệu và ngôn ngữ Naga và hơn 2.500 bản ghi bằng đá, khắc bằng ngôn ngữ Duy Ngô Nhĩ tìm được tại Mexico bởi nhà khảo cổ học William Niven(1850-1937).

Trong tác phẩm “Mu, lục địa bị biến mất” của mình, James Churchward đã công bố hình chụp bản ghi đánh số 1231 trong hơn 2.500 bản ghi do William Niven tìm được. Hình chụp là một biểu tượng chữ vạn quay sang phải. James Churdward tin rằng biểu tượng này thể hiện 4 điều linh thiêng của đấng sáng tạo tạo nên nền văn minh Mu.

Chụp hình chữ Vạn trên một tấm ghi bằng đá mang mã số 1231, trình bày trong cuốn sách “Mu, lục địa bị biến mất” của James Churdward. (ảnh: trích trong sách Mu, lục địa bị biến mất)

Trong một tác phẩm khác có tên “Những ký hiệu linh thiêng của Mu”, James Churdward cũng cho biết các biểu tượng chữ thập ngoặc hay là chữ Vạn xuất hiện rất nhiều lần trên các bản ghi tại cả Ấn Độ và Mexico.

Các biểu tượng chữ Vạn xuất hiện rất nhiều trong các bản ghi của lục địa Mu tại cả Ấn Độ và Mexico, thể hiện sự linh thiêng của đấng sáng tạo (ảnh: trích trong sách Những ký hiệu linh thiêng của Mu)

Ngay đầu cuốn sách “Những ký hiệu linh thiêng của Mu”, James Churdward đã công bố bức ảnh chụp một vị thần có dáng vẻ Phật có 2 đầu 4 tay. Bức tượng được xác định là được tạo ra khoảng 18.000 đến hơn 20.000 năm trước. Nó được P. K. Kosloff – nhà thám hiểm, sĩ quan người Nga – tìm thấy ở thủ đô của đất nước người Duy Ngô Nhĩ (Uighur) cổ đại, tại Khara Khota, xa mạc Gobi, nay thuộc về Mông Cổ và Trung Quốc. Những dấu tích khảo cổ này đã chứng minh rằng, từ hàng chục ngàn năm trước, đã xuất hiện các nền văn minh từng tồn tại trên thế giới và họ cũng tín ngưỡng các vị thần, trong đó có cả các vị Phật. Khi đó, biểu tượng chữ Vạn cũng là biểu tượng phổ biến của các nền văn minh này.

Bức ảnh chụp tượng một vị thần mang dáng vẻ Phật có 2 đầu và 4 tay trong tác phẩm “Những ký hiệu linh thiêng của Mu” (ảnh: sacred-texts.com)

Cần lưu ý rằng theo thuyết tiến hóa của Darwin, hơn 10.000 năm trước, con người chúng ta vẫn chưa có nền văn minh, chỉ sống trong hang bằng săn bắt và hái lượm. Tuy vậy, những di tích khảo cổ có niên đại hàng chục nghìn năm có biểu hiện chữ Vạn đã thể hiện rằng thuyết tiến hóa là sai lầm.

Ngày nay, càng ngày càng có nhiều phát hiện hơn nữa về sự tồn tại và hủy diệt bất ngờ của các nền văn minh tiền sử vốn cótrình độ phát triển rất cao trong quá khứ. Sự hủy diệt của các nền văn minh này đều được cho là liên quan đến việc đạo đức nhân loại đã trở nên bại hoại, tín ngưỡng, tôn giáo cũng không giúp duy trì được đạo đức xã hội nữa, nên các nền văn minh đã gặp phải hủy diệt. Thiết nghĩ đây cũng là điều đáng suy ngẫm cho con người chúng ta trong nền văn minh đương đại.

Thiện Tâm tổng hợp.

Xem thêm :

Categories: Văn Minh Cổ Đại

Kỳ lạ : Những bức ảnh cho thấy cây cối biết nhường nhịn nhau

“Sự e thẹn của vòm lá” (canopy shyness)là hiện tượng ở một vài loài cây khi các cành cao nhất của vòm lá mọc hài hòa và tránh đụng vào nhau. Hiệu ứng hình ảnh cây cối tạo ra là rất ấn tượng, những đường biên rõ nét trông hệt như các khe nứt hay dòng sông uốn lượn trên bầu trời, khi chúng ta quan sát từ mặt đất.

Cùng nhìn ngắm những bức ảnh về hiện tượng thú vị này:

(ảnh: Dag Peak. San Martin, Buenos Aires.)

Đã bao giờ bạn nghĩ rằng những cánh rừng cũng là nơi có các mối quan hệ gia đình và xã hội?

Các loài cây có sự giao tiếp với nhau

Suzanne Simard là giáo sư về sinh thái rừng tại Đại học British Columbia. Cô đã thử nghiệm các lý thuyết về cách các loài cây giao tiếp với nhau. Cô sử dụng carbon phóng xạ để kiểm nghiệm sự giao tiếp giữa cây các loài cây khi chúng trao đổi chất carbon cho nhau. Và cô đã phát hiện rằng cây Bạch Dương và cây Linh Sam đã có những “phi vụ” trao đổi đôi bên cùng có lợi, trong khi cây Tuyết Tùng lại có một thế giới riêng khác của nó.

Video Việt sub:

“Cuộc sống bí ẩn của cây cối”

Peter Wohlleben được đặt biệt danh là “người hiểu ngôn ngữ của cây cối”. Ông là chuyên gia lâm nghiệp người Đức, tác giả của cuốn sách thuộc loại best-selling “The Hidden Life of Trees” (Cuộc sống bí ẩn của cây cối).

Ông mô tả rằng cây cối trong rừng cũng có những mối quan hệ xã hội:

Cây có cảm xúc. Chúng có thể cảm nhận đau đớn, và cả những cảm xúc, như sợ hãi.
Cây thích đứng gần nhau và âu yếm.
Có tồn tại tình bạn giữa cây cối.

“Cây cối thường làm bạn với nhau. Ta thấy các tán cây dày thường không che lên các cây khác vì chúng không muốn chặn ánh sáng của bạn bè”, ông nói. Ông đã có thí nghiệm chứng minh rằng nhờ được đối xử như con người mà sức khỏe và sức chịu đựng của cây cối trong khu rừng được tăng lên.

Thực vật cũng có tri giác

Cleve Backster là một chuyên gia phát hiện nói dối kỳ cựu của CIA.

Một ngày năm 1966, Backster nối một máy dò nói dối với những chiếc lá của cây huyết dụ và tưới nước cho nó, ông chỉ muốn xem sau bao lâu thì một cái cây sẽ gia tăng tính dẫn điện và giảm điện trở. Nhưng bất ngờ thay, đường cong mà máy vẽ ra cho thấy phản ứng của cây huyết dụ cũng lên xuống như tâm trạng con người. Dường như nó rất vui khi được uống nước.

Backster muốn biết liệu thực vật có thể có phản ứng nào khác không. Theo kinh nghiệm của mình, ông biết rằng sự đe dọa là một cách hay để gây ra phản ứng mạnh mẽ. Ông bèn nghĩ ra một ý định: đốt chiếc lá đang được nối với máy dò nói dối. Với ý nghĩ này, thậm chí trước khi ông làm thí nghiệm, một đường cong lập tức được vẽ lên giấy. Khi ông trở lại với một bao diêm, ông thấy một đường cong khác xuất hiện. Dường như khi cái cây thấy ông quyết tâm đốt nó, nó đã rất sợ sệt.

Nếu ông do dự hay ngập ngừng khi muốn đốt cái cây, phản ứng được ghi lại bởi máy dò nói dối là không rõ ràng. Và khi ông giả vờ đốt chiếc lá, cái cây hầu như không có phản ứng gì. Cái cây thậm chí còn có thể phân biệt được ý định thực sự hay là sự giả vờ. Backster gần như đã chạy ra ngoài phố và hét lên rằng: “Thực vật cũng có cảm tình! Thực vật cũng có cảm tình!” Với khám phá đáng kinh ngạc này, cuộc sống của ông đã thay đổi mãi mãi. Đây cũng là thí nghiệm đã được lặp lại nhiều lần.

Ngoài ra, những cái cây còn phân biệt được rõ ai nói dối, ai đã làm điều ác trước mặt chúng, hay xúc cảm khi những sinh vật sống quanh chúng (động vật, vi khuẩn) bị tiêu diệt.

Ảnh qua thisiscolossal.com,
Phong Trần (t/h)

5 khám phá khoa học thách thức các định luật vật lý hiện có

Con người luôn luôn có khát vọng tìm hiểu những kiến thức mới. Tuy nhiên, có nhiều khám phá khoa học đã thách thức, thậm chí chống lại những lý thuyết của ngành vật lý hiện nay. Hãy cùng xem 5 ví dụ dưới đây…

5/ Mặt Trời có thể làm cho thứ khác nóng hơn chính nó

(Ảnh: Nasa)
(Ảnh: Nasa)

Chúng ta vẫn thường nghĩ rằng năng lượng sẽ di chuyển từ vật có mức năng lượng cao tới vật có mức năng lượng thấp hơn. Đó cũng là điều được nói đến trong định luật thứ hai của nhiệt động lực học. Cũng giống như trong thực tế, nếu bạn cảm thấy quá nóng vì đống lửa trại được đốt lên, bạn sẽ phải di chuyển xa đống lửa, không cần các nhà khoa học nói cho bạn rằng năng lượng nhiệt di chuyển từ vật nóng hơn sang vật lạnh hơn. Mọi nơi trong vụ trụ này đều như vậy, ngoại trừ Mặt Trời.

Có sự khác biệt giữa điều khoa học khẳng định và những gì thực sự xảy ra với Mặt Trời, đó là sức nóng của vầng hào quang xung quanh Mặt Trời (thường gọi là quang quyển).

Các dữ liệu thu được chỉ ra rằng, nhiệt độ của bề mặt Mặt Trời chỉ ở 5.500 độ C. Khi ánh sáng đi từ bề mặt của Mặt Trời đến tầng cách bề mặt chỉ vài trăm km, nhiệt độ của nó lên đến 1 triệu độ C. Về lý thuyết, nguồn nhiệt của Mặt Trời – là nơi xảy ra các phản ứng hạt nhân và plasma cần có nhiệt độ cao nhất chứ không phải khoảng chân chân không xung quanh nó. Đây là trường hợp một vật gây ra sức nóng lại lạnh hơn thứ mà nó thiêu đốt.

Về cơ bản, định luật thứ hai của nhiệt động lực học bị phá vỡ hoàn toàn khi ánh sáng rời khỏi Mặt Trời vài trăm km và chưa ai lý giải được nguyên nhân. Điều này vẫn gây đau đầu cho các nhà vật lý năng lượng Mặt Trời trên toàn thế giới kể từ khi họ phát hiện ra sự thực này vào năm 1939.

4/ Trong thế giới vi mô, lực hấp dẫn không còn tác dụng

(ảnh: cracked.com)
(ảnh: cracked.com)

Có những trật tự vẫn tồn tại bao năm trên thế giới: những con chó sói ăn thịt gà rừng, Trái Đất quay quanh Mặt Trời và mặt trăng quay quanh Trái Đất, và lực hấp dẫn nghiễm nhiên được công nhận trên mặt đất này.

Nhưng khi bạn quan sát thế giới ở gần hơn, lực hấp dẫn dường như có vai trò rất nhỏ. Chà một quả bóng trên áo len và cho nó lướt qua một mảnh giấy, các điện tích trên áo len được chuyển sang quả bóng sẽ hút các mảnh giấy rời khỏi mặt bàn, vượt qua sức kéo lực hấp dẫn của Trái Đất.

Vậy mà, cũng cái lực hấp dẫn đó lại có thể giữ Mặt Trăng quay quanh Trái Đất ở khoảng cách trung bình lên tới 382.500 km.

Khi xem xét thế giới vi mô, lực hấp dẫn là lực yếu nhất trong 4 loại lực cơ bản của tự nhiên (bao gồm lực tương tác mạnh, lực tương tác điện từ, lực tương tác yếu và lực hấp dẫn), nhưng lại hoạt động ở khoảng cách xa.

Trong bài toán hệ thứ bậc khối lượng liên quan đến hạt Higgs của vật lý hạt, lực hấp dẫn có xu hướng phá hủy các hệ thứ bậc khoa học, bởi vì khi càng quan sát gần hơn, lực hấp dẫn dường như càng biến mất. Trong vật lý hạt, lực hấp dẫn nhỏ hơn lực tương tác yếu 10^32 lần.

(Ảnh: old.nvinoticias.com)
(Ảnh: old.nvinoticias.com)

Khối lượng của Trái đất là 5,97 x 10^24 kg, nó tạo ra lực rất lớn và tác động lên mọi vật, giúp mọi vật đứng trên bề mặt Trái Đất. Tuy nhiên những điện tích nhỏ bé, có trọng lượng vô cùng nhỏ vương trên chiếc áo len lại có thể chiến thắng lực hấp dẫn của Trái Đất, điều này cũng tương tự như một đứa trẻ còi cọc có thể nâng cả tòa nhà cao tầng vậy.

3/ Vệ tinh tăng tốc độ không có lý do

(ảnh: cracked.com)
(ảnh: cracked.com)

Định luật bảo toàn năng lượng phát biểu rằng năng lượng không thể được tự sinh ra và tự mất đi, nó chỉ chuyển từ hệ này sang hệ khác. Vì vậy, nếu không được thêm năng lượng, sẽ không bao giờ một hệ có được nhiều năng lượng hơn so với năng lượng ban đầu.

Tuy nhiên, trong một số trường hợp định luật này không còn đúng nữa. Có một số báo cáo đã chỉ ra rằng, trong không gian vũ trụ, khi một vật thể bay ngang qua Trái Đất, tốc độ của nó tự dưng lại tăng lên mà không rõ lý do.

Hiện tượng này được gọi là “bay ngang bất thường”, nó đã xảy ra với một số tàu vũ trụ của NASA như Galileo, NEAR, Pioneer 10 và Pioneer 11. Các tàu vũ trụ này đã trải qua hiện tượng gia tăng tốc độ không thể giải thích khi chúng đang đi qua Trái đất ở một khoảng cách đủ xa, không bị ảnh hưởng bởi lực hấp dẫn. Điều này xảy ra giống như có một lực từ vũ trụ tác động lên hệ thống tăng tốc của các con tàu.

Điều bất thường này được phát hiện đầu tiên vào năm 1980. Các nhà khoa học đã dành nhiều năm tiếp theo để cố gắng tìm hiểu điều gì đang xảy ra. Họ đã xem xét tất cả các loại năng lượng mà con người đã từng khám phá, cho đến nay, không có lời giải thích nào được đưa ra.

2/ Định luật bảo toàn năng lượng không đúng với hố đen?

(ảnh: cracked.com)
(ảnh: cracked.com)

Hãy tưởng tượng rằng bạn có một chiếc xe tải đồ chơi, bạn đập vỡ nó ra từng mảnh với một cái búa. Tổng khối lượng của chiếc xe không đổi, nó chỉ biến thành từng mảnh vỡ. Nhưng khi bạn nâng búa của mình từ đống mảnh vỡ sau sau nhát đập cuối cùng, bạn thấy rằng các mảnh vỡ đã hoàn toàn biến mất.

Bạn biết điều này không thể xảy ra vì mọi vật không thể tự sinh ra hoặc tự mất đi. Vì vậy, vào cuối bộ phim kẻ hủy diệt 2 (Terminator 2), khi người máy T-1000 rơi vào bể quặng nóng chảy, hồ quang phát sáng và các thành phần nguyên tử của người máy T-1000 bơi quanh bể quặng một cách tuyệt vọng trước khi chúng biến mất. Điều tương tự cũng xảy ra khi một tiểu hành tinh bị hút vào một hố đen. Mặc dù chúng ta không thể nhìn thấy bên trong hố đen, chúng ta có thể nói tiểu hành tinh đó không bị phá hủy bởi vì khối lượng của hố đen đã tăng thêm bằng một tiểu hành tinh. Điều này cũng tương tự như diễn biến của phim kẻ hủy diệt. Nhưng khi một hố đen bốc hơi, các nhà khoa học sẽ đặt câu hỏi, điều gì đã xảy ra với các thứ mà hố đen đã nuốt trước đó?

(Ảnh: Nasa)
(Ảnh: Nasa)

Chúng ta biết rằng hố đen bốc hơi theo thời gian, “bốc hơi” có nghĩa là “biến mất, không tồn tại” cùng với tất cả mọi thứ nó đã hút vào. Vẫn chưa có một sự giải thích khoa học rõ ràng của sự việc này. Nhưng hãy giả thiết rằng khi các hố đen bốc hơi, tất cả vật chất bị nó hút sẽ bay ra theo hình thức bức xạ. Nhưng nhà khoa học Stephen Hawking cho rằng hố đen chỉ phát ra các bức xạ năng lượng nhiệt ngẫu nhiên.

Theo cách hiểu của người không có chuyên môn: nếu bạn thấy mình đang ở vị trí bị lỗ đen hút vào, bạn biến mất hoàn toàn, và bằng chứng về sự tồn tại của bạn cũng sẽ biến mất.

Nếu ta ném người máy T-1000 vào một lỗ đen, và các người máy phải đi ngược thời gian trước khi điều đó xảy ra, nhưng T-1000 sẽ không tồn tại trong thời gian đó. Ngay cả với việc du hành thời gian, vũ trụ cũng không biết phải đưa nó trở lại bằng cách nào vì hố đen đã nuốt chửng và làm nó tan biến.

1/ Các hạt vi mô biết được khi nào chúng bị quan sát

(ảnh: cracked.com)
(ảnh: cracked.com)

Zeno (496 – 430 TCN), nhà triết học sinh ra và lớn lên tại thành phố Elea, miền Tây Nam nước Ý ngày nay, trước khi chết đã để lại 3 nghịch lý. Trong đó, nghịch lý thứ ba được mang tên “Mũi tên bay” nói rằng: Một mũi tên đang bay sẽ đứng yên nếu ta quan sát nó ở từng khoảnh khắc riêng lẻ, do đó mũi tên không hề di chuyển gì cả.

Khoảng năm 1200, triết gia người Ý Thomas Aquinas đã chứng minh được nghịch lý này là sai. Tuy nhiên, với thế giới lượng tử, có vẻ như Zeno đã đúng. Hiện nay đã có một số thí nghiệm phát hiện rằng hiệu ứng Zeno lượng tử là có thật.

Uranium là nguyên tố không ổn định và phân rã theo thời gian, quá trình này gọi là phân rã phóng xạ. Nhưng các nhà khoa học ở Texas đã phát hiện rằng: sự phân rã uranium sẽ diễn ra một cách bình thường nếu họ không quan sát chúng. Nhưng bất cứ khi nào họ quan sát chúng, quá trình phân rã uranium sẽ không diễn ra như dự tính.

Sau hai ngày quan sát mà không thấy sự phân rã uranium như lẽ thường, phòng thí nghiệm đã báo cáo phát hiện của họ cho các phòng thí nghiệm khác. Các phòng thí nghiệm khác cũng tiến hành thử nghiệm việc quan sát uranium một cách nghiêm ngặt và chặt chẽ. Nhưng tất cả đều có cùng một kết quả: một số nguyên tử uranium sẽ không phân rã nếu ta quan sát chúng.

Hiện tượng này thách thức quy luật entropy nhiệt động lực, cũng như quan niệm thông thường. Phải chăng ý thức của chúng ta có vai trò gì đó trong việc ngăn cản các đồng vị phóng xạ phân rã, hay chúng ta có thể dừng thời gian khi quan sát các hạt vi mô này?

Ở mức độ lượng tử, nồi nước sẽ không sôi nếu bạn quan sát nó (Ảnh: youtube)
Ở mức độ lượng tử, nồi nước sẽ không sôi nếu bạn quan sát nó (Ảnh: youtube)

Có thể thấy, 5 nghịch lý này chủ yếu xảy ra ở 2 khu vực: vĩ mô (vũ trụ) và vi mô (các hạt nguyên tử, phân tử). Do đó có thể nói rằng, các quy luật mà chúng ta đã từng biết sẽ có thể không còn đúng khi tăng phạm vi ra cực đại, hoặc cực tiểu. Khám phá vũ trụ to lớn và thế giới nano siêu nhỏ vẫn luôn là 2 phương hướng tiên phong trong khoa học của con người, ở đó vẫn còn vô số những điều bí ẩn.

Thiện Tâm tổng hợp

Xem thêm :

Tu luyện – một nền khoa học bị lãng quên

Thử kể một chuyện cười:

Bằng phương pháp “Đồng vị phóng xạ”, một nhóm các nhà khảo cổ tiến hành khai quật tại 3 nơi được coi là có cùng niên đại 600 năm: (Moscow) Nga, Washington, D.C (Mỹ) và Ninh Bình (Việt Nam).

  • Địa điểm 1: tại Nga họ tìm được mấy mẩu dây đồng, họ kết luận: 600 năm trước người Nga đã có biết sử dụng điện thoại hữu tuyến sợi đồng.
  • Địa điểm 2: ở Mỹ tìm được nhiều mảnh thủy tinh có dạng sợi, họ cho rằng: 600 năm trước ở Mỹ đã có cáp quang.
  • Địa điểm 3: ở Việt Nam, các nhà khảo cổ đào bở hơi tai mà không thấy gì. Họ khẳng định: 600 năm trước, ở Việt Nam đã có mạng… không dây.

Câu chuyện cười trên có lẽ nhiều người đã từng đọc qua, nghe thì có vẻ hài hước, nhưng nó nói lên 2 điều rất quan trọng trong giới khảo cổ:

1/ Nếu chỉ vài chục năm trước, chúng ta chưa biết tới công nghệ không dây, thì kết luận đối với địa điểm thứ ba sẽ là “xã hội sơ khai lạc hậu” chứ không phải “mạng không dây” tiên tiến cao cấp. Như vậy, phán xét khảo cổ là dựa trên so sánh với hiểu biết của khoa học đương thời.

2/ Nếu khi khai quật không tìm thấy dấu tích của máy móc hiện đại, liệu kết luận sẽ là một xã hội phát triển cao cấp hay nguyên thủy? Đánh giá khảo cổ còn dựa trên niềm tin chủ quan, cái khung nhận thức của nhà khảo cổ.

Dưới khung thời gian biểu của giới khảo cổ hiện nay, nhân loại chỉ phát triển theo một đường thẳng từ thấp lên cao, từ nguyên thủy săn bắt hái lượm, dần dần cho đến chúng ta hiện nay là “đỉnh cao” của nền văn minh. Nhưng hiện nay khoa học đã ngày càng phát triển, cộng với đó là những khám phá khảo cổ mới, cho thấy đã từng có những nền văn minh cổ đại phát triển vượt xa chúng ta, công nghệ của họ đúng là một loại “mạng không dây” như trong câu chuyện bên trên nhắc tới.

Dưới đây chúng ta sẽ bàn về 2 nền văn minh nổi tiếng và thảm họa mà họ đã phải đối mặt để thấy được cả một nền khoa học bị lãng quên.

Thành phố Atlantis và sự chuyển giao công nghệ

Hình vẽ mô phỏng thành phố Altantis, thủ phủ của lục địa Atlantis (ảnh: atlantisbolivia.org)

Câu chuyện xưa cũ về thành phố Atlantis chìm dưới đáy biển là một trong những truyền thuyết lâu đời nhất mà con người từng biết đến. Nhưng ở thời điểm hiện tại, chúng ta có thể khẳng định khá chắc chắn về sự tồn tại của Atlantis, kèm theo vị trí chính xác của thành phố cổ đại này.

  • Theo lời kể của nhà triết học Hy Lạp Plato, thời gian mà Atlantis bị hủy diệt là năm 9.600 TCN. Đây cũng là thời điểm xảy ra Trận lũ băng tan 1B (Meltwater pulse 1B). Khi đó, nước biển tăng mạnh vào cuối kỷ Dryas Trẻ, khi các tảng băng ở Bắc Âu và Bắc Mỹ rung chuyển và tan vào đại dương.
  • Vị trí của thành phố Atlantis – thủ phủ của lục địa Atlantis là ở bình nguyên Altiplano tại Bolivia. Altiplano là vùng đất không chỉ đáp ứng 24 tiêu chí về Atlantis mà nhóm các nhà khoa học tại hội nghị Milos Atlantis 2005 đưa ra, mà còn phù hợp với 50 đặc điểm mà Plato đề cập đến trong mô tả của của ông về Atlantis. [1]
Bình nguyên Altiplano ở Bolivia nằm trên dãy núi Andes ở Nam Mỹ (ảnh: atlantisbolivia.org)
Thành phố Altantis nằm trên phế tích Pampa Aullagas, ngay cạnh bình nguyên Altiplano, cách biển (hồ Poope) 2,5km (ảnh: atlantisbolivia.org)
Mảnh ghép vẽ bản đồ Thế giới Mới của Sebastian Münster, phiên bản thứ 2, năm 1961, có tên “Insula Atlantica” – “Đảo Atlantic” (ảnh: atlantisbolivia.org)
Chi tiết bản đồ của Münster chỉ rằng “Thế giới Mới” là “Đảo Atlantic”, cũng được biết đến như Brasil và Mỹ” (ảnh: atlantisbolivia.org)
  • Các di chỉ đá và hóa thạch sinh vật biển quanh hồ Titicaca, khu vực Peru và Bolivia đều cho thấy từng có một nền văn minh rất tiên tiến đã từng có mặt ở đây và bị nhấn chìm bởi Đại hồng thủy.

Như vậy, các bằng chứng về Atlantis đã khá đầy đủ.

Năm 9.600 TCN còn là thời điểm bắt đầu xây dựng một công trình cự thạch quy mô lớn còn lưu lại đến ngày nay. Đó là ngôi đền Gobekli Tepe ở Thổ Nhĩ Kỳ. Nếu xét trên khung thời gian biểu của giới khảo cổ, nó xuất hiện vào thời săn bắt hái lượm, trước khi xuất hiện thành thị hay nền văn minh. Vậy mà đây lại là một dự án quy mô lớn với nhiều vòng tròn đá khổng lồ, các khối cự thạch 40-60 tấn – chắc chắn phải có công nghệ, kỹ năng tổ chức cao cấp, quản lý nhân công, quy hoạch… Tất cả đều không phù hợp với bức tranh về thời đó.

(ảnh: Shutterstock)

Năm 9.600 TCN cũng là thời điểm nông nghiệp bỗng xuất hiện trong lịch khảo cổ của Thổ Nhĩ Kỳ, đã phát triển hoàn thiện một cách kỳ lạ dù trước đó không có dấu hiệu gì. Do vậy, ngôi đền Gobekli Tepe hẳn không phải là do ai đó bỗng dưng phát minh ra kiến trúc cự thạch và nông nghiệp giữa xã hội săn bắn hái lượm ở Thổ Nhĩ Kỳ khi đó. Theo nhà nghiên cứu nổi tiếng Graham Hancock, đây nhiều khả năng là một sự chuyển giao công nghệ từ những người sống sót trong một nền văn minh đã thành thục các kỹ năng cần thiết. Họ có thể đã dạy lại cho những người bạn ở vùng đất mới.

Vậy phải chăng những người sống sót trong thảm họa Atlantis đã cố gắng ghi lại dấu tích hay thậm chí phục dựng lại nền văn minh của họ? Graham Hancock cho rằng, rất có thể là vậy. Họ đã không thành công lắm, nhưng họ cũng đạt được những kết quả nhất định. Họ đã có một công trình khổng lồ kỳ vĩ lưu lại thông điệp cho hậu thế và mang ngành nông nghiệp tới vùng đất hoang sơ.

Bài học của Atlantis

Theo lời kể của Plato, thành phố Atlantis từng sở hữu nền văn minh cao cấp, nền nông nghiệp phát triển, tàu của họ đi khắp thế giới. Người dân Atlantis từng rất cao thượng và tài ba, họ đã xây những công trình to lớn và phát triển kiến thức uyên thâm trong mọi lĩnh vực, trở nên rất thịnh vượng và hùng mạnh. Nhưng rồi, sự suy đồi đã len lỏi vào xã hội làm họ trở nên xấu xa và tham lam. Họ bắt đầu truy cầu và lợi dụng quyền lực trên thế giới.

Plato nhấn mạnh rằng: Atlantis đã không còn hưởng thụ thịnh vượng với sự điều độ nên có.

Sự ngạo mạn đã làm cho Atlantis trở nên quá tự mãn, để rồi sau đó vũ trụ đã làm cho nó sụp đổ. Đại hồng thủy và động đất đã dìm thành phố sâu xuống lòng đại dương.

‘Con người phải bắt đầu lại, như những đứa trẻ không có ký ức của quá khứ’ – Plato

Rõ ràng, câu chuyện Atlantis là một bài học cho nền văn minh hiện đại. Chúng ta nên bỏ sự kiêu ngạo sang một bên và thôi tự mãn với các thành tựu công nghệ của mình.

Chúng ta thực sự có lẽ nên xem lại thái độ của mình đối với những câu chuyện lịch sử của tiền nhân. Giới hàn lâm đã quá nhanh chóng phủi tay và cho rằng họ đã hiểu biết tất cả mọi thứ, rằng chẳng còn gì bí ẩn trong câu chuyện đó. Nhưng tư duy đó sẽ ngăn chúng ta tìm hiểu sâu hơn. Chúng ta nên lắng nghe các manh mối của quá khứ dẫn đến các nền văn minh to lớn.

Không chỉ Atlantis, đối với các nền văn minh, các thành phố hay quốc gia trong lịch sử như Ai Cập cổ đại thời Cleopatra VII, Babylon cổ đại, Pompeii…[3], một mô-típ cứ lặp đi lặp lại:

Khi đạo đức suy đồi, xã hội sẽ bị diệt vong

Nếu đạo đức là một yếu tố tinh thần, thuộc về văn hóa, cách hành xử giữa người với người, vì sao sự sụp đổ của nền văn minh luôn gắn với đạo đức bị suy đồi? Câu chuyện về một nền văn minh cận đại hơn sẽ giúp lý giải câu hỏi này.

Đại Vũ trị thủy và sự chuyển giao công nghệ

Thời của Noah khi mà trận Đại hồng thủy xảy ra, theo tính toán dựa vào Kinh thánh, thì vào khoảng năm 2304 TCN (+/- 11 năm) [4]. Khi đó ở phương Đông cũng chính là thời của vua Thuấn và truyền thuyết Đại Vũ trị thủy. Đại Vũ sinh năm 2297 TCN, là người lập ra triều nhà Hạ.

Đại Vũ cùng những người giúp đỡ ông trị thủy (ảnh: Internet)

Truyền thuyết nói rằng cách đây khoảng bốn ngàn năm, thần nước đã giận dữ và mở một cái lỗ lớn ở trên trời làm mưa đổ trút xuống như sông, dâng cao đến hai nghìn mét, làm ngập Trái Đất qua rất nhiều năm. Khi Đại Vũ lớn lên và nhìn thấy người dân đau khổ khủng khiếp vì nước lũ, ông đã quyết định kiềm chế nó. Đại Vũ đã bỏ 13 năm cố gắng kiềm chế lũ, đã bao bọc được một khoảng rất rộng lớn, làm cơ sở cho nền văn minh Trung Hoa sơ khai phát triển.

Lịch sử đã đi qua, chỉ lưu lại rất ít dấu vết để chúng ta có thể xác nhận chắc chắn những câu chuyện cổ. Nhưng những khám phá khảo cổ mới đã cung cấp thêm bằng chứng:

  • Hàng trăm truyền thuyết ở khắp thế giới đều giống nhau một cách kinh ngạc khi nói đến trận Đại hồng thủy.
  • Tàn tích của con tàu Noah đã được tìm thấy tại Thổ Nhĩ Kỳ [6]
Con tàu nằm ở độ cao gần 2.000m thuộc dãy núi Ararat, gần biên giới Iran – Thổ Nhĩ Kỳ.
  • Dưới lòng đất có thể tồn tại những đại dương lớn, đây rất có thể chính là nơi nước đã rút đi sau Đại hồng thủy.
  • Có nhiều thành phố cổ đại chìm dưới đáy đại dương, được tìm thấy khắp nơi trên Trái Đất. Chúng có tuổi thọ hàng nghìn năm, cho thấy chắc chắn chúng đã được xây dựng từ khi mà mực nước còn rất thấp.
  • Ở Trung Quốc, bằng chứng về một trận lũ khủng khiếp vào thời đại của Đại Vũ cũng được tìm thấy.

Như vậy, ít nhất chúng ta đã có một vài sự trùng khớp giữa khoa học hiện đại và các truyền thuyết cổ đại. Rốt cuộc chỉ là vấn đề người ta có tin hay không mà thôi.

Câu chuyện ở Trung Hoa nói lên rằng, ít nhất đã có một nhóm người ở các vùng núi cao nơi đây đã sống sót qua thảm họa. Trong khi ở phương Tây, nền văn minh phải phát triển lại từ đầu.

Câu chuyện Đại Vũ giải thích vì sao trong nền văn hóa phương Đông cổ đại, vẫn còn rất nhiều kiến thức cao thâm như Thái Cực, Hà Đồ, Lạc Thư, Chu Dịch, Bát Quái… mà đến khoa học hiện đại vẫn còn chưa lý giải hoàn toàn được.

Cũng giống như trường hợp của Atlantis, đó chính là những tinh hoa của khoa học trong nền văn minh trước, đã được những người sống sót truyền lại, một nền khoa học siêu thường, rất khác so với nền khoa học duy vật ngày nay. Nhưng thật ra đó chính là những lời dạy rất quen thuộc trong nền văn hóa phương Đông.

Nền khoa học siêu thường chú trọng đạo đức

Thời cổ đại mấy nghìn năm trước, người Trung Hoa thường giảng rằng khi làm việc cần phải bình tâm tĩnh khí, chú trọng tới điều hòa hơi thở, thậm chí người đi học ở trường cũng cần biết thiền định, chú trọng tu tâm dưỡng tính.

Các ngành các nghề thời Trung Hoa cổ đại cũng đều giảng phải coi trọng đạo đức. Trong lĩnh vực sáng tác văn học có tôn chỉ rằng, coi trọng đức là yêu cầu đứng đầu nhất. Ở phương diện sáng tác âm nhạc cũng coi đạo đức là cái gốc của nội tâm con người, âm nhạc là sự thăng hoa của đạo đức. Ở phương diện trị quốc cũng nêu cao việc phải coi trọng đức, tiết chế tài chính, tuyển dụng người hiền đức…

Ngày nay, có rất nhiều thành quả nghiên cứu khoa học chỉ ra rằng, sức mạnh của đạo đức là không chỉ ở cảm nhận mà còn “chạm” đến được, bởi vì:

Vật chất và ý thức là một thể thống nhất.

Phàm là lời nói hay việc làm mà phù hợp với chuẩn tắc đạo đức thì đều có thể sản sinh ra tác dụng tích cực đối với mọi vật chất trong thế giới này.

Người phương Đông cổ đại từ lâu đã đúc kết điều này thành những lời khuyên thực tế: “Tướng do tâm sinh, cảnh tùy tâm chuyển”. Nó mang hàm nghĩa vô cùng sâu sắc, và ngầm chỉ ra rằng điều then chốt để vượt qua bất cứ hoàn cảnh khó khăn nào chính là ở tâm thái, vạn sự thành bại đều là ở tâm niệm, do đó cần luôn giữ cho tâm tĩnh lặng, hòa ái, từ bi… Vận mệnh của một người có thể được cải biến cho tốt hơn nếu “tâm” của người đó thay đổi tích cực hơn.

Hiện nay nền khoa học phương Tây đang ở ngưỡng cửa nghiên cứu về ý thức và các siêu năng lực của con người.

Bắt đầu từ “cuộc cách mạng lượng tử” khoảng 70 năm về trước, nhiều nhà khoa học đã tìm ra sự tương đồng đáng ngạc nhiên giữa các kết quả nghiên cứu của họ và một số bí ẩn hay gặp trong tôn giáo. Heisenberg, Bohm, Schrodinger, Eddington, Einstein – những nhà khoa học nổi tiếng – tất cả đều có quan điểm rằng thế giới là huyền bí và thuộc về tinh thần.

Theo nhà nghiên cứu tâm thần nổi tiếng David Hawkins (Hoa Kỳ), tùy theo cảnh giới tinh thần mà mỗi người có một tần số rung động khác nhau, từ 1-1000 Hz. Sự đau khổ, tuyệt vọng và oán thán có tần số thấp, khiến người ta mang bệnh, và ngược lại, hòa ái từ bi có tần số cao khiến mọi người khỏe mạnh, hạnh phúc. Điều này chẳng phải một cách nói khác của câu “tướng do tâm sinh, cảnh tùy tâm chuyển”?

Các cảnh giới khác nhau có năng lượng khác nhau

Như vậy, khoa học ngày nay đã đủ để lý giải một số khía cạnh trong những kiến thức cổ xưa. Nhưng để tiến xa hơn, chúng ta còn phải xét tới một bộ phận rất quan trọng mà nhiều tín ngưỡng đều nhắc đến:

Con mắt thứ ba – phương tiện của khoa học cổ đại

Để nhận thức vũ trụ, người xưa đã biết khai mở “con mắt thứ ba” – vốn là một bộ phận có sẵn trong cơ thể con người. Con mắt này, vốn nằm tại thể tùng quả trong bộ não, có khả năng vượt xa đôi mắt thông thường.

Thể tùng trong bộ não người (ảnh: Telese Winslow)

Đã từ lâu, các nhà khoa học đã nhận ra sự tương đồng giữa thể tùng và con mắt. Nhiều người trong số họ cho rằng thể tùng chính là một con mắt thoái hóa. Năm 1919, Frederick Tilney và Luther Fiske Warren trong một báo cáo đã công bố những đặc điểm tương đồng giữa thể tùng và con mắt người, khiến nó nhạy cảm với ánh sáng cũng như có các khả năng thị giác khác.

Cuốn tự truyện có tựa đề “The Third Eye” (Con mắt thứ ba) của lạt ma Tây Tạng Lobsang Rampa đã diễn tả cuộc phẫu thuật được tiến hành tại vị trí ấn đường (chỗ giao của hai hàng lông mày) của ông, giúp khai mở một số năng lực siêu thường chưa từng có trước đây.

Những người thực hành tu luyện còn cho rằng con mắt thứ ba của trẻ em từ 6 tuổi trở xuống rất dễ được khai mở và nhìn rất rõ ràng do các bé rất ngây thơ và trong sáng. Thanh niên trưởng thành rất khó khai mở mắt thứ ba do ham muốn vào “thất tình lục dục” của họ là rất lớn. Giải thích này khá trùng hợp với phát hiện của giới khoa học: trẻ em dưới 6 tuổi thì thể tùng ít bị vôi hóa, còn thanh niên trưởng thành hầu hết có thể tùng bị vôi hóa. Điều này có thể lý giải tại sao chỉ các nhà sư đắc đạo, các lạt ma Tây Tạng hay những người tu luyện tâm tính một cách chân chính mới có thể sở hữu những năng lực siêu thường.

Những người thực hành tu luyện có các phương pháp khai mở con mắt này. Khi đó, tùy theo đặc điểm của từng người mà họ có thể có thể xuất hiện những năng lực đặc biệt như: nhìn thấy các cảnh tượng từ xa (dao thị), nhìn thấy được quá khứ và tương lai (túc mệnh thông), thậm chí đọc được ý nghĩ người khác (tha tâm thông)… Trong các câu chuyện cổ của Phật giáo đều có ghi lại các khả năng này, mà hiện nay nhiều nghiên cứu khoa học cũng đã xác nhận được.

Chính vì sở hữu những năng lực siêu thường như vậy, nên thời Trung Hoa cổ đại, kiến thức đã đạt đến mức rất cao và uyên thâm.

3 quyển sách “Thiên – Địa – Nhân”

Cổ thư còn ghi chép lại, các kiến thức cao thâm được sáng tạo ra trong thời cổ đại Tam Hoàng Ngũ Đế mà Đại Vũ là vị vua cuối cùng của thời đó. Tam Hoàng chỉ Phục Hy, Nữ Oa và Thần Nông. Ngũ Đế là Hoàng Đế, Viêm Đế, Nghiêu, Thuấn, Vũ.

Thần Nông, thủy tổ của nông nghiệp và Đông y (tranh vẽ qua Epoch Times)

Có thể kể tới 3 quyển sách “Thiên – Địa – Nhân” xuất hiện trong thời đại này mà còn truyền tới ngày nay. [13]

“Kinh Dịch” được ví là Thiên Thư, cuốn sách này có thể tương thông với Trời, Thần và tương lai, từ cổ chí kim nó đã triển hiện khả năng dự đoán thần kỳ, chứa đựng nội hàm bác đại tinh thâm. Thiên Đạo được giảng trong sách chính là khởi nguồn của văn hóa, nó chỉ ra quy luật của vũ trụ, trong chớp mắt có thể nhìn thấu thế gian, 64 quẻ trong Kinh Dịch bao quát hết thảy mọi thứ trên thế giới, bao gồm cả sự phát triển của công nghệ thông tin ngày nay.

“Sơn Hải Kinh” được ví là Địa Thư, ghi chép lại địa lý toàn cầu, từ trước trận đại hồng thủy quyển sách đã đề cập đến bốn biển năm châu. Trong “Sơn Hải Kinh”, “Hải Nội Kinh” là phần viết về địa lý Trung Hoa, còn “Hải Ngoại Kinh” là phần viết về địa lý toàn cầu. Các chuyên gia khoa học đều xác thực điều này, quyển sách đã triển hiện ra một thời đại thần kỳ, khoa học kỹ thuật lúc đó phát triển hơn bây giờ rất nhiều. Hơn nữa, quyển sách còn ghi lại những đặc tính, Thần tính và hình thái của sinh mệnh ở các vùng địa lý khác nhau tại thời kỳ đó.

“Hoàng Đế Nội Kinh” được ví là Nhân Thư – quyển sách khởi nguồn của trung y. “Nội Kinh” mô tả rất chi tiết từ âm dương ngũ hành, cho đến kinh lạc của thân thể người. Mọi người đều là lương y, đều có khả năng tự bảo vệ sức khỏe của mình, nếu dùng để trị bệnh cho người khác thì cũng rất dễ dàng. Những ghi chép về kinh lạc được viết trong Hoàng Đế Nội Kinh thì khoa học ngày nay mới chỉ chứng minh được sự tồn tại , tuy nhiên Đông y đã tiến hành trị bệnh bằng châm cứu và thuốc bắc từ hàng ngàn năm nay, đều dựa theo nguyên lý âm dương và kinh lạc.

Kinh lạc là những lạp tử vật chất vi quan hơn tế bào và phân tử, khoa học hiện đại khó có thể phát hiện ra. Nhưng thời xa xưa, rất nhiều người đã khai mở thiên mục (con mắt thứ ba), như Kỳ Bá (nhân vật trong Hoàng Đế Nội Kinh) có thể nhìn thấy kinh lạc trên cơ thể người và, tất nhiên có thể dễ dàng vẽ lại những kinh lạc đó.

Thời bấy giờ có rất nhiều người am hiểu dưỡng sinh, biết thiên Đạo, hiểu được đạo lý âm dương, và hợp với yêu cầu của thuật số trong trời đất, ăn uống đều có chừng mực, làm việc và nghỉ ngơi có quy luật, không làm quá sức mình, tinh thần và thể chất của họ có thể được giữ vững, vì vậy mọi người đều sống lâu.

Nhân loại hiện đại đã đạt được nhiều thành tựu trong y học nhờ vào nghiên cứu sinh học phân tử; hiện tại sinh học nguyên tử cũng đang được xem xét. Vậy đến các hạt nhỏ hơn – sinh học proton, hạt nhân nguyên tử, nếu chúng ta làm chủ được sinh học ở mức độ hạt quark, neutrino thì sẽ thế nào? Hiện tại cũng có rất nhiều nghiên cứu nhằm kéo dài tuổi thọ con người, đều muốn nghiên cứu đến các tầng vi quan. Người cổ đại vận dụng thiên mục có thể tự mình nghiên cứu tới các hạt vật chất vi tế hơn, khả năng họ tìm ra cách kéo dài tuổi thọ là hoàn toàn khả thi.

Nói đơn giản thì “công nghệ” của người cổ đại còn mạnh hơn công nghệ nano mà chúng ta đang có gấp nhiều lần, chỉ là họ không sử dụng nhiều loại máy móc điện tử phức tạp mà thôi. Một loại “mạng không dây” như trong câu chuyện cười nói đến.

Thời kỳ này đa số là người thường nhưng cũng có rất nhiều người siêu thường, họ có thần thông quảng đại. Đối với con người hiện đại mà nói, điều này quả là huyền hoặc, nhưng người thời đó không cảm thấy kinh ngạc, đó là thời đại mọi người đều tin vào Thần, Thần tích thường xuất hiện không có gì kỳ lạ.

Nhờ các nghiên cứu về “con mắt thứ ba”, chúng ta đã lý giải được về một số khả năng siêu thường của con người, nhưng còn về Thần thì lý giải thế nào?

Lý giải về các vị Thần

Thần là ai? Là những sinh mệnh nắm giữ nền khoa học cực cao, có thể làm những điều mà con người không thể lý giải, nên đành gọi chúng là “phép màu”, huy động năng lượng vô cùng to lớn để thay đổi, biến hóa vật chất. “Công nghệ” của họ không dựa trên sự phát triển máy móc điện tử và vật lý cơ học, mà là dùng tinh thần để huy động năng lượng to lớn của lượng tử, không chỉ phân tử, nguyên tử, electron, quark, neutrino… mà chúng ta biết hiện nay, mà có thể còn đến tầng tầng các hạt vi tế hơn. Mà như chúng ta đã biết, hạt lượng tử càng vi tế thì năng lượng càng cao, do đó sức mạnh mà họ huy động được nằm ngoài sức tưởng tượng của con người hiện nay.

Đó là lý giải theo phương diện vật chất. Mà vật chất và tinh thần là thể thống nhất, do đó về tinh thần thì họ có đặc điểm là đạo đức cực kỳ cao thượng.

Thần Osiris và Isis của Ai Cập (ảnh: Internet)

Người Atlantis tín thờ thần biển Poseidon, các vương triều Ai Cập thờ thần Osiris, Isis và nhiều vị thần khác… Trong lịch sử của họ, những nhân vật này đều từng xuất hiện trên mặt đất và tạo lập ra nền văn minh. Trong nền văn minh của chúng ta, chẳng phải các thánh nhân như Giê-su, Phật Thích Ca, Lão Tử… cũng từng xuất hiện, đặt định ra các tôn giáo lớn và lưu lại rất nhiều câu chuyện màu nhiệm hay sao?

Chúng ta cần thoát khỏi cái khung tư duy của nền học thuật hiện nay thì mới nhìn ra được, bởi tu luyện là một hệ thống nghiên cứu hoàn toàn khác: không dựa trên duy vật thực chứng, mà là khoa học “tự chứng ngộ” (self-science – trải nghiệm thế giới nội tâm của bản thân) trong đó đặt ý thức, tinh thần vào trọng tâm nghiên cứu. Phương pháp của họ không phải dựa trên lập đi lập lại thí nghiệm nhiều lần trong phòng thí nghiệm, mà chính bản thân họ phải tự trải nghiệm (thiền định, tĩnh tâm, chứng ngộ…) và tu luyện chính mình trong quá trình đó.

Theo “Chuyển Pháp Luân” – cuốn sách chỉ đạo tu luyện từng đứng trong top 10 tác phẩm nổi tiếng nhất Trung Quốc những năm 1990, danh từ “Buddha” xuất phát từ tiếng Phạn, tiếng Ấn Độ cổ. Sau này khi Phật giáo truyền sang Trung Quốc, người ta dịch ra thành “Phật Đà” rồi lâu dần đọc gọn lại thành “Phật”. Ý nghĩa cổ xưa của nó chính là chỉ người đã tu luyện mà đạt được giác ngộ, là người đã hoàn thành quá trình tu luyện của mình. Ở đây hoàn toàn không có mang màu sắc mê tín hay tôn giáo nào cả.

Con người hiện đại có thể tu luyện hay không?

Người ta thường quan niệm rằng tu luyện thì phải xuất gia vào chùa, bỏ lại sau lưng tất cả những sự việc của cõi hồng trần; hoặc như các đạo sư hoặc lạt ma Tây Tạng trên núi tuyết, có thể ngồi thiền và sử dụng phương pháp hít thở mà ung dung tự tại trước sự khắc nghiệt của thiên nhiên… Họ chọn một con đường gian khổ như vậy không phải là không có lý do.

Tu luyện vốn không phải chuyện đơn giản, nhưng trong xã hội phồn hoa ngày nay, có lẽ chẳng mấy ai có thể đi theo con đường như vậy. Liệu có thể ngay giữa cuộc sống đời thường đầy cám dỗ, vẫn sinh hoạt nơi xã hội hiện đại mà thực hành tu luyện chân chính hay không?

Theo nguyên lý tu luyện giữa đời thường của Pháp Luân Công – một môn khí công Phật gia được truyền xuất ra tại Trung Quốc từ những năm 90 – căn bản của tu luyện là tu tâm tính. Đó là một quá trình mà người ta sẽ dần dần vứt bỏ các tâm chấp trước (tâm xấu) của mình, cũng là quá trình tu sửa bản thân: gặp bất kể vấn đề gì đều đối chiếu với tiêu chuẩn “Chân – Thiện – Nhẫn” để xét xem mình đã làm đúng chưa, mình còn chỗ nào làm chưa tốt, chứ không đổ lỗi hay tìm nguyên nhân ở bên ngoài. Sau này, khi gặp lại vấn đề, người tu luyện sẽ làm được tốt hơn. Trong xã hội đời thường, nếu ai ai cũng đều “tìm ở bản thân” để tu sửa như vậy, xã hội sẽ giảm đi rất nhiều xung đột, và đạo đức cũng sẽ nâng cao trở lại. Mỗi người đều tự ước thúc hành vi của chính mình thì có khi cũng không cần cảnh sát nữa.

Khoa học tu luyện – sợi chỉ xuyên suốt các nền văn minh

Không chỉ ở Trung Hoa cổ đại, khắp nơi trên thế giới đều lưu lại dấu tích của những người tu luyện. Họ chính là những người khai sáng văn minh, “những ảo thuật gia của Thượng Đế” mà nhà nghiên cứu Graham Hancock nhắc đến trong một quyển sách best-seller của ông.

Dấu tích đó chính là đồ hình chữ Vạn, tiếng Phạn gọi là Swastika, là biểu tượng chữ thập ngoặc 卍. Đồ hình này được hiểu theo tiếng Phạn có nghĩa là “phúc lộc, an khang, thành công, thịnh vượng”.

Không chỉ phổ biến trong một số tín ngưỡng phương Đông, chữ Vạn cũng từng là biểu tượng phổ biến trong văn hóa phương Tây. Hơn nữa, chữ Vạn đã từng là biểu tượng của các tín ngưỡng trong một số nền văn minh tiền sử đã bị hủy diệt.

Biểu tượng chữ Vạn được tìm thấy trên bức tượng hình chú chim tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Ukraine (ảnh: decacs-inc.com)

Những dấu tích khảo cổ này đã chứng minh rằng, từ hàng chục ngàn năm trước, đã xuất hiện các nền văn minh từng tồn tại trên thế giới và họ cũng tín ngưỡng các vị thần, trong đó có cả các vị Phật. Khi đó, biểu tượng chữ Vạn cũng là biểu tượng phổ biến của các nền văn minh này.

Tu luyện, đó cũng chính là lời giải cho ẩn đố sâu xa của cõi nhân sinh, là sợi chỉ xuyên suốt các nền văn minh từ cổ chí kim, là “công nghệ mạng không dây” của một nền khoa học bị lãng quên. Bởi vật chất và ý thức là một thể thống nhất, nên nhân loại chỉ có con đường đề cao đạo đức, thăng hoa tâm tính trong tu luyện mới có thể tiếp cận được bí ẩn của vũ trụ, thời gian-không gian và nhân thể. Đây có thể là con đường duy nhất và nhanh nhất mà khoa học thực chứng còn rất xa mới động chạm đến được.

Kỳ thực, càng biết về các nền văn minh tiền sử, chúng ta sẽ càng có một loại cảm giác ngậm ngùi. Năm tháng bể dâu, những gì đã từng là huy hoàng của cả một thời đại, giờ chỉ còn lưu lại một vài công trình đá hay các câu chuyện truyền thuyết mà thôi.

Trên thực tế, rất nhiều lời tiên tri nổi tiếng trên thế giới đều chỉ nói đến thời kỳ này của nhân loại rồi cũng sẽ chấm dứt. Nếu như không phải tất cả họ đều thông đồng để lừa chúng ta, thì sao họ lại đều chỉ nói đến cùng một thời đại ngày nay?

Vậy chúng ta nên làm gì? Có một câu nói của Trung Hoa cổ đại còn lưu lại:

Thời thịnh thế trữ đồ cổ, thời loạn thế mua vàng kim, thời mạt thế phải tu hành.”

Xem thêm :

Phong Trần, Thiện Tâm tổng hợp

Tài liệu tham khảo:

[1] Cuộc tìm kiếm thành phố Atlantis: Địa điểm duy nhất đáp ứng tất cả tiêu chí – Trí Thức VN

[2] The truth about Atlantis – Graham Hancock on London Real

[3] Xã hội dâm loạn và sự diệt vong của 3 nền văn minh cổ đại – Trí Thức VN

[4] The Date of Noah’s Flood – creation.com

[5] Đại Vũ trị thuỷ (chỉnh lý) – chanhkien.org

[6] Liệu có phải ‘con tàu của Noah’ đã được tìm thấy ở Thổ Nhĩ Kỳ? – Trí Thức VN

[7] Có thể tồn tại đại dương rộng lớn trong lòng Trái Đất – Trí Thức VN

[8] Tàn tích hùng vĩ của 5 thành phố cổ đại chìm sâu dưới đáy đại dương – Trí Thức VN

[9] Bằng chứng đầu tiên về cơn đại hồng thủy của Trung Hoa 4.000 năm trước – Trí Thức VN

[10] Vật chất và ý thức là một thể thống nhất – Trí Thức VN

[11] Age-related incidence of pineal calcification detected by computed tomography – R A Zimmerman, L T Bilaniuk – Radiology, 1/3/1982

[12] Thiền định có thể sản sinh siêu năng lực – Trí Thức VN

[13] Ngũ hành và lịch sử Trung Hoa – chanhkien.org

[14] Khoa học cuối cùng cũng chứng minh được sự tồn tại của kinh mạch – Trí Thức VN

[15] Sách Chuyển Pháp Luân

[16] Chữ Vạn của nhà Phật: Biểu tượng phổ biến trong các nền văn minh tiền sử