Chuyên mục: Chuyện Lạ

Loạt dấu chân khổng lồ trên tuyết, nghi là của quái vật Bigfoot

Người bình thường không thể đi giày tuyết thẳng hàng như vậy trong một quãng đường xa như vậy, chuyên gia nhận định.

Hàng loạt dấu chân khổng lồ bí ẩn vừa được phát hiện ở Mỹ, làm dấy lên nỗi lo rằng quái vật Bigfoot có thể đang ở rất gần.

Loạt dấu chân kéo dài tới hơn 800m được phát hiện trên lớp tuyết dày ở Sunnyslope, bang Washington, nước Mỹ.

Paul Graves, một mhà nghiên cứu quái vật Bigfoot (hay còn được gọi là quái vật chân to) nói rằng đây có thể là bằng chứng tìm kiếm bấy lâu nay cho thấy Bigfoot là có thật, The Sun đưa tin,

Paul Graves đo dấu chân bí ẩn trên tuyết.


Paul Graves đo dấu chân bí ẩn trên tuyết.

Theo quan sát của Graves, mỗi dấu chân khổng lồ dài khoảng 60cm, rộng 13cm ở gót, và dày 5cm.

Các dấu chân cách nhau từ 120-180cm (so từ gót chân sau và gót chân trước). Chúng kéo dài theo đường thẳng từ một vườn cây ăn quả, qua cánh đồng và kênh thủy lợi.

Một số người suy đoán rằng dấu vết này có thể chỉ là người bình thường đi giày đi tuyết.

Tuy nhiên, ông Graves bác bỏ giả thuyết trên và nói: “Đó không phải là người đi giày tuyết. Bạn không thể đi giày tuyết thẳng hàng như vậy trong một quãng đường xa như vậy”.

Theo ông Graves, đây không phải dấu chân của con người.


Theo ông Graves, đây không phải dấu chân của con người.

Ông tin rằng tất cả các dấu hiệu trên cho thấy đây là dấu chân của một “người khổng lồ”.

“Nếu đây là một hiện trường giả mạo thì những dấu chân phải đều nhau”, ông Graves nói, củng cố giả thuyết của mình. “Đây là đường nét của dấu chân của sinh vật sống”.

Dấu chân bí ẩn được phát hiện bởi Roy Bianchi, một người tin rằng Bigfoot có thật. “Tôi biết đây là dấu chân Bigfoot”, ông Bianchi nói.

Từ hàng nhiều thế kỷ qua, người dân trên thế giới, đặc biệt là Mỹ, đã nhiều lần kể lại những phát hiện của họ về Bigfoot, một sinh vật thần thoại. Hầu hết họ khẳng định Bigfoot cao từ 2-3m, với những đặc điểm giống khỉ đột.

Từ hàng nhiều thế kỷ qua, người dân trên thế giới, đặc biệt là Mỹ, đã nhiều lần kể lại những phát hiện của họ về Bigfoot


Từ hàng nhiều thế kỷ qua, người dân trên thế giới, đặc biệt là Mỹ, đã nhiều lần kể lại những phát hiện của họ về Bigfoot.

Quái vật Bigfoot là gì?Bigfoot, chân to hay sasquatch, là tên được đặt cho một loại sinh vật giống như khỉ mà một số người tin rằng sống ở rừng, chủ yếu ở Tây Bắc Thái Bình Dương của khu vực Bắc Mỹ.Bigfoot được mô tả trong báo cáo như một sinh vật như vượn lông lớn, cao khoảng 2-3m, trọng lượng hơn 230kg, và được bao phủ trong lớp lông màu nâu sẫm hoặc đen. Nhân chứng đã mô tả nó có đôi mắt to, trán thấp. Bigfoot thường được mô tả là mạnh mẽ, mùi khó chịu. Những dấu chân khổng lồ mà nó được đặt tên lớn 60cm và dài 20cm. Những người ủng hộ cho rằng Bigfoot là ăn tạp và chủ yếu hoạt động về đêm.

Xem thêm:

Categories: Chuyện Lạ

Chuyện kinh hoàng về cuốn sách giết người: Làn sóng tự tử vì đọc sách

Hơn 2.000 người đã tự tử chỉ trong một thời gian ngắn, tất cả bọn họ không có gì liên quan với nhau ngoài việc họ cùng đọc một cuốn sách.

Cách đây vài thế kỷ, châu Âu từng trải qua một làn sóng tự tử kỳ lạ. Hàng ngàn thanh niên được tìm thấy đã chết mà không có bất kỳ lý do rõ ràng nào.

Cuộc điều tra của nhà chức trách cho thấy tất cả bọn họ không hề có liên quan gì đến nhau, thậm chí cũng chưa hề gặp nhau khi còn sống. Thế nhưng họ đều mặc quần áo giống nhau và đều tự tìm cái chết bằng một khẩu súng.

Các nhà điều tra sau đó phát hiện ra một sự thật gây sốc – tất cả những nạn nhân đều đã đọc một cuốn sách bán chạy lúc bấy giờ, và cuốn sách vẫn còn phổ biến cho đến tận ngày nay.

Liệu các con chữ có thể gây ảnh hưởng tới con người đến mức mà hàng ngàn người đã quyết định tự tử sau khi đọc chúng? Điều gì đã thực sự xảy ra?

Năm 1774, Johann Wolfgang von Goethe (1749-1832), một trong những nhà văn lớn nhất của nước Đức xuất bản cuốn tiểu thuyết lãng mạn có tên là “The Sufferings of Young Werther” (tạm dịch “Nỗi đau của chàng Werther”).

Nhà văn Đức Johann Wolfgang von Goethe và tập bản thảo cuốn sách của ông.


Nhà văn Đức Johann Wolfgang von Goethe và tập bản thảo cuốn sách của ông.

Goethe chỉ mất bốn tuần để hoàn thành quyển sách của mình, nhưng chắc ông cũng chẳng ngờ sự tác động từ nó lại kéo dài và thảm khốc đến vậy.

Ảnh hưởng của Goethe đã từng trải rộng khắp châu Âu. Mãi cho đến thế kỷ tiếp theo, các tác phẩm của ông vẫn là một nguồn cảm hứng lớn trong âm nhạc, kịch, thơ và thậm chí là triết học. Thật không may, một trong số đó lại liên quan đến rất nhiều cái chết.

Cuốn tiểu thuyết kể về anh chàng nghệ sỹ trẻ Werther, người đã yêu một phụ nữ mà anh không thể nào có được. Lotte, người mà Werther dành cho tình yêu sâu sắc, đã đính hôn với một người đàn ông khác.

Và mặc dù cũng rất yêu Werther nhưng cô gái đã quyết định chung thủy với hôn phu. Quá thất vọng và đau khổ, chàng trai trẻ tự tìm giải thoát bằng cách bắn vào đầu mình.

Cuốn sách của Goethe đã nhanh chóng trở thành một trong những cuốn bán chạy nhất vào thời điểm đó. Những thanh niên châu Âu phát sốt với câu chuyện tình cay đắng, bởi vì nó phản ảnh rất nhiều điều mà họ thấy đồng cảm với cuộc sống của chính mình.

Những cảm xúc mãnh liệt, cả trong tình yêu và sự tuyệt vọng, của Werther đã chiếm được rất nhiều trái tim. Ngay cả Napoléon Bonaparte – vị Hoàng đế vĩ đại của nước Pháp – khi ra trận cũng luôn mang theo một cuốn bên mình?

Thế nhưng điều mà Goethe đã không lường trước là có quá nhiều thanh niên sẽ theo bước Werther. Đột nhiên, những vụ tự sát diễn ra liên tiếp khắc châu Âu.

Hình minh họa cảnh Werther tự sát trong câu chuyện.


Hình minh họa cảnh Werther tự sát trong câu chuyện.

Thi thể của những thanh niên trẻ tuổi với chiếc áo khoác màu xanh và quần màu vàng – cùng một thứ trang phục của anh chàng trong tiểu thuyết – được tìm thấy khắp nơi: trên đường phố, tại nhà và nhiều chỗ khác.

Tất cả đều được tìm thấy với một khẩu súng lục và một viên đạn trong đầu, cùng với một bản sao của cuốn tiểu thuyết nổi đình nổi đám thời điểm đó – “Nỗi đau của chàng Werther”.

Ảnh hưởng tiêu cực của cuốn sách đã trở thành một vấn đề nghiêm trọng. Thậm chí Giáo Hội cũng lên án cuốn sách và khuyên răn mọi người nên tránh xa. Đối với người Cơ Đốc, tự vẫn được coi là một trong những tội lỗi lớn nhất.

Lo sợ làn sóng tự vẫn có thể lây lan, một số nước châu Âu như Na Uy, Áo, Đan Mạch và cả một vài bang của Đức đã cấm cuốn sách.

Ngay cả Goethe cũng phải thừa nhận có điều gì đó đã sai lầm khủng khiếp. Trong lần xuất bản thứ hai, ông đã phải đưa ra cảnh báo cho độc giả. Ngay trên trang bìa, ông nhấn mạnh “Hãy là một người đàn ông, đừng theo bước chân tôi”.

Phải mất đến hai năm, “cơn sốt Werther” mới kết thúc. Sau đó, số vụ tự sát liên quan đến cuốn sách ngày càng giảm. Na Uy là quốc gia châu Âu cuối cùng xóa bỏ lệnh cấm đối với cuốn sách vào năm 1820.

Ngày nay, cuốn sách của Goethe được coi là một trong những tác phẩm văn học phổ biến nhất mọi thời đại. Các nhà sử học ước tính có khoảng 2.000 người đã tự tử sau khi đọc “Nỗi đau của chàng Werther”, chỉ trong hai năm sau khi nó được phát hành.

Đương nhiên, cuốn sách không thể “giết” tất cả những người kia, nhưng khi những nỗi khổ đau, tuyệt vọng mà nó đề cập đến, vô tình lại rất gần với hiện thực cuộc sống mà người đọc đang gánh chịu, nó trở nên có sức mạnh điều khiển tâm trí người ta.

Thế mới thấy sức mạnh của ngôn từ, trong từng trường hợp có thể trở nên vô cùng đáng sợ!

Xem thêm:

Categories: Chuyện Lạ

Xác ướp động vật gần 3.000 năm tuổi

Trong thế giới Ai Cập cổ đại, nhiều loài động vật cũng được ướp xác, bọc trong vải lanh và đưa vào các quan tài nhỏ, và được coi là vật cúng tế trong các nghi lễ tôn giáo hay hiện thân của các vị thần.

Xác ướp động vật gần 3.000 năm tuổi
Theo quan niệm của người Ai Cập cổ đại, các con vật thường được ướp xác và chôn cùng chủ nhân khi họ qua đời, có thể để làm vật hộ mệnh hoặc bạn đồng hành ở thế giới bên kia. Trong ảnh là xác ướp của một con linh dương được chôn cùng trong ngôi mộ của chủ nhân, vào khoảng năm 945 trước Công nguyên.
Xác ướp động vật gần 3.000 năm tuổi
Việc ướp xác động vật mang nhiều yếu tố tâm linh theo quan niệm của người Ai Cập cổ đại. Trong thời đại của các vương triều Ai Cập khi đó, một số loài động vật được ướp xác bởi chúng được coi là hiện thân của các vị thần.
Xác ướp động vật gần 3.000 năm tuổi
Con cừu đực được ướp xác và bọc trong một lớp vỏ sơn vàng. Đây là một trong 7 xác ướp động vật còn nguyên vẹn đang được lưu giữ tại Bảo tàng Ai Cập. Theo các chuyên gia, con cừu là hiện thân cho thần sáng tạo Khnum, được nuôi trong chùa và chăm sóc cho đến khi chết.
Xác ướp động vật gần 3.000 năm tuổi

Các loài động vật còn được ướp xác khi chúng là vật nuôi của một thành viên trong gia đình hoàng gia. Con chó săn sau khi ướp xác (ảnh) được xác định là của một vị pharaoh.
Xác ướp động vật gần 3.000 năm tuổi
Bên trong một chiếc quan tài bằng gỗ có hình một con mèo, cao khoảng 40cm, là xác ướp của một con mèo nhỏ. Xác ướp mèo được bọc vải và lắp một mặt nạ sơn màu nâu bên ngoài là một trong số những xác ướp động vật thường được dùng trong các nghi lễ cúng tế.
Xác ướp động vật gần 3.000 năm tuổi
Hình ảnh chụp bằng tia X cho thấy xác ướp con mèo bên trong.
Xác ướp động vật gần 3.000 năm tuổi
Lớp vỏ bên ngoài xác ướp của một con chim ibis. Các hình trang trí dọc theo lớp vỏ là hình ảnh của các vị thần và các dãy chữ tượng hình.
Xác ướp động vật gần 3.000 năm tuổi
Theo các nhà khoa học, các xác ướp động vật có thể cung cấp nhiều thông tin nghiên cứu về sự sống và cái chết của người Ai Cập cổ đại. Trong ảnh là xác ướp khỉ đầu chó.
Xác ướp động vật gần 3.000 năm tuổi
Một con linh dương được bọc bằng các lớp vải sau khi ướp xác
Xác ướp động vật gần 3.000 năm tuổi


Một số loài động vật được ướp xác để dành cho các nghi lễ cúng tế khi chôn cất người chết. Các phần thịt ngon nhất của một số loài động vật như bò, vịt, ngan, chim bồ câu, sẽ được ướp muối sau đó bọc trong các lớp vải và đưa vào quan tài.

Xem thêm:

Categories: Chuyện Lạ

Atlantis: Lục địa bị quên lãng do sự trừng phạt của các vị Thần

Atlantis là vùng đất huyền thoại của nền văn minh tiên tiến và hùng mạnh, nhưng chúng ta đã thực sự biết gì về lục địa này? Atlantis đã được đề cập trong các cuộc đối thoại của Plato “Timaeus” và “Critias” mặc dù khảo cổ học và lịch sử chính thống đã từ chối hầu như mọi lý thuyết về vùng đất thần thoại này cũng như nền văn minh cổ đại từng có tại nơi đây.

Atlantis là chủ đề tranh luận trong hơn 2,500 năm giữa các nhà triết học, sử gia và khảo cổ học. Nó được mô tả như một vương quốc hùng mạnh và tiên tiến nhưng đã bị chìm trong một ngày một đêm để rồi không bao giờ được nhìn thấy hay nghe đến bất kể một lần nữa. Theo Plato, nó biến mất từ khoảng năm 9600 TCN.

Trong suốt nhiều thế kỷ, đã có rất nhiều sự quan tâm đến Atlantis và nhiều địa điểm trên toàn thế giới đã được đề xuất là nơi chính xác nơi vương quốc này chìm xuống. Một số học giả cho rằng Atlantis chính lại địa điểm tại đảo Santorini của Hy Lạp; bị phá hủy bởi một vụ phun trào núi lửa khoảng năm 1.600 TCN. Nhưng triết gia Hy Lạp Plato mô tả Atlantis về kích thước như Libya và Tiểu Á kết hợp với nhau, cho thấy nó nằm ở đâu đó trong Đại Tây Dương.

Một tấm bản đồ Atlentis ở giữa Đại Tây dương được vẽ năm 1969. (Ảnh: freemasonry.network)

Các nhà nghiên cứu và học giả trên toàn thế giới đã thảo luận về Atlantis. Ken Feder, giáo sư khảo cổ học đã gợi ý một số điều về Atlantis trong cuốn sách của ông “Gian lận, thần thoại và bí ẩn: Khoa học và khoa học giả trong Khảo cổ học”. Giáo sư Ken cho rằng những người Atlantis cổ đại là một nền văn hóa cực kỳ tinh vi nhưng ác độc đã cố gắng thống trị thế giới bằng vũ lực. Thực tế, Giáo sư Ken miêu tả nền văn minh của Atlantis như một nền văn minh độc ác và hướng tới chiến tranh, mục tiêu duy nhất của họ là chinh phục.

Người Athen cổ đại là người duy nhất dũng cảm và đủ mạnh để đối đầu với những người Atlantis. Dựa trên vũ khí mạnh nhất của họ là tinh thần mạnh mẽ và tinh khiết, những người Athen đã đánh bại đối thủ mạnh nhất của mình. Nhưng liệu có thể đây chỉ là một cách tuyên truyền cổ xưa? Tuyên truyền mà Plato đã chia sẻ qua những câu chuyện của ông về nền văn minh cổ đại này và cách họ đã bị những người Athen hùng mạnh đánh bại.

Theo Plato, Atlantis đã được bảo vệ bởi thần Poseidon. Đội quân vĩ đại của người Atlantis đã có thể chinh phục châu Phi. Theo một giả thuyết, “lục địa-đảo” này bị chìm trong một ngày đêm là do sự trừng phạt của thần thánh.

Sự biến mất của lục địa Atlantis được cho là sự trừng phạt của cá vị Thần. (Ảnh: alquimiadaalma.com.br)

Tại sao Plato lại tìm hiểu về Atlantis? Theo nhà triết học Hy Lạp này, những câu chuyện về Atlantis đã được ông của ông truyền cho ông, người đã nghe câu chuyện về Atlantis cổ đại từ một người dân Athen tên là Solon, người đã học về sự tồn tại của Atlantis từ một linh mục Ai Cập tuyên bố rằng Atlantis tồn tại chín nghìn năm trước đó.

Plato – triết gia thông thái nhất mọi thời đại người Hy Lạp. (Ảnh: LinkedIn)

Cuốn tiểu thuyết chưa hoành thành được xuất bản bởi Sir Francis Bacon vào năm 1962 giải thích rằng một nền văn minh rất tiên tiến tồn tại trên một hòn đảo không xác định. Cuốn tiểu thuyết có tên “New Atlantis” mô tả một hòn đảo huyền thoại được gọi là Bensalem, được phát hiện bởi các phi hành đoàn của một con tàu châu Âu sau khi họ đã bị lạc ở Thái Bình Dương tới một nơi nào đó trong vùng lân cận của Peru.

Ignatius Loyola Donnelly là một nhà chính trị, nhà khoa học và nhà văn nghiệp dư người Mỹ đã viết về Atlantis trong cuốn sách của ông mang tên “Atlantis: Thế giới Antediluvian”. Ông lập luận rằng những cải tiến công nghệ trong lĩnh vực luyện kim, nông nghiệp, tôn giáo và ngôn ngữ  phải có nguồn gốc ở Atlantis.

Nhiều tác giả khác đã đưa ra ý kiến ​​cá nhân của họ và hình thành lý thuyết của riêng họ về Atlantis. Trong những năm gần đây, hàng ngàn cuốn sách đã được viết về lục địa Atlantis, phim ảnh và phim truyền hình đã lấy cảm hứng từ công trình của Plato. Các nhà nghiên cứu và khảo cổ học đã không ngừng tìm kiếm nền văn minh Atlantis cổ đại. Nhiều chuyên gia về Atlantis đã tuyên bố tìm thấy nền văn minh cổ đại này từ Bolivia, Thổ Nhĩ Kỳ, Caribê, Tây Ban Nha, Nam Cực, Thụy Điển và các nước khác.

Vị trí của lục địa Atlantis theo mô tả của Plato. (Ảnh: Roachnow)

Theo Plato, vùng đất mà Atlantis được định vị bị chi phối bởi ngọn đồi lớn, nó được bao quanh bởi hai vành đai đồng tâm được liên kết với nhau bằng cầu và đường. Nước tách những vành đai ấy tạo thành những bến cảng lớn được nối với nhau bằng các kênh rạch sâu khoảng 45m và rộng hơn 450m. Vùng đất của Atlantis rất phì nhiêu, cho phép người dân ở đó sống hoàn toàn độc lập cho đến khi xảy ra thảm họa.

“Trải qua các trận động đất và lũ lụt dữ dội, trong một ngày và đêm bất hạnh, toàn bộ chủng tộc bị nuốt chửng bởi Trái Đất và đảo Atlantis biến mất vào sâu trong biển.” – Plato.

Plato đã nói Atlantis nằm ở đâu nhưng nó vẫn chưa được tìm thấy hoặc có lẽ các nhà khảo cổ và các nhà nghiên cứu đã không đủ nỗ lực tìm kiếm cho vùng đất thần thoại cổ đại này. Nhưng vẫn còn hy vọng bởi vì hơn 95% thế giới dưới nước vẫn chưa được khám phá, vậy nên rất có thể Atlantis vẫn có thể ở đâu đó dưới nước, ở một nơi mà chúng ta vẫn chưa tìm kiếm. Mặc dù khảo cổ học và địa chất hiện đại tin rằng vùng đất thần thoại này chưa bao giờ tồn tại, nhiều nhà thám hiểm hy vọng rằng một ngày nào đó, họ sẽ khám phá lục địa bị Atlantis bị thất lạc.

Các địa điểm được cho là nơi lục địa Atlantis chìm xuống được đánh dấu bằng một điểm màu vàng trên Bản đồ Thế giới. (Ảnh: Wikipedia)

Một trong những khám phá đáng kinh ngạc nhất đã được thực hiện gần đây có liên quan tới Atlantis là phát hiện của một kim loại được mô tả trong các tác phẩm của Plato. Các thợ lặn từ Bờ biển Ý, Guardia di Finanza và Superintendencia del Mar đã khám phá ra kim loại huyền thoại của Atlantis là “Orichalcum”. Orichalcum là kim loại có giá trị thứ hai trong thành phố thần thoại và chiếm ưu thế ở nhiều vùng của Atlantis.

Cho dù khám phá này có có nói lên điều gì về Atlantis hay không thì nơi đây vẫn là một địa danh bí ẩn, những người tin vào sự tồn tại của Atlantis luôn chào đón tin tức mới, những người hoài nghi thì bác bỏ phát hiện đó chỉ trong nháy mắt. Chúng ta hãy cùng chờ đợi những phát hiện mới của các nhà nghiên cứu trong tương lai để hiểu rõ hơn sự thực về lục địa Atlantis huyền bí này.

Xem thêm:

Categories: Chuyện Lạ

Khuôn mặt tái hiện của một ‘phù thủy’ sống cách đây hơn 300 năm

Lilias Adie được quy kết là một phù thủy xứ Torryburn, Fife, Scotland vào cuối thế kỷ 18 (Ảnh minh họa)

Khuôn mặt của một “phù thủy” người Scotland hiện lên chân thực nhờ bàng nghệ phục dựng 300 năm sau khi chết.

Theo Iflscience, Lilias Adie là một phụ nữ sống ở Torryburn, Fife, Scotland vào cuối thế kỷ 18. Bà bị buộc tội sử dụng phép thuật và mối liên hệ với quỷ dữ. Vào năm 1704, bà qua đời trong phòng giam một cách bí ẩn (một số nói là tự tử) trong khi chờ đợi bị hỏa thiêu.

Để chào đón Halloween, chương trình Time Travels của đài BBC Radio Scotland đã quyết định “đưa bà trở lại từ bài chết” thông qua việc hợp tác với một nhà khoa học tại Trung tâm Giải phẫu Nhân tạo và Đại học Dundee để tái tạo khuôn mặt Adie bằng cách sử dụng hình ảnh của hộp sọ và kỹ thuật phục dựng 3D hiện đại.

Hình ảnh hộp sọ đang được lưu trữ tại Thư viện Quốc gia Scotland (Ảnh: Iflscience)

Bức họa tái hiện khiến cho nhiều người cảm thấy kinh ngạc. Adie trông không có vẻ xấu xa hay khó gần. Thay vào đó, bà trông hiền từ với khuôn mặt của một người đã chịu nhiều truân chuyên trong cuộc sống.

Người dẫn chương trình Susan Morrison nói: “Đây là bộ mặt của một người phụ nữ mà bạn bà thể dễ dàng trò chuyện”.

Khuôn mặt được tái hiện của “phù thủy” Lilias Adie (Ảnh: Iflscience)

Adie được tiết lộ là một phụ nữ lớn tuổi, yếu đuối với thị lực không tốt. Nhưng bất chấp những hạn chế về mặt thể chất, bà dường như có một tinh thần và tình cảm mạnh mẽ.

Những di vật của bà được phát hiện dưới một tấm đá mà theo các sử gia là để để ngăn linh hồn bà không trở về từ cõi chết và ám ảnh người dân địa phương. Vào thế kỷ 19, các nhà khảo bà học đã khai quật ngôi mộ để nghiên cứu và trưng bày những tàn tích. Những tàn tích này đã bị mất tích trong thế kỷ 20, nhưng không phải trước khi hình ảnh của hộp sọ được lấy và lưu trữ trong Thư viện Quốc gia Scotland.

“Không có điều gì trên khuôn mặt Lilias gợi ý cho tôi rằng bà là một người nhẫn tâm và độc ác. Nhiều khả năng bà là nạn nhân của bối cảnh nghi kị khủng khiếp lúc đó.”, Tiến sĩ Christopher Rynn, chuyên gia pháp y tham gia nghiên cứu chia sẻ.

Xem thêm:

Categories: Chuyện Lạ

Những đứa trẻ da xanh làng Woolpit: Truyền thuyết thế kỷ 12 về những vị khách đến từ thế giới khác

Một tấm biển làng ở Woolpit, miêu tả hai đứa trẻ trong truyền thuyết vào thế kỷ thứ 12 (Wikimedia Commons)

Truyền thuyết về những đứa trẻ của làng Woolpit là một câu chuyện bắt nguồn từ thế kỷ 12, kể về hai đứa trẻ xuất hiện ở rìa một cánh đồng làng Woolpit của nước Anh. Cả bé trai và bé gái được kể là có làn da màu xanh lá và nói một ngôn ngữ lạ.

Hai đứa trẻ lâm bệnh và bé trai qua đời, nhưng bé gái bình phục và học được tiếng Anh trong những năm sau đó. Về sau bé gái kể lại câu chuyện về nguồn gốc của cả hai, nói rằng chúng đến từ một nơi gọi là Vùng Đất của Thánh Martin, tồn tại trong môi trường ánh sáng chạng vạng kéo dài vô tận, và ở đó mọi người sống dưới mặt đất.

Trong khi một số người xem đây là một câu chuyện cổ tích mô tả cuộc gặp gỡ tưởng tượng với cư dân của một thế giới khác nằm dưới chân chúng ta, hay thậm chí là thế giới ngoài Trái Đất, thì số khác lại chấp nhận câu chuyện là có thật, nhưng là bản mô tả bị sửa đổi đôi chút của một sự kiện lịch sử đáng được nghiên cứu thêm.


Trong khi một số người xem đây là một câu chuyện cổ tích mô tả cuộc gặp gỡ tưởng tượng với cư dân của một thế giới khác nằm dưới chân chúng ta, hay thậm chí là thế giới ngoài Trái Đất, thì số khác lại chấp nhận câu chuyện là có thật, nhưng là bản mô tả bị sửa đổi đôi chút của một sự kiện lịch sử đáng được nghiên cứu thêm.

Câu chuyện bắt đầu từ ngôi làng Woolpit nằm ở Suffolk, East Anglia (Anh quốc). Vào thời Trung Cổ, ngôi làng nằm trong khu vực có nền nông nghiệp phát triển và có dân cư đông đúc nhất của miền quê nước Anh. Woolpit thuộc về tu viện quyền lực và giàu có của thị trấn Bury St. Edmunds.

Tàn tích của Tu Viện của thị trấn Bury St. Edmunds
Tàn tích của Tu Viện của thị trấn Bury St. Edmunds (Wikipedia)

Câu chuyện được hai nhà viết sử thế kỷ 12 ghi chép lại. Một người tên là Ralph vùng Coggestall (mất năm 1228), trưởng tu viện Cistercian thuộc thị trấn Coggeshall (42km về hướng Nam của làng Woolpit), ông đã ghi chép lại câu chuyện về những đứa trẻ da xanh của mình trong cuốn“Chronicon Anglicanum” (“Biên niên sử nước Anh”). Người kia là William vùng Newburgh (1136–1198), một nhà sử học và giáo sĩ Cơ đốc giáo người Anh tại tu viện Augustinian Newburgh nằm xa về phía bắc Yorkshire, ông gộp câu chuyện về những đứa trẻ da xanh vào tác phẩm chính của mình là “Historia rerum Anglicarum” (“Lịch sử các vụ việc nước Anh”).

Các sự kiện trên được cho là diễn ra dưới thời trị vì của vua Stephen (1135-1154) hoặc vua Henry II (1154-1189), tùy thuộc vào phiên bản mà bạn đọc.

Câu chuyện về những đứa trẻ da xanh

Theo truyền thuyết về những đứa trẻ da xanh, thì một bé trai và em gái được những người thợ gặt làm việc trên cánh đồng vào mùa thu hoạch phát hiện ở gần vài cái mương được đào để bẫy sói, tại làng Woolpit. Da của hai đứa trẻ có màu xanh lá, với quần áo được làm bằng các chất liệu lạ, và lời nói của chúng thì những người thợ gặt không thể hiểu được. Cả hai được đưa về làng, nơi mà chúng cuối cùng được một địa chủ tên là Sir Richard de Caine ở Wikes thu nhận về.

Hai đứa trẻ không ăn bất cứ thức ăn nào được đem đến cho chúng, nhưng trông có vẻ đói. Cuối cùng dân làng đem đến những hạt đậu sống mới được thu hoạch thì cả hai ăn ngấu nghiến. Cả hai chỉ sống bằng những hạt đậu trong nhiều tháng trời cho đến khi chúng bắt đầu thích ăn bánh mì.


Cả hai chỉ sống bằng những hạt đậu trong nhiều tháng trời cho đến khi chúng bắt đầu thích ăn bánh mì.

Bé trai bị ốm và sớm đầu hàng cơn bệnh rồi qua đời, còn bé gái vẫn giữ được sức khỏe tốt và cuối cùng mất đi làn da màu xanh. Cô bé học nói tiếng Anh và sau đó cưới một người đàn ông ở King’s Lynn, một quận láng giềng với Norfolk. Theo một vài truyền thuyết, cô gái lấy tên là Agnes Barre và người đàn ông mà cô cưới là một sứ giả của vua Henry II, mặc dù chi tiết này chưa được xác nhận. Sau khi học nói Tiếng Anh, cô đã kể lại cho mọi người câu chuyện về nguồn gốc của hai anh em mình.

Xứ sở kỳ lạ dưới lòng đất

Cô gái thuật lại rằng cô và anh trai đến từ “Vùng Đất của Thánh Martin”, nơi không có mặt trời nhưng có [một loại] ánh sáng chạng vạng vô tận, và tất cả cư dân nơi đây đều có làn da xanh giống cả hai. Cô đã miêu tả một vùng đất “sáng chói” khác mà có thể được nhìn thấy ở phía bên kia một con sông.

Cô và anh trai đang trông nom đàn gia súc của cha thì cả hai tình cờ gặp một cái hang. Họ đi vào hang và lang thang trong bóng tối một thời gian dài cho đến lúc ra khỏi phía bên kia, đến nơi tràn ngập ánh sáng mặt trời khiến họ sửng sốt. Sau đó họ được những người thợ gặt phát hiện.


Cô và anh trai đang trông nom đàn gia súc của cha thì cả hai tình cờ gặp một cái hang. Họ đi vào hang và lang thang trong bóng tối một thời gian dài cho đến lúc ra khỏi phía bên kia

Những lời giải thích

Qua nhiều thế kỷ, nhiều giả thuyết đã được đưa ra nhằm giải thích câu chuyện lạ thường này. Về làn da màu xanh của hai đứa trẻ, có một đề xuất rằng hai đứa trẻ bị thiếu máu nhược sắc, tên gốc là bệnh xanh lướt (chlorosis – có nguồn gốc từ từ “chloris” trong tiếng Hy Lạp, có nghĩa là màu vàng xanh). Tình trạng này là do chế độ ăn nghèo nàn gây ảnh hưởng đến màu sắc của hồng cầu và dẫn đến sắc thái xanh tối nổi bật của làn da. Một chi tiết ủng hộ giả thuyết này là cô gái được miêu tả có làn da trở lại màu sắc bình thường sau khi chấp nhận chế độ ăn lành mạnh.


Tình trạng này là do chế độ ăn nghèo nàn gây ảnh hưởng đến màu sắc của hồng cầu và dẫn đến sắc thái xanh tối nổi bật của làn da.

Liên quan đến những miêu tả về vùng đất kỳ lạ, Paul Harris đưa ra giả thuyết trong Nghiên cứu Fortean 4 (1998) rằng đây là những trẻ mồ côi người Flanders, có thể từ một nơi gần đó gọi là Fornham St. Martin, nơi ngăn cách với Woolpit bằng Sông Lark.

Nhiều dân nhập cư Flanders đã đến đây trong thế kỷ 12 nhưng bị đàn áp dưới triều vua Henry II. Năm 1173, nhiều người đã bị sát hại gần Bury St. Edmunds. Nếu họ chạy trốn vào Rừng Thetford, thì nơi đây có lẽ giống cảnh chạng vạng vô tận đối với những đứa trẻ hoảng sợ. Chúng có lẽ đã đi vào một trong số nhiều đường hầm mỏ dưới lòng đất trong khu vực mà cuối cùng dẫn chúng đến Woolpit. Mặc trang phục khác lạ của người Flanders và nói một ngôn ngữ khác, những đứa trẻ đã đem đến một bộ dạng rất kỳ lạ đối với dân làng Woolpit.


Mặc trang phục khác lạ của người Flanders và nói một ngôn ngữ khác, những đứa trẻ đã đem đến một bộ dạng rất kỳ lạ đối với dân làng Woolpit.

Một nhà bình luận khác đề ra giả thuyết về nguồn gốc từ thế giới khác của những đứa trẻ. Robert Burton đề xuất trong cuốn sách năm 1621 “The Anatomy of Melancholy” rằng những đứa trẻ da xanh “rớt xuống từ Thiên Đàng”, khiến người khác suy đoán rằng chúng có thể là người ngoài hành tinh.

Trong một bài báo xuất bản năm 1996 trên tạp chí Analog, phi hành gia Duncan Lunan cũng đề xuất giả thuyết rằng những đứa trẻ tình cờ được chuyển tới Woolpit từ hành tinh quê hương của chúng. Hành tinh này có thể bị mắc trong quỹ đạo đồng bộ quay xung quanh mặt trời của mình, tạo ra hoàn cảnh thích hợp cho sự sống chỉ tồn tại ở một vùng ánh sáng chạng vạng hẹp giữa một bề mặt có nhiệt độ rất cao, và mặt kia chìm trong bóng tối băng giá.

Câu chuyện về những đứa trẻ da xanh đã tồn tại hơn tám thế kỷ kể từ khi những truyền thuyết đầu tiên được ghi chép lại. Mặc dù sự thật đằng sau câu truyện có lẽ sẽ mãi là bí ẩn, nó đã truyền cảm hứng cho nhiều bài thơ, tiểu thuyết, vở opera, và kịch trên toàn thế giới, đồng thời thu hút được trí tưởng tượng của nhiều trí óc tò mò.

Theo Ancient Origins.

Xem thêm:

Categories: Chuyện Lạ

Bí ẩn tâm linh: Nghiên cứu cho thấy có những người có thể phát sáng, thậm chí phát ánh hào quang rực rỡ

Khi nghe nói về phát quang sinh học, bạn hình dung đó có thể là các sinh vật sống ở tầng sâu dưới nước như loài cá sử dụng hàng triệu vi khuẩn để phát sáng, nhằm chiếu sáng để thu hút con mồi. Còn con người thì sao?

Rất nhiều sinh vật có thể phát sáng, còn con người thì sao?

Theo một nghiên cứu do các nhà khoa học Nhật Bản tiến hành năm 2009, con người cũng phát ra một ánh sáng nhìn thấy được (phát quang sinh học), nhưng rất yếu để nhìn thấy trực tiếp bằng mắt thường. Một số trường hợp đặc biệt thì ánh sáng mạnh hơn, có phát ra các màu sắc đẹp hơn.

Cơ thể con người phát sáng“,  là nhận định của nhóm nghiên cứu Đại học Northeastern khi công bố phát hiện của nhóm trên một tạp chí được nhà sách Science xuất bản. “Cơ thể phát ra ánh sáng với cường độ nhỏ hơn 1.000 lần so với cường độ ánh sáng mà mắt ta cảm nhận được”.

Nhóm nghiên cứu đã theo dõi 5 nam giới khi sử dụng một máy ảnh siêu nhạy cảm trong một căn phòng sáng lờ mờ, kéo dài 20 phút trong mỗi ba tiếng đồng hồ và trong ba ngày (theo dõi cả khi họ ngủ).

Họ phát hiện những người tham gia phát ra một “ánh sáng” vào ban ngày, đạt đỉnh điểm vào buổi chiều và phát sáng tập trung chủ yếu ở trán, cổ và má.

Đây không phải là bức xạ hồng ngoại do nhiệt, trái với những gì mà hình ảnh có thể gợi lên. Phát sáng này đến từ các photon (hạt ánh sáng) chứ không phải là nhiệt.

Phát quang sinh học vào những thời điểm khác nhau trong ngày. C: 10h10. D: 13h10  E: 16h10. F: 19h10.  G: 22h10. H: Những thay đổi về cường độ của các photon đối với 5 người tham gia thời gian. I: hình ảnh nhiệt của người tham gia. (PLoS ONE)

 Tại sao những người tu luyện thiền định lâu năm có thể phát ánh hào quang?

Hào quang xung quanh một người tu luyện Pháp Luân Công

Trong các nghiên cứu của môn vật lý cao năng lượng, các nhà khoa học có nhìn nhận rằng năng lượng chính là các hạt vi tế hơn như neutron, nguyên tử, tử ngoại, siêu âm, hạ âm, tia phóng xạ gamma…

Khi kiểm định khoa học, người ta phát hiện một số người có sở hữu nguồn năng lượng đặc biệt này, nên không những họ có thể phát sáng mà thậm chí còn tự phát điện hay phát lửa…

Một số trắc nghiệm cũng được tiến hành với những người luyện khí công thì thấy mật độ những vật chất này khi đo cao hơn người bình thường rất nhiều lần. Và ánh sáng họ phát ra cũng mạnh mẽ hơn, nhiều màu sắc thay đổi và rất đẹp.

Và khi trắc nghiệm đo bằng các thiết bị dùng để đo hồng ngoại, tử ngoại, siêu âm, hạ âm, điện, từ, tia phóng xạ gamma, nguyên tử, neutron….thì những máy đo này đã phát hiện được rằng nhiều khí công sư, người tu đạo, người thực hành thiền định lâu năm… có phát ra các vật chất này, các vật chất cùng ánh sáng họ phát ra rất phong phú.

Ở người bình thường không luyện khí công hay không thực hành tu tập thiền định cũng có thể có, nhưng ánh sáng nhỏ và yếu hơn nhiều.

Nhóm nghiên cứu hy vọng các thiết bị y tế trong tương lai sẽ cho phép chúng ta quét bề mặt của cơ thể con người, để đo độ sáng nhằm theo dõi  thay đổi chuyển hóa của người đó.

Nếu bạn có thể nhìn thấy ánh sáng phát ra từ cơ thể, bạn sẽ biết toàn bộ tình trạng sức khỏe của người đó“, Masaki Kobayashi, thành viên của nhóm tuyên bố với Scientist News.

Lần tới khi ai đó nói có người phát sáng hay thậm chí tỏa hào quang, bạn sẽ biết đó là sự thật chứ không phải điều huyễn hoặc nữa. 

Xem thêm:

Categories: Chuyện Lạ

Chàng trai nhìn thấy sổ thọ mệnh dưới âm gian

Chàng trai nhìn thấy sổ thọ mệnh dưới âm gian

Tương truyền, dưới âm gian có một thứ gọi là “sổ sinh tử”, tức sổ thọ mệnh. Khi dương thọ của ai đó kết thúc, Diêm Vương sẽ sai quỷ Hắc Bạch Vô Thường hoặc quỷ đầu trâu mặt ngựa đưa hồn phách người chết xuống địa phủ để tiếp nhận thẩm phán.

Một cư sỹ tên là Lý Tử Khoan từng được đưa đến âm gian, tại đây anh vô tình thấy cuốn sổ sinh tử ghi chép chi tiết thọ mệnh của con người. Anh đã viết lại những trải nghiệm kỳ lạ của mình và gọi đó là “Lược thuật nhân duyên học Phật và câu chuyện hộ giáo của tôi”.

Câu chuyện ấy đại thể như sau:

Tôi sinh ra trong gia đình Nho học, từ các cụ cao tằng tổ cho đến cha tôi đều theo nghiệp Nho gia. Hầu hết các thư tịch lưu giữ trong nhà đều là kinh thư, sử sách, tử tập, thí thiếp và thời văn, nhưng không có một cuốn kinh Phật nào. Tuy nhiên, trong điện thờ ở chính đường lại có tượng Quán Thế Âm Bồ Tát.

Thuở nhỏ khi còn học ở trường tư thục, tôi rất thích đọc các loại sách như “Âm chất văn” (sách về tốt – xấu, họa – phúc Thiên định), “Khuyến thiện thư” (sách khuyên hành thiện tích đức) và các loại tiểu thuyết kinh điển, đặc biệt là cuốn “Tây du ký”. Tôi cũng thường tụng niệm câu châm ngôn sáu chữ “Án ma ni bát di hồng” mà pháp sư Huyền Trang thường niệm, bởi tôi cho rằng câu chú ngữ ấy có thể hàng phục yêu ma quỷ quái. Mỗi khi Đường Huyền Trang gặp nạn, Quán Thế Âm Bồ Tát đều lập tức đến cứu hộ, do đó khi trong lòng thấy kinh sợ, tôi đều niệm Thánh hiệu của Bồ Tát để nỗi sợ hãi tiêu tan.

Một hôm trên đường đến thăm một người cô ở Hà Tây, lúc qua cầu tôi đã bất cẩn ngã xuống sông, may mắn có người cứu vớt nên tôi mới tránh khỏi chết đuối. Tuy nhiên khi trở về nhà tôi lại đổ bệnh, sốt cao nhiều ngày liền, dẫu uống bao nhiêu thuốc cũng không thuyên giảm. Cha mẹ tôi buồn rầu lo lắng, bèn mời thầy phù thủy về làm lễ cúng tế, tục gọi là chiêu hồn.

Tôi nằm mê man trên giường, trong lúc hôn mê tôi thấy có mấy người phu khuân vác vừa đen vừa xấu, khiêng kiệu tre đến và kéo tôi vào trong kiệu, rồi họ chạy như bay không biết về phương nào. Tôi niệm Thánh hiệu của Quán Thế Âm Bồ Tát, quả nhiên thấy Bồ Tát hiện thân đi theo bảo hộ. Chiếc kiệu được đưa đến trước một cung điện, rồi lách qua cửa bên mà vào. Khi qua mấy hành lang quanh co tôi nhìn thấy bên trong có rất nhiều người đang chịu cực hình như dao cưa, vạc dầu, lửa thiêu, đánh gậy… chỉ cần liếc nhìn qua là đã thấy kinh sợ. Cuối cùng cũng đến hậu cung, tại đó có một vị vương gia đang ngồi trên bảo tọa, diện mạo nghiêm trang, bên cạnh là viên thủ thư quản lý sổ sách. Tôi được lệnh quỳ dưới điện.

Vương gia hỏi thủ thư rằng: “Người này đã hết thọ mệnh chưa?”. Viên thủ thư mở sổ sách ra tra cứu, lúc đó tôi nhìn thấy bên trong cuốn sổ có một trang ghi tên cha tôi, ghi rõ ngày 15 tháng 9 năm nay sẽ chết, còn trang ghi tên tôi thì dường như số mệnh là 49 tuổi. Viên thủ thư nói với vương gia rằng: “Người này chưa hết thọ mệnh, xin vương gia cho anh ta trở về”.

Tôi khấu đầu lạy tạ, rồi tha thiết cầu xin được giảm 10 năm tuổi thọ để tăng cho cha tôi. Nhưng vương gia nhất quyết từ chối, chỉ phất tay ra lệnh cho quỷ sai đưa tôi đi. Tôi vẫn ngồi trên chiếc kiệu tre, bay vun vút trong không trung, nhìn thấy rõ ràng phía trước vẫn là Quán Thế Âm Bồ Tát đang bảo hộ theo kiệu. Đến khi chiếc kiệu đâm vào mái hiên nhà tôi, chỉ thấy có ánh lửa lóe lên rồi tôi liền tỉnh dậy.

Lúc ấy cả cha và mẹ đang ngồi trước giường, thấy tôi mở mắt thì ai nấy đều vỡ òa trong hạnh phúc. Tôi xin một bát trà nóng, uống vào thì thấy bệnh đã hoàn toàn khỏi hẳn. Những sự tình tôi trông thấy lúc hôn mê vẫn hiện lên sống động trong đầu, nhưng tôi không dám tiết lộ cho cha mẹ biết. Một ngày sau khi tôi khỏi bệnh, tức ngày mồng 1 tháng 9, thì cha tôi cũng liền phát bệnh, đến ngày 15 thì ông nhắm mắt từ trần…

Người ta nói: “Sinh tử hữu mệnh, phú quý tại Thiên”, đời người thành hay bại, vinh hay nhục, giàu sang hay nghèo hèn, sống thọ hay yểu mệnh… hết thảy đều đã được an bài. Con người không thay đổi được vận số, nhưng lại có thể làm chủ được đức hạnh của mình. Người cư sỹ Lý Tử Khoan kia dẫu muốn giảm 10 năm của bản thân để kéo dài tuổi thọ cho cha thì cũng không thể được. Một người thường sao có thể thay đổi mệnh Trời được đây?

Theo Secretchina

Xem thêm:

Categories: Chuyện Lạ

Dấu chân 290 triệu năm tuổi và 3 phát hiện công nghệ thách thức học thuyết Darwin

Nhiều bằng chứng khảo cổ phát hiện tại nhiều nơi trên khắp thế giới cho thấy trong quá khứ đã tồn tại các nền văn minh tiền sử, họ phát triển không kém gì văn minh hiện đại của chúng ta – thậm chí còn tiên tiến hơn. Những bằng chứng này có thể đảo ngược những gì mà chúng ta luôn tin tưởng rằng con người hiện đại là chủ nhân duy nhất có trí tuệ cao cấp từng tồn tại trên Trái đất.

1. Dấu chân 290 triệu năm tuổi

Một tảng đá thuộc kỉ Permi cách đây khoảng 290 triệu năm trước có một chi tiết gây tò mò trên bề mặt của nó. Được phát hiện ở New Mexico, tảng đá này có dấu chân người. Nhưng, con người không tồn tại trên Trái đất cách đây 290 triệu năm, vậy làm sao có thể như vậy?

Thật kỳ lạ, kỉ Permi đã kết thúc bằng sự kiện tuyệt chủng hàng loạt lớn nhất trong lịch sử Trái đất, trong đó gần 90% các loài sinh vật biển và 70% các loài sống trên cạn đã chết. Sự phục hồi từ sự kiện tuyệt chủng Permi-Triassic bị kéo dài; Trên đất liền, các hệ sinh thái phải mất 30 triệu năm để phục hồi.

dấu chân 290 triệu năm
Dấu chân 290 triệu năm tuổi trên tảng đá có từ kỉ Permi (Ảnh: Ancient code)

Theo ghi nhận của Tiến sĩ Don Patton, dấu chân là chân thực. Nếu đúng như vậy, điều đó có nghĩa là hàng trăm triệu năm trước, một loại người khác đã tồn tại trên Trái đất, cùng lúc với thời khủng long tồn tại?

2. Khối cầu Klerksdorp

Những khối cầu kỳ lạ này được tìm thấy ở Nam Phi. Michael Cremo, nhà nghiên cứu văn hóa thời tiền sử từng cho rằng khối cầu này có niên đại lên tới 2,8 tỷ năm tuổi. Nó có bề mặt rất cứng và cấu trúc dạng sợi bên trong. Marx cảm thấy chúng khá kỳ lạ và khó hiểu.

Klerksdorp
Khối cầu Klerksdorp (Ảnh: Top5LaKy)

“Chúng được tìm thấy trong mỏ đá cao lanh pyrophyllite, gần thị trấn nhỏ Ottosdal ở phía tây Transvaal. Loại đá cao lanh này hình thành từ trầm tích khoảng 2,8 tỷ năm trước đây. Đây là loại khoáng sản khá mềm với chỉ số 3 trong thang đo Mohs (thang đo từ 1 đến 10 để phân loại độ cứng của khoáng vật, trong đó đá talc mềm nhất, kim cương cứng nhất). Các khối cầu có cấu trúc dạng sợi bên trong, và một lớp vỏ bọc bên ngoài cứng như thép, không thể bị trầy xước”, nhà nghiên cứu Cremo cho biết.

Theo Cremo, khối cầu này là bằng chứng cho thấy sự sống thông minh đã tồn tại trên Trái Đất từ lâu, trước thời điểm mà chúng ta vẫn thường nhận định.

3. Chiếc bu lông 300 triệu năm tuổi

Những năm 1990, một nhóm nghiên cứu người Nga đã phát hiện trên một cánh đồng hoang phía Tây Nam tỉnh Kaluzka một viên đá. Viên đá này không có gì đáng nói nếu như nó không chứa trong mình một bí ẩn chấn động: bên trong khối đá có chứa một cái bu lông mà theo đo đạc thì có tuổi lên tới hàng trăm triệu năm.

Hóa thạch ốc vít 300 triệu năm tuổi tại Nga (Ảnh: ancient code)

Rất nhiều các viện nghiên cứu đã tiến hành khảo cứu khối đá này như: viện cổ sinh vật học, kỹ thuật vật lý, kỹ thuật hàng không, các bảo tàng cổ sinh vật học và bảo tàng sinh vật học, các phòng thí nghiệm của “Salut”, “Zikh”, “Hóa địa chất”, của các trường MAI, NGU,… cũng như hàng chục chuyên gia thuộc các lĩnh vực kiến thức khác nhau đã nghiên cứu và đi đến kết luận: chiếc bu lông rơi vào khoảng 300 – 320 triệu năm tuổi.

Một phát hiện tương tự cũng được tìm thấy ở Lan Châu, Trung Quốc vào năm 2002.

4. Chiếc búa có từ kỉ Phấn Trắng

Bà Emma Hahn đã phát hiện ra chiếc búa này vào tháng 6/1934 trong một mỏ đá gần thị trấn Mỹ, bang Texas. Phần kim loại của chiếc búa có chiều dài 15cm và đường kính khoảng 3 inches. Nó đã bị chìm trong đá vôi có niên đại 140 triệu năm, cùng với những mảnh đá khác.

Một số ý kiến cho rằng đó là một trò chơi khăm, nhưng những nghiên cứu sau này với các cuộc điều tra hàn lâm khác nhau đã bác bỏ điều này. Đầu tiên, tay cầm bằng gỗ đã hóa đá, và bên trong biến thành than qua hàng triệu năm. Thứ hai, các chuyên gia ở Học viện Metallurgical, Columbus (Ohio) rất kinh ngạc với thành phần hóa học của đầu búa bị chìm trong đất gồm: 96.6% sắt, 2.6% Clo và 0.74% sulfur, và không có một tạp chất nào. Trong khi, sắt nguyên chất chưa từng được phát hiện trong lịch sử các kim loại trên trái đất.

Trong phần kim loại không tìm thấy các kim loại sử dụng trong ngành công nghiệp sản xuất thép (như mangan, coban, niken, vonfram, vanadi hay molypden). Không có tạp chất, và tỷ lệ % của clo lớn bất thường. Đáng ngạc nhiên là không thấy dấu vết của carbon, trong khi quặng sắt từ từ trường Trái đất luôn luôn chứa carbon và các tạp chất khác.

búa 140 triệu năm
Chiếc búa 140 triệu năm tuổi tìm thấy tại một khu mỏ ở Mỹ (Ảnh: Ancient code)

Nhìn chung, theo những quan sát hiện đại, phần sắt của chiếc búa không phải là loại chất lượng cao. Nhưng phần đặc sắc là: Sắt của chiếc búa này không bị rỉ sét! Không có dấu hiệu của sự ăn mòn.

Tiến sĩ K.E.Bafa, giám đốc Bảo tàng Cổ vật khoáng sản, cho biết chiếc búa này ước tính được tạo ra từ đầu thời kỳ kỷ Phấn trắng, tức là từ 140 đến 65 triệu năm trước. Trong khi đó, trình độ khoa học của con người có thể làm công cụ này chỉ có thể cách đây tối đa 10.000 năm.

Cuối cùng, sự thật về nguồn gốc của chúng ta có vẻ hoàn toàn khác xa với những điều được giải thích thông thường qua các bộ sách giáo khoa, rằng chúng ta là loài người văn minh hiện đại duy nhất từ trước tới nay trên địa cầu này và chúng ta vốn tiến hóa từ người vượn. Chỉ những ai dám vượt lên những nhận thức thiên kiến, đón nhận và suy xét một cách lý trí những phát kiến và thành tựu khảo cổ mới có thể nhận thức được những điều thực sự chân chính.

Hoài Anh

Đọc thêm:

Categories: Chuyện Lạ

5 người may mắn thoát chết nhiều lần tới mức không thể tin nổi, thần hộ mệnh là có thực?

Mỗi lần chúng ta bước vào xe hơi hay lên cầu thang máy bay, chúng ta đều có chút lo sợ rằng không biết có rủi ro giao thông hay những điều gì trục trặc xảy ra trên độ cao 10 km trên trời. Nếu có đến một lần, là cũng… xong rồi. Tuy nhiên có những người 5 lần 7 lượt thoát chết một cách quá khó tin. Điều gì xảy đến với họ vậy?

Mỗi lần chúng ta bước vào xe hơi hay lên cầu thang máy bay, chúng ta đều có chút lo sợ rằng không biết có rủi ro giao thông hay những điều gì trục trặc xảy ra trên độ cao 10 km trên trời….Phần lớn chúng ta đều hy vọng sẽ không có gì xảy đến với mình, tuy nhiên… hy vọng thì vẫn chỉ là hy vọng thôi…

Song, kỳ lạ vô cùng là có những người đã sống sót qua không chỉ 1, 2 tai nạn chết người, mà thậm chí vượt qua bình an cả 7 tai nạn chắc chết…?
Có điều gì quá kỳ lạ ở đây? Sét đánh nhiều lần không chết, bạn có tin nổi không? Hay là rơi từ trên máy bay cả chục km xuống dưới đất mà vẫn…thoát chết?

Ai biết được số phận bí ẩn nào đã dẫn dắt họ tới nhiều tai nạn chết người như thế rồi lại dẫn dắt họ ra khỏi những tai nạn chết người đó mà vẫn sống sót, vẫn tồn tại một cách quá đỗi kỳ diệu…?

Một số người gọi đó là may mắn, một số khác nói rằng người ấy chắc chắn có một vị Thần hộ mệnh luôn theo sát… Dù là cách nào đi nữa, vẫn có thực tế là một số người đã thoát chết nhiều lần một cách không thể tin nổi.

Sau đây là một vài người trong số các trường hợp may mắn đã trải qua điều “không thể”:

1. Người đàn ông đã sống sót kỳ diệu qua… 7 tai nạn chết người

Năm 1962 Frane Selak người Croatia đi du lịch bằng tàu hỏa thì con tàu bị rơi xuống một dòng sông băng giá. Tai nạn đã giết chết 17 người. Ông đã sống sót.

Ngay năm sau,  Frane lại có mặt tại một vụ tai nạn máy báy khi cánh cửa máy bay bị tung ra, nhưng ông đã sống sót sau khi rơi xuống một đống cỏ khô. Nhưng 19 người khác đã thiệt mạng.

Frane Selak (Ảnh chụp màn hình youtube)

Tiếp tục lại ba năm trôi qua, cho đến khi ông may mắn thoát chết ở một tai nạn xe buýt đã giết chết 4 người.

Sau đó, vào năm 1970, chính chiếc xe của ông phát nổ, và ông đã may mắn nhảy ra kịp và thoát chết lần nữa.

Ba năm sau, chiếc xe hơi của ông (một chiếc xe khác) đã bốc cháy và, lại một lần nữa, ông lại thoát khỏi vòng tay của Thần chết một cách hy hữu.

Sau đó, vào năm 1995, ông bị lao vào một chiếc xe buýt trong khi đi bộ, nhưng, kỳ diệu thay, ông vẫn sống sót.

Một năm sau đó, khi đang lái xe, ông phải ngoặt xe đột ngột để tránh một tai nạn nghiêm trọng, xe hơi của ông đã rơi xuống một vách đá và phát nổ. May mắn thay cho Frane, ông bị ném tung ra khỏi xe và “hạ cánh” an toàn trên một cái cây!

Một cách thoát chết vô cùng may mắn và hy hữu.

Số phận của ông đã thay đổi vào năm 2003 khi ông giành giải nhất xổ số 1 triệu $. Ông đã đem cho phần lớn số tiền cho bạn bè và gia đình.

2. Người đàn ông đã sống sót qua 7 lần sét đánh

Roy Sullivan, người được mệnh danh là Lightning Man (Ảnh chụp màn hình youtube)

Ông được mệnh danh là Lightning Man, người đàn ông Ánh sáng, Roy Sullivan ở Virginia, người bị sét đánh tới bảy lần.

Lần đầu tiên ông bị sét đánh, da chân của ông bị đốt cháy và móng chân của ngón chân cái rơi ra. Sét đã xé thủng một lỗ trong giày của ông và máu đã chảy ra rất nhiều. Nhưng đó chỉ là lần bị sét đánh đầu tiên, sau đó ông còn bị sáu lần nữa. Đòn sét đánh nặng nhất của ông là vào năm 1972, ông đã phải nhập viện vì bỏng trong bụng và ngực.

Tên của ông đã xuất hiện trong Sách kỷ lục Guinness vì đã sống sót sau nhiều lần sét đánh nhất.

3. Người đàn ông bị cắt làm đôi bởi một con tàu và sống sót để đi kể câu chuyện của mình. 

Tai nạn khủng khiếp nhất đã xảy ra với Truman Duncan người Texas, khi ông làm việc trong ngành đường sắt với vai trò một giám lộ viên. Ông đã bị ngã từ con tàu đang chạy và rơi vào bánh tàu, chịu một trọng tải của tàu là hơn 9000 kg.

Nhưng ông vẫn có thể gọi điện thoại của mình và nói: “Tôi cần 911, dịch vụ cấp cứu Flite. Tôi nghĩ rằng tôi đã bị cắt làm đôi rồi”.

Phải mất tới 45 phút trước khi có người giúp đỡ đến, nhưng bằng cách nào đó ông vẫn cố gắng duy trì được trạng thái ý thức được mọi sự.

Truman Duncan

Khi Truman được chở bằng bằng máy bay tới Bệnh viện bệnh viện Harris Methodist Fort Worth, người bác sĩ làm nhiệm vụ cấp cứu đã hỏi tại sao Truman không bị chảy máu tới mức tử vong.

“Chắc chắn Thiên Chúa đã đóng một vai trò trong việc này, tôi chắc chắn”, bác sĩ David Smith nói. “Sinh lý của ông thật xuất sắc, có thể trọng lượng của tàu đè lên đã tự giúp giữ một số áp lực nào đó lên động mạch.”

4. Người phụ nữ bị kẹt trong dòng sông băng trong 80 phút mà vẫn không chết. 

Anna Elisabeth Johansson Bågenholm người Thụy Điển đã bị mất kiểm soát khi cô trượt tuyết và đã bị ném xuống dòng sông đóng băng. Nửa trên của cơ thể cô đã rơi vào một cái hố đông lạnh nơi băng đã dày hơn 20 cm.

Anna đã bị mắc kẹt trong băng trong 80 phút đồng hồ và nhiệt độ cơ thể của cô giảm xuống còn 13,7 độ C (56,7 ° F) – nhiệt độ cơ thể thấp nhất được biết đến mà một người vẫn còn có thể đã sống sót. Phải mất hơn 100 nhân viên y tế làm việc không mệt mỏi trong suốt chín giờ để hồi sinh cô.

5. Người phụ nữ sống sót sau một tai nạn máy bay từ độ cao trên 10.000 m (được cho là bất khả thi)

Năm 1972, tiếp viên người Serbia, Vesna Vulovic đã sống sót trong một tai nạn máy bay đã cướp đi sinh mạng của toàn bộ 27 thành viên của phi hành đoàn và hành khách trên máy bay.

Một vụ nổ xảy ra vào giữa chuyến bay và khi ấy máy bay đang bay ở độ cao khoảng 10.000 m. Người ta cho rằng có một quả bom là nguyên nhân. Sau tai nạn, Vesna đã được tìm thấy bị mắc kẹt vào phía sau của máy bay gần một xe đẩy thức ăn. Cô bị thương nặng với một hộp sọ bị vỡ và ba đốt sống bị gãy, khiến cô tạm thời bị liệt.

Vesna Vulovic

Năm 2008, cô nói với tờ New York Times:

“Vào thời điểm đó cơ thể của tôi đã ở trong tình trạng rất tệ, và các bác sĩ đã tích cực sửa chữa cỗ máy hỏng hóc ấy. Không ai tin nổi rằng tôi có thể sống sót.
Đáng ngạc nhiên, cô ấy vẫn không sợ bay sau đó: “Mọi người luôn muốn ngồi cạnh tôi trên máy bay“, cô nói. Những trường hợp này thật diệu kỳ và hy hữu.

Rất khó để hiểu làm thế nào một số người đã cận kề cái chết đến thế, rất nhiều lần, mà vẫn còn sống sót. Chắc chắn họ phải cảm thấy một sự kết nối với một sinh mệnh cao cấp đã che chở họ trong trò chơi vui tính (hay không vui tính đây) của số phận. Bạn nghĩ gì? Bạn có tin vào định mệnh không? Đằng sau những câu chuyện sống sót đáng ngạc nhiên này, có thể chỉ là một điều rất đơn giản…đó là họ được bảo hộ chặt chẽ bởi Thần hộ mệnh.

Hà Phương Linh (biên dịch từ Epoch Times France)

Đọc thêm:

Categories: Chuyện Lạ

Đảo thiêng cấm phụ nữ ở Nhật Bản được UNESCO công nhận là di tích văn hóa thế giới

Một hòn đảo linh thiêng tại Nhật Bản vừa được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới. Nơi đây cấm phụ nữ, còn đàn ông phải khỏa thân mới có thể đặt chân đến.

Ngôi đền Okitsu tọa lạc trên đảo Okinoshima từ thế kỷ 17, mọi  người thường đến đây cầu an lành cho vùng ven biển. Hòn đảo rộng 700 mét vuông, nằm ở phía tây nam Nhật Bản này sẽ là một trong 20 khu di tích văn hóa và thiên nhiên của quốc gia được công nhận bởi hội văn hóa Liên Hợp Quốc (UN). Okinoshima cùng với ba rạn san hô và bốn khu di tích gần đó cũng được công nhận là di sản thế giới tại hội nghị thường niên của UN ở Krakow, Ba Lan.

Hòn đảo nhỏ xa xôi này là kho tàng cống phẩm cho thần biển Shinto, từ chuỗi hạt ngọc cho đến thanh gươm quý giá. Nơi đây cũng góp phần thúc đẩy giao dịch công thương giữa Hàn Quốc và Trung Quốc từ thế kỷ IV đến thế kỷ IX.

Đảo thiêng cấm phụ nữ của Nhật Bản được UNESCO công nhận là di tích văn hóa thế giới - Ảnh 1.

Đảo Okinoshima, khung cảnh từ đằng sau đảo Kashiwajima Creative Commons

Ngày nay, chỉ nam linh mục từ Munakata Taisha, một nhóm thuộc đền Shinto, mới được phép lên đảo để thờ cúng tại đền Okitsu. Ngoài ra có khoảng 200 người đàn ông được tham quan đảo mỗi năm một lần vào ngày 27/5. 

Tuân theo luật lệ nghiêm ngặt, những du khách ghé thăm phải khỏa thân và thực hiện nghi thức gột rửa trước khi đặt chân lên hòn đảo. Khi rời đi, họ không được phép mang theo bất kỳ thứ gì và không được tiết lộ gì về chuyến viếng thăm. Nữ giới bị cấm không được đặt chân lên đảo vì truyền thống Shinto, dù chưa ai rõ mục đích của việc cấm phụ nữ này là gì.

Một vài người cho rằng lý do là bởi Shinto có niềm tin rằng máu kinh của phụ nữ là thứ dơ bẩn. Một số khác thì nghĩ do hành trình đến Đảo rất nguy hiểm, và đàn ông sẽ không muốn những người phụ nữ phải trải qua điều đó.

Đọc thêm:

Categories: Chuyện Lạ

Kỳ lạ: 3 thị trấn không cho phép chôn cất người chết: Địa điểm đầu tiên từng được UNESCO công nhận là di sản văn hoá thế giới

Dù ở bất cứ quốc gia hay dân tộc nào, việc chôn cất người chết luôn là một trong những tập quán quan trọng. Ấy vậy mà nhiều địa điểm “kỳ lạ” trên thế giới, tục lệ này lại bị cấm tuyệt đối. Chúng ta hãy tới 3 thị trấn nổi tiếng dưới đây để tìm hiểu lý do đằng sau quy định này là gì nhé.

Đảo Itsukushima (Nhật Bản)

Là một hòn đảo nằm dưới sự quản lý của thành phố Hatsukaichi, huyện Hiroshima, Nhật Bản, Itsukushima còn được biết đến nhờ vào ngôi đền thiêng nổi tiếng cùng tên, được xây dựng nổi hoàn toàn trên mặt nước. Ngôi đền này cũng được chính UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới vào năm 1996.

3 thị trấn không cho phép chôn cất người chết: Địa điểm đầu tiên từng được UNESCO công nhận là di sản văn hoá thế giới - Ảnh 1.

Ngôi đền trên đảo Itsukushima được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới vào năm 1996.

Nhưng không chỉ có địa danh nổi tiếng, Itsukushima còn được biết đến với tập quán có phần kỳ quặc: cấm chôn người chết trên đảo. Những người theo đạo Shinto – một trong hai tôn giáo chính ở Nhật Bản bên cạnh Phật giáo – lý giải, đối với người dân Nhật, hòn đảo là một vùng đất vô cùng thiêng liêng, cần bảo tồn được sự “thuần khiết” trước bất cứ thứ vẩn đục nào. Vì vậy, để giữ gìn sự trong sạch ấy, các thầy tu Shinto quyết định không cho phép bất cứ ca sinh nở hay ma chay nào diễn ra trên đảo.

Kể từ năm 1878, chưa hề có một em bé nào ra đời xung quanh khu vực dân cư sinh sống gần ngôi đền Itsukushima. Điều tương tự cũng được ghi nhận đối với những trường hợp không may tử vong, khi thống kê cho thấy không có bất cứ ai được ghi nhận là qua đời trên hòn đảo, kể từ đó tới nay. Phụ nữ mang bầu, khi đến kỳ sinh nở, sẽ phải vượt biển vào đất liền để đến những bệnh viện lớn, thay vì ở nhà hoặc đến trạm xá địa phương. Còn đối với người già hay người mắc phải căn bệnh hiểm nghèo, theo truyền thống thì họ được yêu cầu phải rời khỏi hòn đảo càng sớm càng tốt nhằm tránh tuyệt đối việc gây “ô uế” môi trường sống xung quanh đảo.

3 thị trấn không cho phép chôn cất người chết: Địa điểm đầu tiên từng được UNESCO công nhận là di sản văn hoá thế giới - Ảnh 2.

Kể từ năm 1878, chưa hề có một em bé nào ra đời xung quanh khu vực dân cư sinh sống gần ngôi đền Itsukushima. Điều tương tự cũng được ghi nhận đối với những trường hợp không may tử vong.

Lịch sử từng ghi nhận vào năm 1555, một trận chiến ác liệt với tên gọi “Tử chiến Miyajima” đã diễn ra trên hòn đảo, với vô số thương vong được ghi nhận. Đây cũng là trận chiến duy nhất trong lịch sử từng diễn ra trên hòn đảo thiêng này. Ngay sau khi ngừng chiến, tướng quân thắng trận Mori Motonari yêu cầu binh sĩ khẩn trương khiêng tất cả xác người lên đất liền và chuyển ra khỏi khu vực hòn đảo nhanh nhất có thể. Số lượng xác chết ước tính có thể lên đến 4.700 – một con số khổng lồ.

Sau đó, họ tiến hành rửa trôi các lớp máu bám trên nền đất, thậm chí còn cạo bỏ toàn bộ lớp bùn đất đã nhiễm máu người chết. Những công trình xung quanh, nếu bị vấy máu, đều được tháo dỡ và thay mới. Kể từ đó tới nay, hành động chôn cất người qua đời hoàn toàn bị cấm kỵ trên hòn đảo Itsukushima xinh đẹp này.

2. Thị trấn Longyearbyen (Na Uy)

Là một trong những vùng lãnh thổ đầu tiên ở cực Bắc mà con người định cư tới, thị trấn Longyearbyen nằm lọt thỏm giữa hòn đảo Spitsbergen lạnh giá thuộc Na Uy. Tại đây, người ta từ lâu đã cho đóng cửa nghĩa trang thị trấn, với lý do hết sức đơn giản: việc ma chay bị coi là điều cấm kỵ trên đảo. “Nếu bạn có dấu hiệu sắp “không còn được thấy ánh sáng mặt trời” nữa, đừng lo vì người ta sẽ cố gắng hết sức để đưa bạn vào đất liền”, đó là chia sẻ của ông Jan Christian Meyer, một kĩ sư lâu năm và hiện là phó giáo sư kiêm nhiệm tại Đại học Công nghệ và Kĩ thuật Quốc gia tại Trondheim, Na Uy.

Với dân số vào khoảng 2.000 người, nơi đây chứng kiến nhiều cảnh tượng kỳ vĩ, chẳng hạn như Cực quang phương Bắc (Aurora Borealis) sáng rọi vào buổi tối, hòa quyện cùng với lớp băng tuyết để tạo thành một buổi trình diễn ánh sáng tuyệt hảo trên bầu trời đêm. Người dân ở đây cũng nổi tiếng với món bánh mỳ kebab trứ danh. Nhưng, ẩn chứa sau vẻ đẹp đầy “kì ảo” ấy là một tập quán có phần “hủ tục”.

3 thị trấn không cho phép chôn cất người chết: Địa điểm đầu tiên từng được UNESCO công nhận là di sản văn hoá thế giới - Ảnh 3.

Cực quang phương Bắc phản chiếu lên bầu trời thị trấn Longyearbyen khi đêm về

Nhiệt độ tại Longyearbyen thường xuyên tụt xuống dưới mức 0 độ C, điều đó khiến cho băng giá có cơ hội bao phủ toàn bộ diện tích của thị trấn trong nhiều tháng liên tiếp. Rất nhiều thảm thực vật hay động vật đều bị chôn vùi dưới làn tuyết lạnh cóng, ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống. Một trong số đó liên quan mật thiết đến người chết. Vào những năm 1950 của thế kỷ trước, người dân địa phương nhận thấy rằng, lớp băng giá trên mặt đất gây cản trở không nhỏ và làm chậm quá trình phân hủy xác chết. Nhiều thi thể người chết, sau khi được an táng tại nghĩa trang, đều bị băng tuyết dồn ứ và đẩy lên khỏi phần mộ trong tình trạng hoàn toàn lành lặn.

Thêm nữa, cách đây vài thập kỉ, một cơn đại dịch cúm có nguồn gốc từ Tây Ban Nha bỗng bùng phát và lan rộng ra khắp thế giới, tiêu diệt gần 5% dân số toàn cầu chỉ trong vòng 3 năm. Số người dính phải mầm bệnh thậm chí còn cao hơn gấp 5 lần và không ít trong số đó đã di chuyển đến thị trấn Longyearbyen để định cư. Trong số đó, khoảng hơn chục người đã ngã bệnh mà chết, trước khi được chôn cất tại chính nghĩa trang thị trấn trong khoảng thời gian từ năm 1918 đến 1920.

3 thị trấn không cho phép chôn cất người chết: Địa điểm đầu tiên từng được UNESCO công nhận là di sản văn hoá thế giới - Ảnh 4.

Quang cảnh thị trấn Longyearbyen vào năm 1908.

Chính bởi hai lý do trên, chính quyền thị trấn quyết định tuyên bố cấm tuyệt đối việc tổ chức ma chay cho người chết ở trên hòn đảo, nhằm tránh nguy cơ lây lan các căn bệnh truyền nhiễm. Ông Mayer, trong một lần trả lời câu hỏi của tờ báo Daily Mail, đã giải thích rằng: “Mặt đất băng giá khiến thi thể người chết không thể phân hủy được trước khi bị trồi lên mặt đất. Thêm vào đó, nó còn giúp duy trì và ủ mầm bệnh mà người đã khuất mắc phải, từ đó khiến việc lây lan ra cộng đồng dân cư trở nên dễ dàng hơn”. 

Kể từ đó, khu vực nghĩa trang bị đóng cửa hoàn toàn, một đạo luật cũng được ban bố nhằm ngăn chặn bất kỳ công tác chôn cất thi thể người chết diễn ra trong tương lai. Để tránh gây hoang mang, chính quyền cũng cho phép một thông cáo bằng văn bản, rằng người bình thường hoàn toàn được chào đón đến thăm và sinh sống tại hòn đảo, chỉ ngoại trừ người chết mà thôi.

3 thị trấn không cho phép chôn cất người chết: Địa điểm đầu tiên từng được UNESCO công nhận là di sản văn hoá thế giới - Ảnh 5.

Thị trấn Longyearbyen ngày nay

Cũng kể từ đó, những người có dấu hiệu sắp không qua khỏi sẽ được đưa lên đất liền và chính phủ Na Uy sẽ tạo mọi điều kiện hỗ trợ để cái chết đến với họ được nhẹ nhàng nhất. Trong trường hợp việc qua đời trên đảo là điều không thể tránh khỏi, thi thể dĩ nhiên sẽ không được phép chôn cất mà thay vào đó sẽ được hỏa táng thành tro cốt trước khi đem chôn xuống đất. Tuy vậy, điều này cần phải được chính quyền chấp thuận. 

Quy trình thực hiện hỏa táng cũng sẽ trở nên phức tạp hơn, do điều kiện khí hậu trên đảo vô cùng khắc nghiệt và nhiệt độ có thể tụt xuống mức thấp nhất vào mùa đông là -17 độ C. Lúc này, khi số lượng gấu Bắc Cực trở nên đặc biệt lớn, việc hỏa táng cần phải được tiến hành khẩn trương với sự cẩn trọng cao độ.

Hiện tại, du khách vẫn có thể đến thăm thú hòn đảo Na Uy xinh đẹp này, cùng ngắm cực quang phương Bắc đầy ma mị và thưởng thức món kebab đã trở thành đặc sản. Nhưng trong số những việc mà họ được phép làm, chết là điều tuyệt đối nên tránh.

3. Ngôi làng Sellia, vùng Calabria (Ý)

Từng là một vùng đất trù phú với dân cư đông đúc lên tới gần 2.000 người vào những năm 60 của thế kỷ trước, hiện tại thị trấn được thành lập từ thời trung cổ này chỉ còn khoảng 577 người sinh sống. Đa phần cư dân tại ngôi làng nhỏ này đều đã bước sang tuổi 65, trong số đó phổ biến là những phụ nữ trung niên đã góa chồng. Và để tránh tình trạng già hóa dân số đang ngày một trở nên nghiêm trọng cũng như nâng cao nhận thức của người dân về việc chăm sóc sức khỏe, chính quyền thị trấn này đã quyết định đưa ra một quyết sách vô cùng độc đáo.

Năm 2015, thị trưởng thị trấn là ông Davide Zicchinella đã ký đạo luật Ordinanza 11, trong đó ghi rõ “cấm tuyệt đối người ốm xuất hiện trong khu vực thị trấn”. Cái chết bị coi là điều đặc biệt cấm kỵ. Người dân buộc phải tham gia các dịch vụ khám và chăm sóc sức khỏe thường niên. Những ai không tuân thủ hoặc cố ý làm trái đạo luật này sẽ bị đánh thuế thu nhập cao hơn thông thường, đồng thời sẽ phải chịu mức phạt tương đương 10 euro một năm (khoảng 280 nghìn đồng).

3 thị trấn không cho phép chôn cất người chết: Địa điểm đầu tiên từng được UNESCO công nhận là di sản văn hoá thế giới - Ảnh 6.

Hiện tại, thị trấn Sellia chỉ còn khoảng 577 người sinh sống.

Tuy nghe thì có vẻ khôi hài, nhưng thực chất ý định của chính quyền thị trấn Sellia lại hoàn toàn có cơ sở. Thị trưởng Davide lên tiếng trấn an người dân: “Chúng tôi thực hiện quy định này không phải với thái độ đùa cợt, mà thực sự đây là một vấn đề nghiêm trọng, đe dọa đến an ninh của thị trấn. Sellia và những đô thị khác ở phía Nam nước Ý đang chịu cảnh suy giảm dân số vô cùng nan giải và biện pháp này sẽ thúc đẩy người dân có ý thức giữ gìn sức khỏe của mình hơn. Từ đó, họ sẽ có trách nhiệm sống tốt hơn để phục vụ cộng đồng”.

“Những ai có thái độ bất hợp tác hoặc phớt lờ những mối nguy hại đến sức khỏe bản thân sẽ bị yêu cầu đóng thêm thuế thu nhập và chịu những mức phạt cần thiết”, Zicchinella nói. Ông cũng tuyên bố rằng, chính quyền thị trấn sẽ có biện pháp để theo dõi xem liệu người dân có đăng ký khám sức khỏe định kỳ đầy đủ hay không. Bên cạnh đó, hệ thống giao thông công cộng cũng như mạng lưới các bệnh viện, phòng khám cũng được cam kết sẽ nâng cấp sớm về cả chất lượng lẫn quy mô trong thời gian tới, nhằm đáp ứng yêu cầu của quy định mới do chính quyền ban hành.

Có lẽ với lý do hoàn toàn liên quan mật thiết đến y tế công như trên, việc cấm đoán người chết trở nên dễ dàng được chấp nhận hơn, đặc biệt là với những khách du lịch khi đến thăm thị trấn xinh đẹp này.

3 thị trấn không cho phép chôn cất người chết: Địa điểm đầu tiên từng được UNESCO công nhận là di sản văn hoá thế giới - Ảnh 7.

Năm 2015, thị trưởng thị trấn là ông Davide Zicchinella đã ký đạo luật Ordinanza 11, trong đó ghi rõ “cấm tuyệt đối người ốm xuất hiện trong khu vực thị trấn”.

Nguồn: The Vintage News, Oddity Central, The Guardian, TeleSUR

Đọc thêm:

Categories: Chuyện Lạ
bí ẩn giấc mơ

Giấc mơ bí ẩn báo mộng ở phương Tây

Giấc mơ bí ẩn là một chủ đề cực kì phổ biến, bởi vì ai cũng đều nằm mơ. Từng có thống kê rằng, tổng thời gian nằm mơ trong đời người có thể lên đến 6 năm. Vì sao đời người ta lại mất nhiều thời gian nằm mơ như vậy?

Giấc mơ là một chủ đề cực kì phổ biến, bởi vì ai cũng đều nằm mơ. (Ảnh minh họa: internet)

Mọi người thường nói: “Ngày nghĩ gì, đêm mơ đó”, nhưng có một loại giấc mơ bí ẩn không liên quan đến “suy nghĩ ban ngày”, đó chính là thác mộng hay báo mộng. Báo mộng không giống với những giấc mộng thông thường, khi chúng ta y theo cảnh trong giấc mơ đó thì sẽ đạt được những kết quả bất ngờ, mọi người gọi đó là những giấc mơ bí ẩn. Dưới đây là một số câu chuyện có liên quan đến giấc mơ bí ẩn:

Sử thi “Thần Khúc” của Dante suýt chút nữa là không thể hoàn thiện

Tranh vẽ Dante đang cầm tác phẩm Thần khúc, và cảnh báo con người về những gì mà họ sẽ gặp phải tại Địa ngục, 1465, họa sĩ Domenico di Michelino.

Bộ sử thi nổi tiếng nhất thời kỳ Phục Hưng mang tên “Thần Khúc” (tiếng Ý: Divina-Commedia), là tác phẩm của một nhà thơ người Ý tên là Dante Alighieri. Dante sáng tác bộ sử thi này từ năm 1307 đến năm 1321, trong bộ sử thi dài hơn 14.000 dòng này, Dante đã mô tả chân thực chuyến đi của mình đến địa ngục, thiên đường và nhiều cảnh đối thoại của những nhân vật nổi tiếng khác.

Có thể nói rằng đây là một tác phẩm thần truyền vĩ đại. Tuy nhiên, rất ít người biết rằng “Thần Khúc” của Dante được ra đời theo sự dẫn lối của một giấc mơ huyền bí, và chỉ thiếu chút nữa thì tác phẩm này đã không thể được hoàn thiện.

Chuyện kể rằng, khi về già Dante sống ở Ravenna, khi “Thần Khúc” vừa được viết xong bản thảo, ông đã đến Venice để làm việc, và không may bị nhiễm sốt rét. Không lâu sau khi quay lại Ravenna, ông đã qua đời vào ngày 14/9/1321. Ông đã không thể hoàn thành việc xuất bản “Thần Khúc” khi còn sống, và bản thảo đó vẫn được đặt tại nhà.

Sau khi hai con trai của Dante là Jacob và Peter chôn cất cha xong, họ đột nhiên phát hiện một phần bản thảo của “Thần Khúc” đã biến mất. Anh em họ đã tìm kiếm khắp ngôi nhà, tìm cả trong mớ tài liệu mà cha để lại, họ kiên trì tìm kiếm hàng tháng trời nhưng vẫn không thể tìm thấy chúng. Hai anh em biết rằng vấn đề này rất quan trọng nên vô cùng lo lắng.

Vài tháng sau đó vẫn không thể tìm thấy, họ gần như tuyệt vọng. Bỗng dưng một ngày nọ, Jacob đột nhiên có một giấc mơ, trong mơ anh thấy cha mình đang mặc một chiếc áo choàng trắng, xung quanh là hào quang. Anh vội hỏi cha đã hoàn thành “Thần Khúc” chưa? Dante gật đầu và chỉ cho đứa con vị trí của tấm bản thảo ở trong phòng.

Jacob đã mời một luật sư đến làm chứng, và đi đến nơi Dante đã chỉ trong giấc mơ, quả nhiên nhìn thấy một bảng khắc chữ ở trên tường. Anh ta đẩy cái bảng ra thì thấy một số bản thảo cũ và một vài trang giấy đã bị mốc trong đó. Họ cẩn thận nhặt các bản thảo, phủi sạch bụi bẩn, và đọc kỹ phần văn bản ở trên đó, đó đúng là phần bản thảo còn thiếu trong “Thần Khúc”.

Giấc mơ huyền bí này đã giúp hai anh em Jacob thực hiện được di nguyện của cha, hoàn thành việc xuất bản tác phẩm, một bộ sử thi thần thánh hoành tráng, và “Thần Khúc” của Dante đã được ra đời một cách nhiệm màu như vậy.

William Blake – Một trải nghiệm báo mộng diệu kì

Tác phẩm “Oberon, Titania và Puck với những nàng tiên đang nhảy múa” của William Blake.

William Blake (1757 – 1827) là nhà thơ và họa sĩ đệ nhất nước Anh vào thế kỷ 18, cả đời ông đã tạo ra nhiều tác phẩm vượt trội để xây dựng một tôn giáo có nội hàm, một cảnh giới thống nhất giữa thần thoại và thơ ca hội họa.

Các tác phẩm quan trọng của ông bao gồm các bộ sưu tập thơ như “Eternal Gospel” (Phúc âm vĩnh hằng), “Innocence and Experience Song” (Bài ca về ngây thơ và kinh nghiệm), “Prophet” (Sách tiên tri), “Phadra, hoặc Four Gods” (Bốn vị thần)…  “Jerusalem” là hiện thân thành tựu nghệ thuật của William Blake.

Blake sinh ra trong một gia đình dệt kim nghèo khó ở London, ông chưa từng nhận được sự giáo dục chính thức. Năm 14 tuổi ông học việc điêu khắc, sau đó ông theo học mỹ thuật tại Học viện Nghệ thuật Hoàng gia Anh vào năm 1779.

Cuộc đời ông đã kinh qua một trải nghiệm hết sức độc đáo, đó là vào năm ông 4 tuổi đã nhìn thấy các cảnh tượng tôn giáo, ông đã từng thấy các nhà hiền triết cổ xưa được chôn cất trong các nhà thờ ở Westminster, và ông đã vẽ lại những bức tranh về họ.

Hầu hết các bức tranh của ông đều tái hiện lại những nhân vật mà ông đã nhìn thấy trong khi nhập tĩnh, ví dụ như bức tranh minh họa của ông trong bài thơ “Châu Âu: Một lời tiên tri” (Europe: A Prophecy) chính là như thế.

Trong bức tranh này có thể thấy, sự hỗn loạn buổi sơ khai, có một ông lão khỏa thân, mái tóc trắng, hàng râu trắng bay phất phơ, bao quanh ông là một vòng tròn có viền ngoài màu vàng và phía trong màu đỏ, ông lão giơ tay trái cầm một cái com-pa cực lớn để đo từng mảng bóng tối ở bên dưới. Ông lão này rõ ràng là Đức Jehovah trong “Kinh Thánh”. Trong “Kinh Cựu Ước” có một đoạn về “trí tuệ” có thể minh chứng cho điều đó.

Từ khi còn là một đứa trẻ, có lần ông đã bị ngã ở trong vườn, sau đó người mẹ liền bế ông lên, thì ông hét rằng: “Con thấy trên cây đầy các thiên thần”. Các tác phẩm nghệ thuật từ thơ ca cho đến hội họa của Blake đều thể hiện lại những gì ông đã thấy.

Ngoài ra, Blake còn là một nhà điêu khắc. Ông muốn sử dụng chính những phát minh của mình để viết thơ và tranh vẽ trên các tấm đồng, và sau đó sử dụng các tấm đồng này để in thành các trang giấy rồi tô màu chúng.

Nhưng việc sáng tác trên bề mặt đồng vô cùng phức tạp và tốn rất nhiều tiền, mà Blake lại không thể gánh vác được các chi phí này. Tuy nhiên ông luôn tìm cách, trong lòng lúc nào cũng suy nghĩ về chuyện này. Chính vào lúc đó, người em trai quá cố của ông là Robert Tome đã báo mộng với ông, trong giấc mộng người em trai đã mô tả chi tiết việc sản xuất các bức tranh đồng.

Sáng hôm sau khi tỉnh giấc, Blake đã đưa cho vợ một nửa đồng curon và bảo cô hãy mua những vật liệu mà người em trai đã dặn dò trong giấc mơ. Trước đó, ông không biết gì về kỹ thuật khắc đồng cả, nhưng sau khi mua được vật liệu về thì tự nhiên tranh đồng được thực hiện.

Giấc mơ kỳ diệu đã giúp Blake có thể kết hợp thơ với các bản in đồng. Blake đã phối hợp thơ ca và tranh đồng thành một thể thống nhất, phản ánh lẫn nhau, từ đó thể hiện một cách hoàn hảo cảnh giới nghệ thuật thống nhất thơ ca hội họa, và trở nên nổi tiếng.

Cô gái bị chết oan trở về báo mộng cho người mẹ

Vào năm 1827, ở London nước Anh có một cặp vợ chồng trẻ đính hôn với nhau là Cordea và Jasmine, họ sắp sửa bước vào một cuộc sống hạnh phúc trong sự chúc phúc của tất cả mọi người.

Tuy nhiên chính vào lúc này thì Cordea đã cảm thấy mệt mỏi với cuộc sống nông thôn, thậm chí không còn muốn kết hôn với Jasmine, cũng không muốn sống ở mảnh đất nhỏ bé kém phát triển này nữa. Nhưng anh ta không thể bỏ đi một mình, đặc biệt là vì anh ta đã có một vị hôn thê.

Vài ngày sau, anh ta tuyên bố sẽ tổ chức một đám cưới bí mật với Jasmine, rồi sẽ đi xa lập nghiệp. Vào tối ngày 18/5, Cordea tổ chức một bữa tiệc sinh nhật, rồi lặng lẽ đưa Jasmine đến một nhà kho màu đỏ trong nhà, và nói với cô rằng không được cho người khác biết cô ở đâu, nếu không thì đám cưới bí mật này sẽ không còn thú vị nữa.

Jasmine ngay lập tức trốn vào nhà kho, và Cordea đã chờ sẵn ở đó. Sau khi thấy Jasmine đến, anh ta đã bắn chết cô và chôn ngay tại chỗ đó.

Sau khi rời xa quê để đến đảo Wilder và kết hôn với một người phụ nữ địa phương, sống trong một cuộc sống hạnh phúc, cùng với sự hỗ trợ của người vợ này, anh ta đã trở thành hiệu trưởng của một trường nữ sinh. Anh thỉnh thoảng vẫn gửi thư về nhà báo rằng mình và Jasmine đang sống một cuộc sống rất hạnh phúc.

Một đêm nọ, sau khi con gái đi mất, bà Mordin – mẹ của Jasmine đã gặp một giấc mơ, trong mơ bà đã nhìn thấy con gái mình bị bắn và máu vương vãi trên nền đất, sau đó lại nhìn thấy lưng của kẻ sát nhân đang đào mộ và ném Jasmine xuống đó, rồi lấp đất giấu đi. Bà Mordin nhớ rất rõ nơi diễn ra chuyện này là nhà kho màu đỏ tại nhà con rể mình.

Sau khi tỉnh giấc, bà Mordine liền đánh thức chồng và kể với ông về giấc mơ khủng khiếp này. “Ôi! Vợ thân mến, bà nhớ con gái của bà quá đó! Nó mới kết hôn thôi mà!”. Rồi người chồng tiếp tục lăn ra ngủ.

Tuy nhiên, giấc mộng này cứ lặp đi lặp lại trong ba ngày liên tiếp khiến bà Moratin bắt đầu lo lắng, sợ hãi, sợ rằng con gái yêu của mình đã gặp phải chuyện chẳng lành, nhưng lá thư của Cordea đã gửi đến, giải trừ hết nỗi nghi hoặc của bà.

Thời gian dần trôi qua, ác mộng cũng không xuất hiện nữa. Nhưng vào một ngày nọ, khi bà đi ngang qua nhà kho màu đỏ của Cordea, vô tình nghe nói rằng đây từng là nơi hò hẹn của con gái và con rể, với trực giác của một người mẹ, bà cho rằng cơn ác mộng kia nhất định là ẩn chứa một điều gì đó. Thế là bà đã yêu cầu chồng mình hành động, và với sự đồng ý của cha mẹ bên con rể, cùng với các nhân viên điều tra, họ đã đến nhà kho này.

Mặc dù bà Mordine chưa bao giờ đến đây, nhưng bà lại chỉ ra được chính xác vị trí thi thể của con gái mình. Nhân viên điều tra đã ra lệnh dời tất cả đồ đạc ra khỏi phòng để bắt đầu khai quật, đầu tiên là đào thấy chiếc khăn choàng của Jasmine, sau đó là tìm thấy thi thể ở độ sâu 46cm.

Dựa vào y phục, hàm răng và đồ trang sức của người chết, có thể xác nhận rằng thi thể chính là Jasmine, thế là sự thật đã được sáng tỏ, oan tình đã được phân giải. Câu chuyện về sự báo mộng của những oan hồn ở châu Âu vào thế kỷ 18 đến nay vẫn còn được lan truyền rồng rãi.

Xem thêm:

Categories: Chuyện Lạ
bí ẩn giấc mơ

Bí ẩn về giấc mơ sẽ khiến bạn ngạc nhiên

Bí ẩn về giấc mơ : Những nghiên cứu khoa học gần đây cho thấy rằng ” Giấc mơ có liên mật thiết tới tình trạng sức khỏe của mỗi người”. Nói cách khác thông qua những giấc mơ chúng ta có thể tiên liệu về hiện trạng sức khỏe, vì nó chính là tấm gương phản chiếu hoạt động của các cơ quan trong cơ thể con người .

  • Mối liên hệ bí ẩn về giấc mơ và sức khỏe .

Có rất nhiều căn bệnh đang “ẩn nấp” trong cơ thể mà bạn mà bạn không dễ dàng phát hiện ra được. Đó là vì hàng ngày não bạn phải “bận rộn” với rất nhiều công việc, các tế bào não luôn ở trong trạng thái bị kích thích nên não càng khó nhận được các “tín hiệu” bệnh tật trong cơ thể phát đi. 

Khi bạn đi ngủ, các tế bào của não bộ được nghỉ ngơi, những kích thích và dấu hiệu thay đổi ngay cả là nhỏ nhất của tâm sinh lý cũng sẽ khó “lọt lưới” hệ trung khu thần kinh. Những tín hiệu này sẽ được não cảm nhận và thể hiện qua các giấc mơ. Khi đó chính giấc mơ sẽ cho bạn biết về tình trạng sức khoẻ của cơ thể mình. Đó là bí ẩn về giấc mơ mà con người muốn khám phá.

Xem thêm : Dịch chuyển tức thời: Vật chất có thể di chuyển nhanh hơn ánh sáng?

  • Giấc mơ của bạn nói lên điều gì?

Khi bạn mơ thấy có ai đó dùng tay hoặc vật khác đánh vào đầu của mình hoặc mơ thấy những trận ẩu đả kịch liệt. Khi dậy, bạn có cảm giác đau đầu giống như trong giấc mơ. Đây chính là dấu hiệu của các căn bệnh về não như: rối loạn tiền đình, tổn thương não cục bộ, u não…

bí ẩn về giấc mơ

Trong mơ, bạn nghe thấy những âm thanh lạ chói tai, rất khó chịu và bạn không thể thoát khỏi âm thanh đó. Khi đó, hãy nghĩ ngay tới căn bệnh xơ cứng động mạch đang “tiềm ẩn” trong cơ thể.   – Bạn mơ thấy mình đang nằm trên giường bệnh với các triệu chứng như ho, khó thở, tim đập nhanh. Khi tỉnh dậy, bạn không còn cảm giác đó nữa. Hãy cẩn thận với các căn bệnh về đường hô hấp.

Bạn mơ thấy dường như có vật gì đó đang đè nặng lên cơ thể, làm bạn bất động. Hoặc bạn bị rơi từ trên cao xuống và bất chợt tỉnh giấc. Rất có thể bạn đang mang trong mình bệnh đau tim. Ngoài ra bạn khi bạn mơ thấy có người đang đuổi theo mình, bạn cảm thấy sợ hãi và cần sự giúp đỡ nhưng không thể kêu cứu được, chân không thể đi. Tỉnh dậy, bạn vẫn còn cảm giác run sợ, toát mồ hôi, tim đập nhanh. Tình trạng này xuất hiện khi lượng máu qua thành động mạch của tim không đủ, dẫn tới những “căng thẳng” cho hoạt động của tim.

Những hiện tượng lạ của tự nhiên xuất hiện trong giấc mơ của bạn, ví dụ như: lũ lụt, hạn hán, đầm lầy, rừng rậm… Hãy nghĩ ngay tới những “trục trặc” trong hoạt động của gan và dạ dày , nó đang gặp vấn đề bạn cần lưu ý .

Team TGBA tổng hợp.

Xem thêm :

Categories: Chuyện Lạ

Năng lượng từ trái tim: Trường điện từ kết nối cảm xúc và con người

Viện nghiên cứu HeartMath (Institute of HeartMath – IHM) cho biết trái tim có thể tạo ra trường điện từ rất mạnh. Trường điện từ này thấm vào mọi tế bào và có thể hoạt động như một tín hiệu đồng bộ cho cơ thể, tương tự như thông tin mang bởi sóng vô tuyến. Đặc biệt, nghiên cứu cũng cho thấy năng lượng này không chỉ được truyền đến não bộ mà còn có thể được người khác phát hiện trong một phạm vi giao tiếp nhất định. Dữ liệu cũng cho thấy các tế bào được nghiên cứu trong ống nghiệm cũng phản ứng với trường điện từ sinh học của trái tim.

(ảnh: iStock)

Nghiên cứu của IMH cho thấy trái tim tạo ra trường điện từ lớn nhất trong cơ thể. Điện trường được đo bằng điện tâm đồ (ECG) có biên độ lớn hơn khoảng 60 lần so với sóng não được ghi lại trong điện não đồ (EEG). Thành phần từ trường của tim, mạnh hơn khoảng 5.000 lần so với bộ não tạo ra, không bị cản trở bởi các mô và có thể đo được ở cách cơ thể vài mét.

Trái tim giữ vai trò quyết định cảm xúc chứ không phải não bộ

Tại IHM, Tiến sỹ McCraty và cộng sự đã tích lũy các bằng chứng thuyết phục cho thấy nhịp điệu của tim (rhythms of the heart) – được định nghĩa là biến thiên nhịp tim (heart rate variability- HRV) – có rất nhiều tác dụng chứ không chỉ giữ cho máu lưu thông trong cơ thể. HRV có xu hướng không ổn định và rối loạn trong lúc con người cảm thấy căng thẳng, tạo ra sự truyền dẫn tín hiệu từ tim đến não làm ức chế khả năng suy nghĩ tỉnh táo và đưa ra quyết định hiệu quả của con người. Tuy nhiên, trong trạng thái cảm xúc tích cực, nhịp điệu của trái tim là một dạng sóng mượt mà và hài hòa (coherence patterns).

Tiến sỹ Y khoa Karl Pribram, người được coi là cha đẻ của khoa học thần kinh nhận thức hiện đại, đã giới thiệu ý tưởng rằng bộ não người ở cấp độ chức năng chỉ là một hệ thống nhận biết và lưu trữ các mẫu trải nghiệm nhận thức và trải nghiệm cảm xúc (cognitive and emotional experiences). Priham cho rằng, vì trái tim là nguồn gốc chính của mọi dạng sóng (patterns) có nhịp điệu (rhythmic) trong cơ thể, trái tim giữ vai trò chính trong trải nghiệm cảm xúc của mỗi chúng ta.

Tin tưởng vào những phát hiện mang tính bước ngoặt của Karl Pribram, tiến sĩ McCraty phát biểu: “Lý thuyết vững chắc từ một nhà thần kinh học học hàng đầu thế giới cho thấy rằng trái tim không chỉ là một phép ẩn dụ trong trải nghiệm cảm xúc của chúng ta. Não bộ diễn giải các dạng sóng trong trái tim, và chúng tôi (tại IHM) đã chứng minh rằng những cảm xúc khác nhau được phản ánh trong các dạng sóng khác nhau trong nhịp điệu của tim (patterns of heart rhythm).”

Một nhà thần kinh học hàng đầu cũng hỗ trợ cho lý thuyết này. Tiến sỹ Y khoa J. Andrew Armor, người có các bài viết trong các ấn phẩm học thuật cao cấp, nói rằng trái tim về cơ bản có bộ não nội tại của chính nó. Ủng hộ quan điểm trên, Tiến sỹ McCraty cho biết: “Hiện nay chúng ta biết rằng trái tim gửi nhiều thông tin đến não hơn so với bất kỳ thứ gì khác”.

Trái tim giữ vai trò quan trọng trong các trải nghiệm cảm xúc, nó gửi thông tin đến não nhiều hơn chiều ngược lại (ảnh: mujeralquimia.com)

Các nhà nghiên cứu tại IHM đã tiếp tục phát triển các kỹ thuật để chuyển các dạng sóng HRV không ổn định sang các dạng sóng hài hòa (coherence) dẫn đến trạng thái tích cực hơn. Họ đã chứng minh lâm sàng rằng các nhịp điệu hài hòa của tim sẽ cải thiện tổng thể các chức năng nhận thức, ra quyết định và ổn định tình cảm của con người.

IHM cũng phát hiện rằng dạng sóng thể hiện sự biến thiên nhịp đập của tim sẽ biến đổi một cách rõ rệt khi một người trải nghiệm các cảm xúc khác nhau. Những thay đổi trong trường điện từ, áp suất âm thanh, huyết áp được tạo ra bởi sự biến đổi nhịp điệu của tim được cảm nhận bởi mọi tế bào trong cơ thể, tiếp tục hỗ trợ vai trò như một tín hiệu đồng bộ cơ thể của trái tim.

Nhịp tim một cá nhân đang rối loạn chuyển sang dạng sóng điều hòa khi họ chuyển từ thất vọng sang trạng thái biết ơn (ảnh: heartmath.org)

Trái tim là “Tổng đài” kết nối tất cả chúng ta?

Nghiên cứu tiếp theo của IHM về trực giác và tim có thể nâng cao hơn nữa tình trạng của tim. “Những nghiên cứu này chỉ ra rằng tim đang phản ứng với mọi thứ ngay cả trước khi bộ não phản ứng”, tiến sĩ McCraty nói. Khái niệm trực giác của trái tim không chỉ là một lý thuyết “vớ vẩn”; nó được hỗ trợ tốt bởi các dữ liệu sinh lý được thu thập một cách nghiêm ngặt từ một phân tích lớn bao gồm 20 nghiên cứu.

Tuy nhiên, ngay cả “khả năng” này của trái tim có thể cũng chỉ là phần nổi của tảng băng trôi. Lý thuyết cho rằng trái tim có thể giao tiếp với nhau và tập hợp sức mạnh của con người đang được quan tâm một cách nghiêm túc. “Trái tim không chỉ là một thực thể vật lý” Tiến sỹ McCraty cho biết. “Chúng ta cũng có trái tim tràn đầy năng lượng. Chúng tôi gợi ý rằng trái tim là một tổng đài thông tin cơ bản.” Con người thực sự có thể được kết nối với nhau theo cách tương tự như cách các điện thoại di động trao đổi thông tin với nhau.

Con người có thể được kết nối với nhau “từ trái tim đến trái tim” (ảnh: IHM/Youtube)

Đây là chủ đề nhận được nhà báo Ed Decker quan tâm đặc biệt do một trải nghiệm ông đã có nhiều năm trước. Ông từng cảm thấy một làn sóng lo lắng dâng lên vào chính xác thời điểm khi mẹ ông đột quỵ cách đó khoảng 4.000km. Tiến sỹ McCraty giải thích với Ed Decker rằng đó không phải là một trùng hợp ngẫu nhiên mà đó là hiện tượng thu nhận tín hiệu: “Rất nhiều nghiên cứu cho thấy những gì chúng ta hòa hợp là những thứ chúng ta có liên kết hoặc kết nối, là những thứ liên quan hoặc quan trọng với chúng ta về mặt cảm xúc. Sự liên kết này điều chỉnh (tune) chúng ta đến một tần số cụ thể. Chúng ta tạo ra các tần số cộng hưởng để chọn ra những làn sóng.”

Trong thực tế, kết nối này giữa con người hoạt động như một thiết bị phát vô tuyến và Wifi, và những tín hiệu này ở xung quanh chúng ta trong không gian vào mọi thời điểm. Với trường hợp Ed Decker, Tiến sỹ McCraty nói rằng, ông đã được điều chỉnh đặc biệt để hợp với tín hiệu của mẹ ông.  

Trường điện từ sinh học tạo ra bởi trái tim mỗi người có thể kết nỗi với nhau (ảnh: IHM)

Tiến sỹ McCraty nói thêm rằng từ trường của Trái Đất có thể hỗ trợ sự truyền tín hiệu giữa mọi người. “Từ trường của trái đất là một làn sóng mang thông tin liên quan đến sinh học,” ông nói. “Đây là thứ kết nối tất cả chúng ta. Nó cũng là một phần của trực giác: làm thế nào một người mẹ biết con trai hay con gái của bà đang đau khổ ở phía bên kia hành tinh. Có thứ gì đã truyền đạt thông tin đó, điều này dường như thường xảy ra gần như ngay lập tức. Theo giả thuyết của tôi, đó chính xác là từ trường của trái đất, và có một số lượng lớn các bằng chứng ủng hộ điều này.”

Video về trường điện từ sinh lý được tạo ra bởi trái tim:

Nghiên cứu của IHM về vấn đề này có thể được tải ở đây.

Theo rewireme.com và heartmath.org
Thiện Tâm tổng hợp

Xem thêm :

Categories: Chuyện Lạ

Trục Mundi – Nơi giao hội giữa thiên đường và Trái Đất

Có rất nhiều cái tên mô tả bản chất và ý nghĩa của trục Mundi. Nó thường được gọi là cột chống trời, trục Trái đất, hay trung tâm của thế giới. Đây chỉ là một vài trong số những cái tên mô tả trục Mundi, được tìm thấy trong rất nhiều nền văn hóa trên khắp thế giới.

 Trục Mundi - Nơi giao hội giữa thiên đường và Trái Đất. Ảnh 1
Thiên nhiên cũng có thể được coi là một trục Mundi. (Ảnh trên youTube)

Đơn giản thì trục Mundi có nghĩa là nơi giao hội giữa trời và đất, giữa thiên thượng và hạ giới, nơi con người có thể kết nối trực tiếp với các vị thần mà không bị giới hạn bởi địa lý hay các tín ngưỡng tôn giáo.

Một sự thật thú vị về trục Mundi là nó không bị giới hạn ở một nơi nào trên Trái Đất hay chỉ ở những thực thể tự nhiên. Nhiều địa điểm có thể được xem là trục Mundi. Một số công trình nhân tạo cũng có thể là trục Mundi.

Những ngọn núi có thể là trục Mundi

Núi là một trong những nơi phổ biến nhất được xem là trục Trái đất, người xưa tin rằng đó là nơi giao thoa giữa thiên thượng và hạ giới. Đối với tộc người da đỏ Sioux ở Dakota, Bắc Mỹ thì ngọn núi Black Hills là trục Trái đất.

Người Nhật lại cho rằng núi Phú Sĩ là nơi giao thoa giữa trời và đất. Đối với người Trung Quốc, thì đó là núi Côn Lôn thần thoại, với người Ấn Độ giáo là cả núi Tu Di ở Ấn Độ và núi Kailash, Tây Tạng.

Bích họa mô tả núi Tu-di ở Wat Sakhet, Bangkok, Thái Lan. (Ảnh qua Wikipedia)

Người Hy Lạp thì nghĩ rằng núi Olympus là nơi kết nối giữa thiên đàng và mặt đất. Người Aztec cho rằng núi Machu Picchu là trung tâm tâm linh của thế giới và xây dựng làng xã ở đó để dễ tiếp cận hơn với các vị thần. Các ngọn núi đều có hình dáng đồ sộ, hùng vĩ và độ cao của chúng làm cho chúng gần với thiên đường.

Chúng ta có thể bổ sung thêm núi Đền ở Thành phố cổ Jerusalem vào danh sách này do câu chuyện phục sinh trong Kinh thánh và câu chuyện Mohammad cưỡi thiên mã lên trời. Các tín ngưỡng tâm linh cũng đóng vai trò to lớn trong cách nhìn nhận trục Mundi của các nền văn minh thuở đầu.

Vị trí địa lý

Trong một bản đồ thời Trung cổ, thành phố Jerusalem cũng được đặt ở trung tâm của thế giới. (Ảnh qua Tourist Israel)

Một số quốc gia và thành phố cũng được xem là trục Mundi. Chẳng hạn như Trung Quốc cổ đại được ví là Thần Châu, người Trung Quốc cổ đại tin rằng vương quốc của họ là trung tâm của Trái đất và có mối liên hệ đặc biệt với thiên thượng. Đây cũng là nơi từng xuất hiện vô số câu chuyện thần thoại, những vị tu luyện đắc Đạo thành tiên, hay những bậc đế vương là thần chuyển sinh truyền thừa văn hóa. Từ Trung Quốc cũng có nghĩa là trung tâm chi quốc hay đất nước trung tâm.

Trong một bản đồ thời Trung cổ, thành phố Jerusalem cũng được đặt ở trung tâm của thế giới. Còn người Hồi giáo thì cho rằng thành phố Mecca có mối liên hệ đặc biệt với thiên đường.

Các tòa nhà

Tính linh động của trục Trái đất không dừng lại ở những thực thể tự nhiên hay vị trí địa lý. Người Sumer và Babylon cổ đại cho rằng các tòa nhà cũng có thể kết nối với thiên thượng. Họ xây dựng các kiến trúc ziggurat (loại hình kiến trúc kiểu bệ núi tầng bậc, trên đỉnh có một đền thờ nhỏ) để chứng minh quan điểm của mình.

Đế Quốc Khmer đã cho xây dựng đền Angkor Wat vào thế kỉ XII vì những lý do tương tự. Thiết kế của ngôi đền phản chiếu hình ảnh núi Tu Di, họ cũng quan niệm rằng Angkor Wat là một nơi đặc biệt để kết nối với các vị thần.

Thiên nhiên cũng có thể được coi là một trục Mundi

Hình ảnh có liên quan
Những người tu Phật và Đạo tin rằng trong khi thiền định, nguyên thần có thể rời khỏi thân thể để đến thế giới khác. (Ảnh: Internet)

Trong thần thoại Bắc Âu, người ta tin rằng cây Yggdrasil là “Cây thế giới” nối liền 9 thế giới khác nhau. Các pháp sư được cho là có khả năng du hành đến các thế giới khác để học cách chữa bệnh, có được trí tuệ và tái sinh các linh hồn.

Nhiều người cũng cho rằng cơ thể người có thể có mối liên hệ đặc biệt với các cõi thiên đường. Những người tu Phật và Đạo tin rằng trong khi thiền định, nguyên thần (linh hồn) người ta có thể rời khỏi thân thể để đến thế giới khác và câu thông với các sinh mệnh ở đó. Quan niệm cơ thể người là một trục Mundi cũng có thể được tìm thấy trong Kitô giáo.

Sách Hebrews, chương 8 câu 10 nói: “Này là giao ước mà Ta sẽ lập với nhà Israel sau những ngày đó”, Chúa lại phán: “Ta sẽ để luật pháp ta trong trí họ và ghi tạc vào lòng. Ta sẽ làm Đức Chúa Trời họ. Họ sẽ làm dân ta”.

Các môn khí công, yoga cũng góp phần cho thấy cơ thể người là một vật dẫn để kết nối với các thế giới tâm linh không thể nhìn thấy bằng mắt thường.

Hình thức của trục Mundi

Có thể thấy, hình thức của trục Mundi và cái tên mà mọi người gọi nó ra sao không quan trọng. Bất cứ thứ gì được coi là nơi kết nối giữa trời và đất đều có thể được xem là trục Mundi. Vì thế người cổ đại rất tôn kính và xem đó là một nơi thiêng liêng. Nó mở ra cho họ một mục đích sống, là nơi họ có thể đến để kết nối và lĩnh hội những khải thị từ các vị Thần.

Nó giúp họ liên kết với thế giới xung quanh khi tiếp xúc với các quốc gia khác. Nó mang đến cho họ hy vọng rằng có một cái gì đó siêu phàm vượt trên cuộc sống trần tục nơi Trái đất.

Tiểu Phúc, theo Ancient Pages

Categories: Chuyện Lạ

Công trình kỳ lạ: Chiếc hố nằm giữa hồ nước tuyệt đẹp của Bồ Đào Nha

Đó là sự tài tình và sáng tạo của các kỹ sư xây dựng Bồ Đào Nha trong thế kỷ 20. Bằng trí thông minh và chút cảm hứng nghệ thuật, họ đã tạo ra một công trình dẫn nước hết sức tuyệt vời.

Hố chìm nhân tạo Covão dos Conchos. (Ảnh qua Roadtrippers Chronicles)

Covão dos Conchos là một hố chìm nhân tạo được xây dựng bởi các kỹ sư của Bồ Đào Nha vào năm 1955. Nó nằm trong hồ Lagoa Serra da Estrela của núi Serra da Estrela, dãy núi cao nhất tại Bồ Đào Nha.

Nổi tiếng nhờ một đoạn video chỉ dài có 3 phút

Nhìn từ trên cao, đập Covão dos Conchos nom hệt như một cánh cổng bí ẩn dẫn qua thế giới khác vậy. Chỉ có điều, nó không phải là tạo tác của thiên nhiên, mà là kỳ quan của kỹ thuật hiện đại. Tuy nhiên, phải đến tận năm 2016, thế giới mới biết đến chiếc phễu nhân tạo kỳ bí này có tồn tại, nhờ hai người có tên là Daniel Alvez và Hélder Tavares.

Daniel Alvez và Hélder Tavares là những người thích chơi drone (thiết bị bay không người lái). Đầu năm 2016, trong khi đang điều khiển một drone ở núi Serra da Estrela, họ vô tình quay được cảnh một hồ nước bí ẩn nằm trên núi. Kỳ dị là giữa lòng hồ này lại có một cấu trúc tròn vành vạnh hệt như miệng phễu. Nước từ trong lòng hồ chảy tràn vào nó và biến mất một cách lạ lùng.

Mặc dù chỉ dài có 3 phút, nhưng ngay khi vừa được đăng lên mạng xã hội, đoạn ghi hình của Daniel Alvez và Hélder Tavares đã thu hút cả triệu lượt xem. Người ta bắt đầu tò mò về chiếc phễu kỳ lạ, trông giống như một cánh cổng địa ngục giữa vùng núi hoang vắng, tịnh không bóng người này.

Một công trình dẫn nước ngầm độc đáo

Tại Bồ Đào Nha, Serra da Estrela được coi là dãy núi cao nhất, nhưng ngay cả đỉnh cao nhất của nó cũng mới chỉ đạt mức 1993m mà thôi. Nếu đem so với các đỉnh núi 7000-8000m trên thế giới, nó thật sự chẳng có gì nổi bật.

Năm 1955, trong quá trình xây dựng một đập thủy điện ở vùng núi Serra da Estrela, các kỹ sư của Bồ Đào Nha nhận thấy họ cần tận dụng cả nước của hồ Lagoa Serra da Estrela cho đập Lagoa Comprida.

Chiếc hố nằm giữa hồ nước kỳ lạ này là cả một công trình trí tuệ hiếm có của nhân loại - Ảnh 2.
(Ảnh qua Helino)
Chiếc hố nằm giữa hồ nước kỳ lạ này là cả một công trình trí tuệ hiếm có của nhân loại - Ảnh 3.
Covão dos Conchos vào mùa đông. (Ảnh qua Helino)

Trong khi hồ Lagoa Serra da Estrela chỉ là một hồ nước nhỏ, thì đập Lagoa Comprida nổi tiếng là vĩ đại. Nó cũng chính là đập trữ nước quan trọng nhất của Lục địa Bồ Đào Nha.

Kể từ năm 1912, người Bồ Đào Nha bắt đầu bắt tay vào việc biến hồ Lagoa Comprida tự nhiên thành đập chứa nước. Sau 2 năm, đê ngăn cao 6m được hình thành. Người ta vẫn tiếp tục đắp, đến năm 1934 thì đạt 15m, và tới năm 1965 thì đạt hẳn 28m.

Sau khi hoàn thành, con đập ngăn nước này dài tới 1200m, giữ được khoảng 12 triệu mét khối nước. Và một phần trong cái dung tích khổng lồ ấy là đến từ Laca Serra da Estrela.

Cái thú vị là thay vì thiết lập một đường ống dẫn nước từ Laca Serra da Estrela tới Lagoa Comprida, các kỹ sư của Bồ Đào Nha lại đục hẳn một đường hầm xuyên qua núi để nối liền 2 hồ.

Chiếc hố nằm giữa hồ nước kỳ lạ này là cả một công trình trí tuệ hiếm có của nhân loại - Ảnh 6.
Lagoa Comprida, đập trữ nước lớn nhất Bồ Đào Nha, có một phần là dẫn từ Laca Serra da Estrela xuống. (Ảnh qua Helino)

Là hố chìm nhân tạo nhưng lại mang dáng vẻ huyền bí đầy mê hoặc

Chính xác thì Covão dos Conchos chỉ là một miệng hố chìm được xây bằng bê tông và đá granite để dẫn nước từ hồ Laca Serra da Estrela xuống đập Lagoa Comprida. Chỉ tại Laca Serra da Estrela nằm trên vùng núi quạnh quẽ mà cái phễu xi măng lẽ ra chẳng có gì lạ mới bất thần trở nên kỳ bí.

Trải qua thời gian, những hạt cỏ mắc trên thành miệng phễu phủ rêu do ẩm ướt cũng nảy mầm, đâm rễ, bám chặt không buông. Lâu dần, nó khiến cho cái hố chìm xám xịt thành ra xanh tốt.

Chiếc hố nằm giữa hồ nước kỳ lạ này là cả một công trình trí tuệ hiếm có của nhân loại - Ảnh 8.
(Ảnh qua Helino)

Cũng chính nhờ đám cỏ, rêu ấy mà Covão dos Conchos ngày càng mất đi dáng vẻ nhân tạo, hoàn toàn hòa mình vào sự hoang dã của Serra da Estrela.

Khi mùa đông đến và mặt nước hồ Laca Serra da Estrela bị đóng băng, cái hố chìm nom hệt như cánh cổng địa ngục này lại càng tăng thêm vẻ thần bí. Cả thác nước đổ xuống lẫn thảm thực vật kiên gan trên thành phễu cũng đều bị đóng băng. Chúng tạo nên như một bức tranh tĩnh đầy mê hoặc.

Dù phải mất cả 2 giờ đi bộ, băng qua con đường mòn dài suýt soát 10km, nhiều người vẫn thích đến đây ngắm nghía. Đôi số còn can đảm tới mức dám bơi đến gần thành miệng hố để nhìn xuống dưới nữa.

Chiếc hố nằm giữa hồ nước kỳ lạ này là cả một công trình trí tuệ hiếm có của nhân loại - Ảnh 10.
Núi Serra da Estrela.(Ảnh qua Helino)

Cái đáng mừng ở đây là dù phải lội bộ leo núi thật, nhưng vì ngọn núi cao nhất này cũng chỉ cao hơn cao nguyên có một tẹo, nên việc đi lại khá dễ dàng. Bạn chỉ cần chuẩn bị một đôi giày tốt, ít đồ ăn vặt nhai cho đỡ buồn miệng và chút nước là đủ.

Theo Soha

Categories: Chuyện Lạ

“Thiên thạch” được tìm thấy dưới một hố cát bí ẩn trên bãi biển nước Mỹ

Người phụ nữ ở New Jersey trong khi đi dạo trên bãi biển đã tìm thấy một tảng đá đen nằm bên trong một hố cát bí ẩn – nhưng đó có phải là thiên thạch không?

Hố cát bí ẩn có chứa “thiên thạch”. (Ảnh qua dailymail.co)

Một cặp chị em ở New Jersey đã rất bất ngờ khi phát hiện ra vật thể kì lạ khi đi dạo dọc bãi biển tuần trước.

Nora và Jean Manyanic đã phát hiện ra một cái hố khổng lồ, giống như miệng núi lửa trên cát.

Hố cát được xác định rộng khoảng hơn 1,5m. Vật thể kì lạ nằm ở trung tâm của hố cát có hình dạng màu đen.

Jean Manyanic và chị gái đang đi dọc theo khu vực Bãi biển Bạc của Sông Toms vào thứ Sáu khi họ tình cờ gặp một miệng núi lửa bí ẩn
Jean Manyanic và hố cát bí ẩn. (Ảnh: FB Manyanic)

Nora ngay sau đó đã viết trong một bài đăng trên Facebook và ngay lập tức đã thu hút được sự chú ý đặc biệt của cư dân địa phương.

Hàng chục người đã nhanh chóng đưa ra dự đoán và đa số đồng ý rằng nó dường như là một thiên thạch từ ngoài Trái Đất. Nếu đó là sự thật, nó sẽ là tảng đá đầu tiên từ ngoài vũ trụ được tìm thấy ở trong khu vực từ năm 1829.

Manyanic nghĩ rằng tảng đá (nhìn ở trên) là một thiên thạch rơi xuống từ ngoài vũ trụ
Hòn đá được xác định chỉ là một cục than. (Ảnh: NBC 4 New York)

“Có một trận mưa sao băng tuần trước”, một người dùng Facebook bình luận.

“Chúc may mắn! Tôi hy vọng nó là một thiên thạch. Thật là một câu chuyện tuyệt vời”, một người khác bình luận.

Theo lời khuyên của nhiều bạn bè, hai người phụ nữ nên mang viên đá đến gặp một chuyên gia. Vậy là, họ đã mang tảng đá lớn đến Viện Franklin, một bảo tàng ở Philadelphia.

Một số tảng đá nhỏ khác cũng được tìm thấy gần miệng núi lửa (trong hình)
Một số viên đá nhỏ khác cũng được tìm thấy bên cạnh hố. (Ảnh: NBC 4 New York)

Tuy nhiên, sau thời gian xác định từ các chuyên gia, tảng đá kì lạ đã được khẳng định chỉ là một… mẩu than.

Derrick Pitts, nhà thiên văn học tại Viện Franklin, đã phá vỡ những tin tức đồn đoán trước đó.

Tuy nhiên, nhiều người vẫn tin rằng có thể có sự nhầm lẫn vì không có lời giải thích chính xác vì sao tảng đá được cho là “mẩu than” lại đột nhiên xuất hiện trên bãi biển như vậy.

Theo Dantrí

Categories: Chuyện Lạ

Cận cảnh bộ lạc sống trên cây, cao tới 50m và tách biệt với loài người ngay tại Đông Nam Á

Tại Đông Nam Á, có một bộ lạc sống tách biệt với loài người, hàng trăm năm qua vẫn duy trì phong tục sống trên cây như một hình thức để tự vệ.

Với dân số chỉ khoảng 3000 người, địa bàn sinh sống chủ yếu là bên trong những cánh rừng già nằm ở phía đông nam tỉnh Papua của Indonesia, bộ lạc Korowai từ lâu đã được xem là một trong những bộ lạc bí ẩn nhất trên thế giới.

Cách đây 17 năm, nhiếp ảnh gia Eric Baccega đã thực hiện một chuyến đi đến thăm đến bộ tộc Korowai và đã ghi lại những hình ảnh vô cùng chân thật và ấn tượng về bộ lạc này.

Bộ lạc Korowai sống chủ yếu trong những cánh rừng già ở tỉnh Papua, thuộc địa phận Indonesia.

Theo những hình ảnh do nhiếp ảnh gia Eric công bố có thể thấy, bộ lạc Korowai sống tách biệt hoàn toàn với thế giới bên ngoài. Khu vực họ sinh sống thường là những nơi rất khó có thể phát hiện được.

Nhà của bộ lạc Korowai thường được xây dựng rất cao, trên những ngọn cây cách mặt đất từ một vài mét cho đến cả chục mét. Nhìn từ xa, ngôi nhà như những tòa tháp vươn mình trên những cánh rừng nhiệt đới, bên dưới là hàng cột chống khẳng khiu nâng đỡ cho ngôi nhà.

Theo truyền thuyết, người Korowai xây dựng nhà như thế là để phòng tránh những cuộc tấn công từ các bộ lạc thù địch khác – những người thường lăm le bắt người trong bộ tộc về làm nô lệ hoặc kinh khủng hơn là bắt về để ăn thịt.

Nhiều người cho rằng bộ lạc Korowai là một bộ lạc ăn thịt người mặc dù vẫn chưa có bằng chứng xác thực nào về vấn đề này.

Giống như nhiều bộ lạc khác, ấu trùng luôn là món ăn không thể thiếu của bộ lạc Korowai.

Bộ tộc Korowai vẫn luôn giữ gìn những giá trị truyền thống có từ lâu đời. Những câu chuyện thần thoại, truyện cổ tích, châm ngôn và các loại bùa chú vẫn được truyền lại cho đến ngày hôm nay. Họ luôn có niềm tin rằng tổ tiên đã chết của họ có thể trở về trần thế bất cứ lúc nào.

Nhiều nguồn tin cho rằng mãi đến năm 1970, người dân ở bộ lạc Korowai vẫn chưa ý thức được gì về sự tồn tại của thế giới bên ngoài cũng như những tộc người khác bên ngoài lãnh địa của họ.

Trong khi một số thổ dân dọn đến sống trong những ngôi làng thì vẫn còn rất nhiều người tiếp tục duy trì lối sống ở trên cây.

Một vài thị tộc trong bộ lạc nói rằng họ rất sợ người phương tây mặc dù họ chưa bao giờ được nhìn thấy những người này. Với bộ lạc Korowai những người ở thế giới bên ngoài đều được gọi là ‘ma quỷ’.

Tháng 3/1974, một nhóm các nhà khoa học đã tìm đến vùng đất này để nghiên cứu về bộ lạc Korowai và họ đã có cơ hội gặp gỡ một thành viên của bộ lạc. Đây cũng được xem là lần đầu tiên bộ lạc Korowai chính thức được tiếp xúc với thế giới bên ngoài, cụ thể là người phương tây.

Tháng 5/2006, Paul Rafeale – một hướng dẫn viên du lịch kiêm phóng viên đã đưa một đoàn làm phim của đài truyền hình đến để thực hiện một bài phóng sự về bộ lạc.

Vũ khí họ sử dụng để săn bắt thường rất thô sơ. Bộ lạc Korowai còn duy trì thói quen không mặc quần áo.

Thổ dân sẽ đục đẽo thân cây làm thành một chiếc cầu thành để di chuyển ra vào căn nhà của họ.

Tại đây họ đã tiếp cận với một người đàn ông trong bộ lạc, được nghe anh ta kể câu chuyện về đứa cháu trai 6 tuổi đang bị buộc tội là pháp sư và có nguy cơ sẽ bị ăn thịt trong thời gian tới để đền tội.

Trong một bài báo viết cho tờ Smithsonian, Raffaele đã nhận xét rằng : “Korowai là một trong số rất ít bộ tộc trên thế giới còn tin vào việc ăn thịt người. Hầu hết người Korowai vẫn sống mà không có nhiều hiểu biết về thế giới bên ngoài.

Kiến thức của họ chỉ gói gọn với những gì bên trong lãnh thổ và họ thường tỏ thái độ thù địch với những người khác. Một số người của bộ lạc nói rằng họ sẽ giết và ăn thịt những phù thủy nam mà họ gọi là Khakhua.”

Mặc dù vậy, nhiều nhà nhân chủng học vẫn cho rằng tục lệ ăn thịt người đã không còn tồn tại trong cộng đồng người Korowai từ lâu.

Mặc dù sống trong những ngôi nhà làm bằng gỗ ở trên những ngọn cây nhưng những thổ dân của bộ lạc Korowai vẫn sử dụng lửa để sưởi ấm và nấu nướng.

Một số hình ảnh ấn tượng đã được nhiếp ảnh gia Eric Baccega ghi nhận lại trong chuyến viếng thăm cách đây 17 năm.

Theo Tuyết Nhung

Trí Thức Trẻ

Categories: Chuyện Lạ

Bí ẩn hòn đảo trường thọ, bộ lạc chỉ ngủ 20 phút mỗi ngày và những vùng đất lạ lùng nhất hành tinh ai cũng muốn đến thăm 1 lần cho biết

Vương quốc Người tí hon, hòn đảo của những cư dân trăm tuổi, bộ lạc chỉ ngủ 20 phút mỗi ngày… là những vùng đất lạ lùng, ẩn chứa những bí mật khó tin nhất thế giới.

Vương quốc Người tí hon, Trung Quốc

Gần Côn Minh (Trung Quốc), có một vương quốc cổ tích dành riêng cho người lùn. Đây là thế giới độc đáo do người đàn ông tên Chen Mingjing tạo ra và dành riêng cho những người mắc bệnh lùn từ khắp nơi trên đất nước tỷ dân. Ngày nay, vương quốc này có dân số khoảng 125 người từ 19 đến 48 tuổi.

Bí ẩn hòn đảo trường thọ, bộ lạc chỉ ngủ 20 phút mỗi ngày và những vùng đất lạ lùng nhất hành tinh ai cũng muốn đến thăm 1 lần cho biết - Ảnh 1.
Bí ẩn hòn đảo trường thọ, bộ lạc chỉ ngủ 20 phút mỗi ngày và những vùng đất lạ lùng nhất hành tinh ai cũng muốn đến thăm 1 lần cho biết - Ảnh 2.

Vương quốc cổ tích dành riêng cho người lùn tọa lạc gần Côn Minh, Trung Quốc.

Cư dân ở đây thường mặc trang phục lễ hội của quỷ lùn, thiên thần, yêu tinh, công chúa và vệ sĩ và sống trong những ngôi nhà hình cây hoặc hình nấm. Phần lớn họ sống trong các khu nhà có đồ nội thất và phòng tắm được thiết kế đặc biệt. Vương quốc độc nhất vô nhị này cũng có trường học, bệnh viện, siêu thị, quán cà phê và cửa hàng hoa.

Mọi cư dân ở vương quốc đều có việc làm. Họ biểu diễn và làm hướng dẫn viên cho du khách. Họ làm việc nhà vào Chủ nhật, họ cũng chơi bài poker và bóng chuyền, tham gia các lớp học tiếng Anh miễn phí.

Bí ẩn hòn đảo trường thọ, bộ lạc chỉ ngủ 20 phút mỗi ngày và những vùng đất lạ lùng nhất hành tinh ai cũng muốn đến thăm 1 lần cho biết - Ảnh 3.

Cư dân ở đây thường mặc trang phục lễ hội để biểu diễn và làm hướng dẫn viên cho du khách.

Dù vương quốc này gây nhiều ý kiến trái chiều trong dư luận, người dân nơi đây vẫn luôn hài lòng bởi họ được sống trong thế giới ấm áp của riêng mình, có nhà cửa và công việc. Ở đây, họ được sống một cuộc sống thoải mái mà chẳng lo bị ai chế giễu, cười nhạo sau lưng.

Người Pirahã – Bộ lạc hạnh phúc nhất

Pirahã – bộ lạc nằm sâu trong rừng mưa nhiệt đới Amazon ở Brazil được mệnh danh là bộ lạc hạnh phúc nhất thế giới. Người Pirahã không biết đếm, khái niệm duy nhất về con số của họ chỉ là “ít” và “nhiều”, khái niệm màu sắc chỉ có “tối” và “sáng”.

Bí ẩn hòn đảo trường thọ, bộ lạc chỉ ngủ 20 phút mỗi ngày và những vùng đất lạ lùng nhất hành tinh ai cũng muốn đến thăm 1 lần cho biết - Ảnh 4.

Pirahã được mệnh danh là bộ lạc hạnh phúc nhất thế giới.

Họ không biết đến lịch hay ngày tháng. Họ ăn 1-2 lần mỗi ngày. Họ thường chỉ ngủ khoảng 20 phút mỗi ngày bởi họ tin rằng nếu ngủ nhiều, quyền lực của họ sẽ bị tước đoạt. Người Pirahã chỉ có quan hệ giữa con cái, cha mẹ và anh chị em ruột. Họ không phân biệt giai cấp, cũng không có trộm cắp hay tội phạm. Ở bộ lạc này, không tồn tại tư hữu hay định kiến. Ngôn ngữ Pirahã chỉ có 3 nguyên âm và 7 phụ âm.

Bí ẩn hòn đảo trường thọ, bộ lạc chỉ ngủ 20 phút mỗi ngày và những vùng đất lạ lùng nhất hành tinh ai cũng muốn đến thăm 1 lần cho biết - Ảnh 5.

Người Pirahã hạnh phúc theo cách của riêng mình. Họ say sưa ca hát thâu đêm và tin rằng cả giấc mơ và hiện thực đều quan trọng như nhau. Họ sẽ đổi tên mình 7 năm một lần. Họ có thể nhớ tên gọi và đặc điểm của hàng ngàn loài thực vật và động vật. Những đứa trẻ Pirahã chơi đùa với chó, với cỏ cây, hoa lá và linh hồn của rừng thay vì những món đồ chơi thông thường.

Đảo Ikaria – đảo của những cư dân trăm tuổi

Có tới 1/3 dân số của Ikaria (Hy Lạp) sống đến 90 tuổi, hầu hết cư dân trên hòn đảo ở biển Aegean này đều thọ tới 100 tuổi. Bí mật có lẽ nằm ở 8 con suối chữa bệnh mà thiên nhiên ưu đãi cho nơi đây.

Bí ẩn hòn đảo trường thọ, bộ lạc chỉ ngủ 20 phút mỗi ngày và những vùng đất lạ lùng nhất hành tinh ai cũng muốn đến thăm 1 lần cho biết - Ảnh 6.

Ikaria là hòn đảo của những cư dân trăm tuổi.

Trên hòn đảo thiên đường với 10.000 dân này, hầu như ai ai cũng lạc quan và thân thiện, chỉ một vài người mắc bệnh Alzheimer và những vấn đề tuổi già.

Ông Stamatis Mora là một trong những người như thế. Người đàn ông sinh sống tại Mỹ trở lại quê hương ở Hy Lạp để sống những ngày cuối đời khi các bác sĩ cho biết ông chỉ còn 9 tháng. Mora cùng gia đình đến đảo Ikaria vào năm 1976 và đã sống hạnh phúc suốt gần 37 năm sau đó.

Bí ẩn hòn đảo trường thọ, bộ lạc chỉ ngủ 20 phút mỗi ngày và những vùng đất lạ lùng nhất hành tinh ai cũng muốn đến thăm 1 lần cho biết - Ảnh 7.

Ông Stamatis Mora sống hạnh phúc trên đảo Ikaria suốt gần 37 năm dù các bác sĩ dự đoán thời gian của ông chỉ còn khoảng 9 tháng.

Ở Ikaria, mọi người sống chậm nhưng vẫn sống hết mình. Người Ikaria thường đi bộ trên những con đường mòn quanh núi và ăn trái cây từ những vườn nhà tự trồng. Người dân ở đây yêu thích dầu ô liu, bánh mì bột chua lên men, sữa dê và trà thảo dược. Vào buổi tối, họ dành thời gian nhâm nhi rượu với những người hàng xóm. Khi một cụ bà101 tuổi được hỏi về bí quyết sống thọ vào sinh nhật của mình, bà đã bông đùa rằng: “Sống ở đây, chúng tôi chỉ đơn giản quên mất việc phải chết!”.

Bí ẩn hòn đảo trường thọ, bộ lạc chỉ ngủ 20 phút mỗi ngày và những vùng đất lạ lùng nhất hành tinh ai cũng muốn đến thăm 1 lần cho biết - Ảnh 8.

Cândido Godói – Vùng đất của những cặp song sinh

Cândido Godói ở Brazil nổi tiếng với tỷ lệ sinh đôi cao đột biến. Tại đây, có tới 80 gia đình đang nuôi dưỡng 44 cặp song sinh. Phần lớn các gia đình chuyển đến đây từ Đức trong Thế chiến I. Vào đầu những năm 90, hiện tượng bất thường này đã thu hút sự chú ý của báo giới. Chính quyền địa phương đón nhận sự quan tâm của thế giới và gọi nơi này là Vùng đất của các cặp song sinh. Các nhà chức trách cũng mở hẳn một bảo tàng triển lãm và dựng một bức tượng biểu tượng cho sự sinh sản.

Bí ẩn hòn đảo trường thọ, bộ lạc chỉ ngủ 20 phút mỗi ngày và những vùng đất lạ lùng nhất hành tinh ai cũng muốn đến thăm 1 lần cho biết - Ảnh 9.

Giáo viên địa phương thường đau đầu trong việc phân biệt các cặp song sinh trong giờ học.

Các nhà khoa học từng đưa ra nhiều giả thuyết khác nhau để giải thích hiện tượng này, trong đó có nguồn nước hay vị trí cô lập của vùng. Tuy nhiên, phần lớn ý kiến cho rằng chính các thí nghiệm di truyền của Josef Mengele – bác sĩ “tử thần” khét tiếng của phát xít Đức là nguyên nhân khiến phụ nữ ở Cândido Godói có khả năng thụ thai đôi hoặc đa thai. Người dân địa phương nói rằng Mengele cải trang thành bác sĩ thú y và đi lại quanh vùng. Đó chính xác cũng là thời điểm bùng nổ của các ca sinh đôi.

Bí ẩn hòn đảo trường thọ, bộ lạc chỉ ngủ 20 phút mỗi ngày và những vùng đất lạ lùng nhất hành tinh ai cũng muốn đến thăm 1 lần cho biết - Ảnh 10.

Thời điểm tỷ lệ sinh đôi cao kỷ lục, giáo viên địa phương thường đau đầu trong việc phân biệt các cặp song sinh trong giờ học.

Bộ lạc Vadoma – Người đà điểu

Người thuộc bộ lạc Vadoma có chung đặc điểm di truyền dị thường của bàn chân được gọi là hội chứng ectrodactyly. Bàn chân của họ phát triển to, không có 3 ngón chân giữa mà chỉ có hai ngón giống như chân đà điểu. Các nhà khoa học tin rằng lý do đằng sau sự bất thường này có thể do các luật lệ cổ xưa cấm người trong bộ lạc kết hôn với người ngoài, gây ra tình trạng hôn nhân cận huyết.

Bí ẩn hòn đảo trường thọ, bộ lạc chỉ ngủ 20 phút mỗi ngày và những vùng đất lạ lùng nhất hành tinh ai cũng muốn đến thăm 1 lần cho biết - Ảnh 11.
Bí ẩn hòn đảo trường thọ, bộ lạc chỉ ngủ 20 phút mỗi ngày và những vùng đất lạ lùng nhất hành tinh ai cũng muốn đến thăm 1 lần cho biết - Ảnh 12.

Finca Bellavista – Thiên đường nhà trên cây

Câu chuyện về Thiên đường nhà trên cây ở Costa Rica khá thú vị. Một ngày nọ, cặp vợ chồng mới cưới Matthew và Erica Hogan mua 600 mẫu đất trong một khu rừng có nguy cơ bị chặt hạ. Họ bắt đầu dựng một ngôi nhà trên cây và sau đó, rất nhiều người cũng thích thú với ý tưởng này là làm theo họ.

Sau 10 năm, một ngôi làng sinh thái bên bờ biển Thái Bình Dương ra đời. Người dân ở đây sử dụng pin năng lượng mặt trời, điện không carbon, họ lưu trữ nước mưa, trồng rau quả và xử lý rác thải bằng biện pháp sinh học. Thay vì sử dụng phương tiện giao thông, họ di chuyển bằng các sợi dây.

Bí ẩn hòn đảo trường thọ, bộ lạc chỉ ngủ 20 phút mỗi ngày và những vùng đất lạ lùng nhất hành tinh ai cũng muốn đến thăm 1 lần cho biết - Ảnh 13.
Bí ẩn hòn đảo trường thọ, bộ lạc chỉ ngủ 20 phút mỗi ngày và những vùng đất lạ lùng nhất hành tinh ai cũng muốn đến thăm 1 lần cho biết - Ảnh 14.

Ở Finca Bellavista, người ta di chuyển bằng dây.

Nhiều chủ nhà còn cung cấp dịch vụ thuê phòng hoặc căn hộ. Khách du lịch có thể thuê một căn phòng ấm cúng hoặc một căn hộ thoải mái với phòng ăn và Wi-Fi đầy đủ.

Bí ẩn hòn đảo trường thọ, bộ lạc chỉ ngủ 20 phút mỗi ngày và những vùng đất lạ lùng nhất hành tinh ai cũng muốn đến thăm 1 lần cho biết - Ảnh 15.

Nhiều chủ nhà còn cung cấp dịch vụ thuê phòng hoặc căn hộ.

Bí ẩn hòn đảo trường thọ, bộ lạc chỉ ngủ 20 phút mỗi ngày và những vùng đất lạ lùng nhất hành tinh ai cũng muốn đến thăm 1 lần cho biết - Ảnh 16.

Sống ở Thiên đường nhà trên cây này, bạn sẽ được hòa mình vào thiên nhiên.

Con người ở đây chung sống hòa hợp với thiên nhiên. Các loại động vật ở đây không hề sợ người, trái lại, chúng bị thu hút bởi những tiếng ồn do con người tạo ra.

(Nguồn: BS)

Categories: Chuyện Lạ

Lạt ma Tây Tạng: Quái vật hồ Loch Ness là một linh thú trong truyền thuyết

Theo tờ The Scotsman, vị Lạt ma của Phật giáo Tây Tạng đầu tiên ở Anh Quốc, người đang dẫn đầu dự án xây dựng một trung tâm Phật giáo mới ở Cao nguyên Scotland, cho biết quái vật hồ Loch Ness là rắn thần naga, là một loài linh thú dưới nước có khả năng mang đến sự trù phú. 

Ảnh chụp ‘Quái vật hồ Loch Ness’ của bác sĩ Robert Wilson.
Ảnh chụp ‘Quái vật hồ Loch Ness’ của bác sĩ Robert Wilson.

Quái vật hồ Loch Ness là một loài động vật chưa được biết tới mà một số người tin rằng đang cư ngụ ở hồ Loch Ness thuộc vùng cao nguyên Scotland, Anh Quốc. Người ta bắt đầu hứng thú và tin vào sự tồn tại của loài vật này từ năm 1933, sau đó nó trở nên nổi tiếng với bức ảnh chụp của bác sĩ Robert Kenneth Wilson vào năm 1934.

Bằng chứng về sự tồn tại của nó vẫn mang tính chất giai thoại, với số lượng khá ít ỏi và gây ra khá nhiều tranh cãi của những tư liệu ảnh và kết quả định vị dưới nước bằng sóng âm phản xạ sonar. Theo phỏng đoán phổ biến nhất của những người tin tưởng, loài sinh vật này thuộc cùng dòng dõi với con xà đầu long plesiosaurs, một loài thằn lằn biển vào kỷ Đại Trung sinh (252 đến 66 triệu năm về trước).

Giới khoa học nhìn nhận rằng Thủy quái hồ Loch Ness, gọi một cách thân thiện là ‘Nessie’, chỉ là một truyền thuyết hiện đại, và cho rằng những vụ chứng kiến chỉ là do sự nhận dạng nhầm lẫn các vật thể thông thường, những trò bịp bợm rõ ràng, hay những suy tưởng huyễn hoặc. Tuy nhiên, giám đốc tâm linh của trung tâm Phật giáo mới ở Cao nguyên Scotland, Lạt Ma Gelongmo Zangmo, lại có cách giải thích khác:

Hình ảnh mô phỏng một con xà đầu long plesiosaurus. (Ảnh qua ExtraStory)
Hình ảnh mô phỏng một con xà đầu long plesiosaurus. (Ảnh qua ExtraStory)

“Nessie chính là loài rắn thần naga. Chúng ta hãy xây dựng mối quan hệ với rắn thần naga, cố gắng làm hài lòng chúng và không lạm dụng thái quá môi trường”, Lạt ma Zangmo nói. “Nếu Nessie được đối xử tốt, nó sẽ mang đến sự trù phú”.

Naga là một loài sinh vật hình rắn sống dưới nước trong huyền thoại, cư trú ở các đại dương, sông, hồ và thác nước. Hình tượng loài naga được miêu tả với vảy đen và có thể phát triển chiều dài đến hàng chục mét. Theo truyền thống loài naga được thờ phụng như hiện thân của các vị Thần nước và được cho là người mang đến mây mưa. Chúng là những linh vật canh gác chùa chiền và thánh địa.

Hầu hết người Kaliyatran tin tưởng rằng vị Thần ở cao hơn chỉ huy các hành động của naga, và loài rắn biển này được gọi tôn kính bằng các danh hiệu như “Maharaja Sarpa” hay “Rắn thần Naga”. Người ta tin rằng rắn thần naga sống trong các thành phố ngầm, có khả năng giao tiếp và sử dụng huyền năng để điều khiển thời tiết, cũng như biến hóa thành hình người theo ý muốn.

Hình miêu tả một naga trong Phật giáo Tây Tạng (Ảnh: Digital Tibetan Buddhist Altar)
Hình miêu tả một naga trong Phật giáo Tây Tạng (Ảnh: Digital Tibetan Buddhist Altar)

Các bức tượng đã được tạc tại tu viện Samye Ling ở hạt Dumfries, Scotland, và một nơi trú ẩn đã được xây dựng ở gần Hồ Esk, nơi các cống vật được dâng lên. Tiến sĩ William Tuladhar-Douglas, một giảng viên Phật giáo từ trường Đại học Aberdeen, đã nói rằng: “Có khoảng 2.500 năm lịch sử đằng sau một phong tục như vậy”.

Theo DKN.

Categories: Chuyện Lạ