Chuyên mục: Bí ẩn Lịch Sử

Phát hiện 33 xác ướp 600 năm tuổi

Các nhà khảo cổ học đã phát hiện 33 xác ướp của người Inca tại phía bắc Peru, được tin là bị giết để hiến tế thần linh vào khoảng 600 năm trước. 

Machu Picchu – Thành phố đã mất của người Inca.

Các bộ hài cốt được tìm thấy tại địa điểm khảo cổ nổi tiếng Chotuna-Chornancap, gần thành phố biển Chiclayo thuộc miền bắc Peru. Đa phần các xác ướp được bảo quản tốt tới nỗi mô da và tóc vẫn còn nguyên vẹn. Một số hài cốt có dấu hiệu bị cắt cổ và xương đòn. 

Khu vực khảo cổ Chotuna-Chornancap rộng 95 hecta nằm cách thành phố ven biển Chiclayo 19 km, gần ngôi mộ cổ Sipan – một trong những phát hiện lớn nhất của thế kỷ trước. 

Bằng chứng cho thấy các thi thể đã bị giết để hiến tế trước khi được ướp xác. Nhóm khảo cổ tin rằng họ đã bị giết để hiến tế thần linh nhằm ngăn ngừa các thảm hoạ thiên nhiên. 
Các nhà khoa học tin rằng, những xác chết ở Inca đã bị giết để hiến tế thần linh chỉ vài thập kỷ trước khi các nhà thám hiểm Tây Ban Nha tới vùng đất mà ngày nay là đất nước Peru. 

Mặc dù các nhà khảo cổ thường xuyên tìm thấy bằng chứng về nghi lễ dùng người làm vật tế thần từ các nền văn minh Inca và tiền Inca nhưng hiếm khi họ tìm thấy 33 hài cốt ở một nơi như vậy. 

Các nhà khoa học cho biết, nghi lễ dùng người làm vật tế thần khá phổ biến trong văn hoá Inca – nền văn hoá đã hưng thịnh ngay trước khi các nhà thám hiểm Tây Ban Nha tới khu vực mà ngày nay là một phần của Peru, Chile và Ecuador từ năm 1.400 đến giữa năm 1.500. 

“Hầu hết các bộ hài cốt này là của các thiếu nữ trong độ tuổi 15. Một trong số các xác ướp còn có dấu hiệu đang mang thai do có một xương đòn của một bào thai khoảng 4 tháng tuổi trong bụng”, nhà khảo cổ học Carlos Webster, trưởng nhóm khai quật tại Chotuna-Chornancap, nói. 
“Phần lớn các xác ướp vẫn còn nguyên vẹn – các mô da và tóc được bảo tồn tốt. Các hài cốt được tìm thấy tại một khu vực khô ráo và sâu khoảng 2,1m”, ông Webster nói thêm. 

Nền văn minh Inca vốn nổi tiếng với thành phố cổ Machu Picchu. Những tàn tích của thành phố này là điểm hấp dẫn khu khách hàng đầu của Peru và được xem là một trong 7 kỳ quan mới của thế giới.

Xem thêm:

Categories: Bí ẩn Lịch Sử

Phát hiện thanh kiếm 3.000 năm tuổi

Thanh kiếm cổ bằng đồng được phát hiện ở Trung Quốc có niên đại hơn 3.000 năm tuổi và mang giá trị lớn về lịch sử.
Li Lei, 26 tuổi, sống ở huyện Đan Phượng, tỉnh Thiểm Tây. Li phát hiện thanh kiếm đồng trong các phiến đất sét. Nó có chiều dài 46,5cm, chiều ngang 4cm và nặng khoảng 0,61kg.

Phát hiện thanh kiếm 3.000 năm tuổi


Thanh kiếm cổ bằng đồng được tìm thấy ở tỉnh Thiểm Tây. (Ảnh: news.163.com)

Theo chuyên gia khảo cổ học Lu Qinghe, thanh kiếm có từ cách đây hơn 3.000 năm, thuộc thời nhà Chu. Đồ sắt và việc sử dụng đồ sắt bắt đầu xuất hiện ở Trung Quốc trong thời kỳ này.

Trong số tất cả những thanh kiếm từng được phát hiện, đây là hiện vật nguyên vẹn nhất và có ý nghĩa lịch sử lớn. Nó có thể cung cấp các thông tin nghiên cứu liên quan đến triều đại tồn tại lâu nhất trong lịch sử Trung Quốc.

Shanghaiist dẫn lời Li cho hay một số người đã đưa ra mức giá 100.000 nhân dân tệ (hơn 16.000 USD) để mua thanh kiếm này, tuy nhiên anh đã từ chối và trao lại cho cơ quan di sản văn hóa. Li được trao chứng nhận và khoản tiền thưởng 500 nhân dân tệ (khoảng 80 USD).

Trước đó, một cậu bé 11 tuổi từng phát hiện con dao 3.000 năm tuổi khi đang chơi đùa cùng bạn bên một con sông ở thành phố Cao Bưu, tỉnh Giang Tô.

Xem thêm:

Categories: Bí ẩn Lịch Sử

Hầm mộ 3.000 năm tuổi gây sửng sốt

Một hầm mộ có niên đại 3.000 năm tuổi vừa được tìm thấy ở Ai Cập trong một hiện trạng gây sửng sốt với các nhà khảo cổ.

Các nhà khảo cổ học vừa phát hiện thêm một hầm mộ có niên đại 3.000 năm tuổi ở Ai Cập. Được phát hiện ở gần thành phố Luxor phía nam Ai Cập, hầm mộ vừa được phát hiện thuộc về một người đàn ông quý tộc có tên Amenhotep.

Hầm mộ 3.000 năm tuổi gây sửng sốt
Những bức tranh vẽ trên các thành vách được tìm thấy bên trong hầm mộ vẫn còn ở tình trạng hoàn hảo so với niên đại 3.000 năm tuổi của hầm mộ.

Bộ trưởng Khảo cổ của Ai Cập – ông Mamdouh el-Damaty cho biết hầm mộ vừa được tìm thấy có những bức bích họa và phù điêu rất ấn tượng với màu sắc vẫn còn rất rõ nét. Hiện trạng của hầm mộ được cho là rất lý tưởng so với niên đại 3.000 năm tuổi của nó.

Hầm mộ 3.000 năm tuổi gây sửng sốt
Bên trong hầm mộ của người đàn ông quý tộc có tên Amenhotep.

Những bức tranh được vẽ trên các thành vách của hầm mộ khắc họa lại cuộc đời của Amenhotep lúc sinh thời, với các hoạt động như săn bắn, cúng tế…

Hầm mộ này đã được xây dựng từ triều tại thứ 18 của Đế chế Ai Cập cổ đại (khoảng năm 1543-1292 trước Công nguyên).

Trong các vị thần của người Ai Cập cổ đại, có một vị thần là thần Amun – vị thần tối tượng. Người đàn ông quý tộc Amenhotep là người đã đảm nhiệm sứ mệnh trông coi ngôi đền thờ thần Amun. Đây là một công việc rất đáng kính trọng trong xã hội Ai Cập cổ đại thời bấy giờ, vì vậy, khi Amenhotep qua đời, ông đã được xây dựng lăng mộ tương đối bề thế.

Xem thêm:

Categories: Bí ẩn Lịch Sử

Tại sao Kim tự tháp Giza lại hoàn hảo đến vậy? Bí mật ngàn năm có thể đã được giải đáp

Tại sao Kim tự tháp Giza lại hoàn hảo đến vậy? Bí mật ngàn năm có thể đã được giải đáp

Một trong những câu hỏi khó trả lời nhất về các kim tự tháp Ai Cập, đó là vì sao chúng được xây dựng một cách hoàn hảo đến vậy, trong khi người xưa không có bất kỳ công cụ nào hỗ trợ cả.

Trong hàng thế kỷ, Đại kim tự tháp Giza đã mang đến những dấu hỏi không (hoặc chưa) thể trả lời dành cho giới khoa học. Không chỉ bởi các đường hầm bí ẩn chưa được tìm thấy, mà ngay bản thân quy mô của công trình này cũng đủ để khiến tất cả phải đau đầu, khi người Ai Cập thời đó không có sự trợ giúp của máy móc hiện đại.

Và một trong những câu hỏi lớn nhất nằm ở cấu trúc của kim tự tháp: nó cân đối, ngay ngắn một cách hoàn hảo.

Tại sao Kim tự tháp Giza lại hoàn hảo đến vậy? Bí mật ngàn năm có thể đã được giải đáp - Ảnh 1.

Nói một cách chính xác thì công trình vẫn có một vài đoạn hơi lệch, nhưng về tổng thể, Giza vẫn thẳng thớm một cách kỳ lạ, với các điểm chân được xếp gần như chuẩn 4 hướng Đông – Tây – Nam – Bắc.

“Những người đã xây Đại Kim tự tháp Khufu (tên khác của Giza) đã sắp xếp các đỉnh theo 4 hướng, với độ chính xác chỉ lệch khoảng 1/50 độ,” – trích lời Glen Dash, chuyên gia khảo cổ.

Trên thực tế, cả 3 kim tự tháp lớn nhất Ai Cập – bao gồm 2 cái tại khu tổ hợp Giza và 1 tại Dahshur – đều được căn chỉnh hết sức cân đối theo đúng 4 hướng. Đây là điều khiến giới chuyên mộ phải bất ngờ, bởi thật khó hình dung họ có thể làm được mà không có drone, bản đồ họa thiết kế, hay tối thiểu là một chiếc máy tính.

“Cả 3 kim tự tháp đều có các lỗi giống nhau, nhưng chúng đều được sắp đặt rất hoàn hảo quanh 4 hướng,” – Dash chia sẻ thêm.

Có nhiều giả thuyết đã được đặt ra, chẳng hạn như việc sử các vì sao để tính toán phương hướng, hoặc dựa vào bóng đổ từ Mặt trời.

Tuy nhiên, chưa có kết luận nào được đưa ra cả, cho đến khi nghiên cứu mới đây của Glen Dash ra đời.

Năm 2018, Dash nghĩ về một ý tưởng khác đơn giản hơn.

Ông cho rằng người Ai Cập xưa có thể lợi dụng hiện tượng “thu phân” (autumnal equinox) để sắp xếp mọi thứ một cách thật hoàn hảo.

Dành cho những ai chưa biết, mỗi năm Trái đất có 2 “phân mùa” là “xuân phân” và “thu phân”, nghĩa là thời điểm xích đạo của Trái đất đi ngang qua trung tâm của Mặt trời. Đó là những thời điểm ngày và đêm tại xích đại có thời gian bằng nhau.

Giả thuyết lợi dụng phân mùa để tính toán khoảng cách vốn không được xem trọng, vì nhiều người cho rằng nó không chính xác. Nhưng theo nghiên cứu của Dash, có một cách tận dụng hiện tượng này mà vẫn cho kết quả cực kỳ hợp lý.Phương pháp mà Dash sử dụng00:00:07

Phương pháp mà Dash sử dụng

Để giải quyết, Dash đã thực hiện một thí nghiệm, bắt đầu từ ngày đầu tiên của thu phân 2016 và sử dụng một cây gậy để tạo bóng. Ông theo dõi các điểm bóng tạo ra, hình thành một đường cong hết sức mềm mại. Đến cuối ngày, bằng một sợi dây căng quanh cột, ông tạo ra đường thẳng hết sức hoàn hảo chạy từ Đông sang Tây.

“Ở thời điểm phân mùa, các điểm bóng đổ sẽ tạo thành một đường thẳng gần như hoàn hảo, chạy từ Đông sang Tây,” – Dash cho biết.

Phương pháp này cũng tạo ra một vài điểm lệch ngược chiều kim đồng hồ, và nó trùng khớp với những điểm lệch tại kim tự tháp Khufu và Khafre thuộc khu tổ hợp Giza, và kim tự tháp Đỏ tại Dahshur.

Thí nghiệm của Dash được thực hiện tại Mỹ, nhưng ông cho biết hiện tượng tương tự cũng sẽ xảy ra tại Ai Cập. Tuy nhiên, ông hiện vẫn chưa có bằng chứng xác thực để đưa ra kết luận cuối cùng.

“Người Ai Cập xưa để lại quá ít dữ kiện. Hiện vẫn chưa có bất kỳ tài liệu nào về cho biết cách người Ai Cập cổ xây dựng kim tự tháp như thế nào cả,”

Dù có thể sẽ chẳng ai biết điều gì đã xảy ra, nhưng nghiên cứu của Dash cũng cho thấy một vài điểm thú vị. Thậm chí, đây có thể là lời giải chính xác nhất ở thời điểm hiện tại.

Nghiên cứu được công bố trên tạp chí Ancient Egyptian Architecture.

Tham khảo: Science Alert

Xem thêm:

Categories: Bí ẩn Lịch Sử

Tìm thấy thông điệp trong chai cổ nhất thế giới bên bờ biển Australia

Một gia đình người Australia bất ngờ tìm thấy thông điệp trong chai cổ lâu đời nhất thế giới sau gần 132 năm kể từ khi được một thủy thủ người Đức ném xuống Ấn Độ Dương.

Theo Iflscience, chiếc chai được phát hiện khi nhà Illman đi dạo dọc bãi biển ở phía bắc đảo Wedge, Tây Australia hôm 21/1.

Ông Kym Illman kể rằng, vợ ông thấy nhiều rác nên muốn dọn dẹp và đã tìm thấy một cái chai cổ. Bà nghĩ rằng có lẽ sẽ rất hợp để trang trí giá sách nên đã đưa cái chai cho bạn gái của con trai với suy nghĩ rằng bên trong là một điếu thuốc lá cuộn.

Ông bà Illman nhặt được cái chai trên một bãi biển xa xôi ở Tây Australia (Ảnh: BBC)

“Tonya cố lấy cái dây buộc quanh cuộn giấy ra nhưng sợ đứt. Vì thế chúng tôi mang nó về nhà, đặt trong lò nướng khoảng 5 phút để hong khô. Sau đó, chúng tôi mở cuộn giấy ra và nhìn thấy có chữ bên trên, đề nghị người tìm thấy cái chai liên lạc với lãnh sự quán Đức”, ông Kym nói.

Sau đó, họ đọc được dòng chữ viết tay mờ ghi ngày 12/6/1886 và tên con tàu Paula. Ban đầu, gia đình Illman cho rằng ngày tháng trên tờ giấy “quá xa”, có vẻ không thật, nhưng vẫn quyết định đưa nó tới cho các chuyên gia ở Bảo tàng Tây Australia.

Chiếc chai 132 năm tuổi chứa thông điệp hàng hải bên trong (Ảnh: Iflscience)

Tiến sĩ Ross Anderson, trợ lý giám định hàng hải của bảo tàng, xác thực thông tin trong cái chai sau khi trao đổi với các đồng nghiệp Đức và Hà Lan.

“Thật không thể tin nổi. Họ đã tìm dữ liệu lưu trữ ở Đức về Paula trên Tạp chí khí tượng thủy văn và phát hiện thuyền trưởng ghi chép rằng đã ném đi một cái chai hôm 12/6/1886. Ngày và tọa độ tương ứng với thông điệp viết bên trong”, ông Anderson cho hay.

Thông điệp trong chai (trái) và dữ liệu trên tạp chí khí tượng thủy văn (phải)

Chiếc chai cổ bị vứt xuống vùng biển phía đông nam Ấn Độ Dương khi con tàu đi từ Cardiff ở Wales tới Indonesia và có lẽ đã trôi giạt tới bờ biển Australia trong vòng 12 tháng, và bị vùi dưới cát trong nhiều năm. Hàng nghìn cái chai đã được ném xuống biển trong suốt cuộc thử nghiệm các tuyến vận tải biển của Đài quan sát Hải quân Đức. Cái chai cuối cùng có thông điệp được tìm thấy ở Đan Mạch năm 1934.

Thông điệp lâu đời nhất trong chiếc chai cổ mà tổ chức kỷ lục thế giới Guinness từng ghi nhận là 108 năm. Chiếc chai do một nhà sinh học biển thuộc Hiệp hội sinh học biển Plymouth, Anh quốc thả xuống biển năm 1906 và được một bưu tá đã nghỉ hưu – ông Marianne Winkler cùng vợ là bà Horst tìm thấy trong chuyến du lịch của họ tới đảo Amrum, Đức hồi năm 2016.

Xem thêm:

Categories: Bí ẩn Lịch Sử

Phát hiện những bộ xương khổng lồ ở vùng núi Borjomi

Phát hiện những bộ xương khổng lồ ở vùng núi Borjomi
Ảnh: ĐKN

Channel One, một hãng truyền thông chủ yếu ở Nga, đã có một bản tin dài đưa tin về việc một nhóm các nhà nghiên cứu đã tìm thấy những mảnh xương khổng lồ ở thị trấn Borjomi, Georgia (quốc gia giáp Nga ở phía Nam). Vị học giả tường thuật về bộ xương và tuyên bố rằng chúng thuộc về một người khổng lồ là một nhà khảo cổ học nổi tiếng!

Phát hiện những bộ xương khổng lồ ở vùng núi Borjomi
Thị trấn Borjomi tại Georgie (tại vùng Biển Đen, giáp Nga về phía Bắc), nơi phát hiện những mẩu xương khổng lồ kỳ lạ. Ảnh: Google Maps

Dưới đây là bản dịch báo cáo:

Thung lũng người khổng lồ tại hẻm núi Borjomi:

Các nhà khoa học đã phát hiện một khu định cư được cho là của những sinh vật huyền thoại, bí ẩn trong hẻm núi Borjomi.

Đây là một phát hiện chấn động. Ở vùng núi tại Hẻm Borjomi, họ đã tìm thấy các hài cốt của những sinh vật bí ẩn mà vẫn thường được lưu truyền hàng thế kỷ trong các truyền thuyết của người dân địa phương. Hóa ra; những câu chuyện về người khổng lồ là có thực. Quả là một bí ẩn đã bị che giấu bấy lâu nay trên vùng cao nguyên!

Những mảnh xương này thuộc về những con người … ngoại cỡ. Họ sống 25 nghìn năm trước trong vùng núi của Hẻm Borjomi. Các nhà khoa học cho biết tầm cao của những người khổng lồ này có thể từ 2,5 đến 3 mét. TS Abesalom Vekua tin rằng phát hiện này có thể là một sự chấn động, vì trong cộng đồng khoa học từ lâu đã tồn tại tranh luận về việc liệu có những người khổng lồ sinh sống ở một số khu vực nhất định ở Á-Âu cách đây hàng ngàn năm hay không.

Phát hiện những bộ xương khổng lồ ở vùng núi Borjomi
TS Abesalom Vekua cho xem các mẩu xương tại hẻm núi Borjomi. Ảnh: Channel One

TS Abesalom Vekua, Viện sĩ Viện hàn lâm Khoa học Georgia cho hay:

“Hãy chú ý đến phần xương thắt lưng, nó khác với xương của người hiện đại về kích thước và độ dày. Hộp sọ cũng lớn hơn rất nhiều. Những người này đã sinh sống và phát triển một cách biệt lập với phần còn lại của nền văn minh, họ rất khác biệt so với chúng ta về đặc điểm hình thái và sự sinh trưởng. Trong thư tịch họ được gọi là những người khổng lồ, nhưng từ trước đến nay vẫn chưa có bằng chứng nào ủng hộ giả thuyết này. Vì vậy, với phát hiện mới này, chúng ta đang đối mặt với một sự thật vô cùng chấn kinh. Nhưng vẫn phải xác nhận một cách kỹ càng”.

 Ảnh: museum.geGS TS Abesalom Vekua là nhà nghiên cứu khoa học hàng đầu tại Bảo tàng Quốc gia Georgia. Ông nổi tiếng vì tìm thấy hóa thạch người có niên đại 1,8 triệu năm tuổi tại Dmanisi, Georgia. Ông đã công bố nhiều báo cáo về những phát hiện của mình ở Georgia, và những phát hiện này đã được công nhận rộng rãi.

Truyền thuyết về những người khổng lồ trên vùng cao nguyên của hẻm núi Borjomi đã được truyền thừa từ thế hệ này sang thế hệ khác. Những người chăn cừu và thợ săn địa phương cho biết tổ tiên của họ từng kể về những người khổng lồ siêu khỏe sống ở những ngọn núi này vào thời xa xưa.

Phát hiện những bộ xương khổng lồ ở vùng núi Borjomi
Ảnh: Channel One

Moorman Shirakadze, nhân viên lâm nghiệp cho hay:

“Ông tôi đã kể cho tôi nghe về những sinh vật kỳ lạ từng tung hoành tại mảnh đất này. Bản thân ông cũng từng được nghe ai đó kể về điều này. Ở vùng núi, bạn sẽ tìm thấy những khu vực có điều kiện khắc nghiệt và vùng thiên nhiên hoang sơ, và đây có lẽ là lý do tại sao chỉ có “những siêu nhân” cực khỏe theo nghĩa đen mới có thể tồn tại vào thời kỳ đó”.

Một nhóm gồm 15 người, bao gồm các nhà khảo cổ học, nhà cổ sinh vật học và nhà sử học, đã rời khỏi nhà nghỉ trong rừng và tiến hành một chuyến thám hiểm lên những vùng núi. Họ còn phải đi bao xa để đến được “thung lũng của những người khổng lồ”, không ai có thể lường trước được. Điều chờ đợi họ phía trước là những con suối trên những vùng núi dốc, băng giá và những kẻ săn mồi từ rừng sâu. Thành viên nữ duy nhất của đoàn thám hiểm là Lela Ninua, một nhà báo từ chương trình “Chào buổi sáng” trên kênh truyền hình “Rustavi-2” của Georgia. Cô đã hồi tưởng lại cái tuần cô tách bản thân khỏi nền văn minh và tiến vào một trò chơi sinh tồn khắc nghiệt.

“Chúng tôi phải tự tìm kiếm thức ăn; chúng tôi không thể mang theo tất cả những gì chúng tôi cần. Về cơ bản chúng tôi phải câu cá ở suối trên núi để lấy thức ăn. Thu thập nấm rừng. Vào ban đêm, ai đó trong nhóm sẽ đứng trực, để gấu và chó sói không thể lẻn vào và tấn công chúng tôi. Một lần tôi đã ngã về phía sau và đi lạc. Bạn không thể tưởng tượng được tôi đã khóc nhiều như thế nào. Tôi đã tìm thấy thức ăn sau nửa giờ đồng hồ, nhưng đối với tôi khoảng thời gian đó dường như dài vô tận”.

Phát hiện những bộ xương khổng lồ ở vùng núi Borjomi
Những mẩu xương của một người có kích thước ngoại cỡ 2,5 – 3 m. Ảnh: Channel One
Phát hiện những bộ xương khổng lồ ở vùng núi Borjomi
Ảnh: rephaim23 – WordPress.com

Sự kiên trì của các thành viên đoàn thám hiểm đã được tưởng thưởng xứng đáng. Họ đã tìm thấy nó – nơi ở của những người khổng lồ. Khu định cư của những sinh vật kỳ lạ có những con đường rải đá và những hầm mộ đổ nát. Tại khu vực này trên bề mặt có rải rác những mẩu xương. Những mẩu xương được đưa lên bề mặt bởi những con suối trên núi, vốn thường chảy tràn vào mùa xuân khi tuyết tan.

TS Otar Baghaturia chia sẻ:

“Những gì chúng tôi tìm thấy vượt quá mọi sự mong đợi. Thật không may, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu sơ cấp nên chỉ có thể mang theo mình những hiện vật bề mặt. Những gì có thể phát hiện trong những tảng đá núi lửa hóa thạch này sẽ phải được phân tích khám nghiệm trong một chuyến thám hiểm mới về sau. Có rất nhiều điều thú vị ở đây”.

Hẻm núi không có người ở tại Borjomi này giờ đây có thể được biến thành một thiên đường cho các nhà khoa học. HIện giờ người ta đã biết rằng đây là thung lũng của những người khổng lồ – chứ không phải là một truyền thuyết thuần túy. Chuyến thám hiểm tiếp theo, với quy mô lớn hơn và được trang bị tốt hơn, sẽ tiếp cận khu vực này trong mùa hè tới. Trong khi đó, các nhà khoa học Georgia cùng các đồng nghiệp nước ngoài sẽ tiến hành nghiên cứu chi tiết về các chất liệu đặc thù mà họ đã thu thập được.

Phát hiện này có ý nghĩa đặc biệt gì?

Trên thực tế, không chỉ trong trường hợp này, mà đã từng ghi nhận được rất nhiều, rất nhiều các cuộc khai quật đào được các bộ xương người khổng lồ, trên toàn cầu. Tuy nhiên chúng thường bị giấu nhẹm, không để công chúng biết.

Lấy ví dụ, ở Mỹ, người ta đã đào được rất nhiều bộ xương người khổng lồ, các phát hiện này đã được công bố trên các tờ báo uy tín như New York Times.

Một bài báo loan tin về bộ xương người khổng lồ phát hiện tại bang Wisconsin, Mỹ. Ảnh: New York Times

Nhưng ngày nay, chúng ta không thể tìm thấy một bộ xương khổng lồ nào trong viện bảo tàng, chúng đã bị cố tình che giấu , bởi sự tồn tại của chúng là thách thức rất lớn với thuyết tiến hóa sinh vật.

Thuyết tiến hóa cho rằng con người là do khỉ tiến hóa thành, trong khi những bộ xương người khổng lồ lại có niên đại rất xa xưa và việc tồn tại một giống người to lớn ngoại cỡ với niên đại cổ xưa như vậy hoàn toàn không ăn nhập gì với mốc thời gian tiến hóa của người. Do đó, những phát hiện dạng này có thể được coi là những cái “gót chân Asin” không thể giải thích được đối với các nhà tiến hóa.

Phát hiện những bộ xương khổng lồ ở vùng núi Borjomi
Một trong những Human Evolution Timeline Interactive của thuyết tiến hóa (Ảnh: humanorigins.si.edu)

Xem thêm:

Categories: Bí ẩn Lịch Sử

Dấu tích người khổng lồ (P.1): Những ghi chép về sự tồn tại của người khổng lồ

20 năm trước, sự hiện diện của người khổng lồ vẫn được coi là hoang đường, nhưng càng ngày càng có nhiều thông tin về người khổng lồ đã từng tồn tại trong lịch sử của nhân loại. Trong các văn tự  từ thời cổ đại cho đến hiện đại đều có ghi chép về việc này.

Hơn 60 năm trước, một cuộc khai quật tại hang động Qumran đã tìm thấy hơn 900 bản thảo cổ tiết lộ nhiều bí ẩn về quá khứ của nhân loại. Nó trùng với những gì mà các nhà khảo cổ tìm thấy ngày hôm nay.

Các nhà khảo cổ đã vô cùng bối rối khi tìm thấy một văn bản bất thường trong số này, một cuộn cung cấp những manh mối về sự sụp đổ của Nephilim – Người Khổng Lồ trong Kinh Thánh đã nói. Nó được gọi là The Book of Giants.

Cuốn sách bí ẩn bất thường: Cuốn sách về sự sụp đổ của người khổng lồ Nephilim. Họ gọi nó là The Book of Giants (Cuốn sách về những người khổng lồ).

Sau đó, năm 1956, những cuộc khảo cổ với quy mô lớn đã phát hiện ra tới 900 bản thảo trên giấy da, bản thảo bằng đồng, một ít được viết bằng giấy cói có niên đại trước Công nguyên. Từ đó, cung cấp cho chúng ta những cái nhìn quan trọng về quá khứ mà nhân loại trải qua.

Một trang sách bằng đồng

Hang động Qumran nằm ở phía Tây Bắc biển Chết là một địa điểm khảo cổ nổi tiếng và ẩn chứa nhiều bí ẩn chưa có lời giải. Tại nơi đây, năm 1947, một người chăn cừu Bedouin tình cờ phát hiện ra những cuốn bản thảo cổ xưa.Một phần cuốn sách làm bằng đồng được tìm thấy trong hơn 900 cuốn cổ được khai quật

Cuốn “Sách Enoch” cổ được tìm thấy ở Ethiopia ghi chép rằng những người khổng lồ là con của các vị Thần, đã xuống Trái đất và mang hình hài vật chất.

Về chuyện các thiên thần có kích thước khổng lồ có tồn tại hay không, các phi công Liên Xô đã khẳng định nhìn thấy vào năm 1985 những hình dáng khổng lồ của các thiên thần tươi cười trên bầu trời. Họ có đôi cánh lớn và có vầng hào quang chói lòa quanh đầu. Những thiên thần này đã đi theo con tàu vũ trụ Salut – 7 và theo dõi bảy thành viên phi hành đoàn trong vòng mười phút rồi biến mất không để lại dấu vết.

Các phi công vũ trụ Liên Xô đã khẳng định nhìn thấy vào năm 1985 những hình dáng khổng lồ của các thiên thần tươi cười trên bầu trời. Họ có đôi cánh lớn và có vầng hào quang chói lòa. (Ảnh minh họa: Mtgthuduc.net)

Trong “Bộ luật Vaticanus” một tác phẩm của người Aztec được lưu giữ trong thư viện Vatican có ghi chép về việc trên Trái Đất đã tồn tại 4 thế hệ người khổng lồ. Thế hệ đầu tiên đã nhanh chóng bị tiêu diệt vì nạn đói. Thế hệ thứ hai bị tiêu diệt trong đám cháy khủng khiếp. Thế hệ thứ ba bị tiêu diệt trong bão tố. Và thế hệ thứ tư, sống vào kỷ “mặt trời – nước” đã bị nhấn chìm trong một trận lụt. Và chỉ sau đó mới xuất hiện con người có hình thức và dáng vóc như hiện nay.

Nhà khoa học người Đức Alexandr von Humboldt, khi nghiên cứu bản thảo của mục sư Pedro de Los Rios người Dominica đã chỉ ra thêm một bằng chứng nữa về trận hồng thủy đã hủy diệt những người khổng lồ. Chỉ có 7 người khổng lồ kịp trốn vào hang động. Khi nước tràn lên, một trong số họ có biệt hiệu Selhui đã tới Cholollan xây dựng ngọn núi nhân tạo có hình Kim tự tháp để tưởng nhớ về ngọn núi Tlaloc đã che chở cho ông ta và những người anh em.

Trên Trái Đất đã từng tồn tại nhiều thế hệ người khổng lồ. (Ảnh: Soha)

Nhà châu Phi học B. Davidson đã miêu tả sinh động cuộc sống của những người khổng lồ dựa vào những nghiên cứu của ông trong một cuộc khai quật tại lưu vực sông Okovango, Tây Nam châu Phi:

“Những người khổng lồ này có một sức mạnh kinh khủng. Chỉ một tay của họ có thể ngăn được dòng chảy của con sông. Còn giọng nói của họ to đến mức vang từ làng này qua làn khác. Khi có một người khổng lồ ho, chim chóc dạt xa như thể bị gió cuốn. Khi săn bắn, họ đi một ngày được hàng trăm km, và họ vác trên bai đi về nhà một cách dễ dàng những con voi hay hà mã săn được”.

Khi nhà ngoại giao người Ả Rập Ahmed Ibn – Fadlan cùng với sứ giả của Khan Bagdat vào thế kỷ XII tới thăm vua của những người Bulgar tại Volga, người ta đã chỉ cho ông xem một tên khổng lồ. Nhà ngoại giao đã ghi lại trong nhật ký: “Tôi thấy đầu hắn ta giống như một chiếc thùng lớn, còn xương sườn của hắn giống như những cành cọ lớn nhất”. Gã khổng lồ này bị tóm tại phía Bắc của đất nước Visu (hiện nay là vùng Pechory) và được đưa đến đất nước người Bulga. Người ta phải giam hắn ở ngoại ô thành phố, buộc vào thân cây bằng những sợi xích khổng lồ bởi hắn rất độc ác và dữ tợn.

Cả Magenllan cũng đã từng gặp người khổng lồ vào năm 1520, khi tàu của ông buông neo tại vịnh San – Juan bên bờ Patagonia. Trong nhật ký thám hiểu có ghi những dòng như sau:

“Bỗng nhiên chúng tôi thấy trên bờ một người khổng lồ gần như lõa lồ. Thậm chí những người cao nhất trong số chúng tôi cũng chỉ cao đến thắt lưng hắn, ngoài ra hắn khá cân đối, có khuôn mặt rất to được vẽ màu đỏ”.

Chúng ta nên biết rằng Magenllan cũng như những thủy thủ châu Âu khác đều giống những người châu Âu nói chung, có thể hình khá lớn.

Ferdinand Magellan, nhà thám hiểm hàng hải người Bồ Đào Nha, là người đầu tiên thực hiện chuyến du hành vòng quanh thế giới, cũng từng bắt gặp người khổng lồ. (Ảnh: wiki)

Gần đây nhất là câu chuyện của nhà nghiên cứu người Anh Gerald Alston. Vào năm 1919 ông đã bị những người khổng lồ sống trong vùng núi dốc đứng Guiana phía Đông Nam của Venezuela bắt làm tù binh. Họ là những người da nâu sáng giống dân Mông Cổ, có chiều cao trung bình khoảng 3m và một cậu bé con của những người khổng lồ này trong lúc nô đùa còn vô ý bẻ gãy tay Alston khiến ông phải đau đớn hàng tháng trời. Nửa năm sau, Alston và người da đỏ nữa đã trốn thoát được ra ngoài và ghi lại câu chuyện này.

Như vậy rất nhiều ghi chép từ xa xưa cho đến thời cận đại đều có nói về sự hiện diện của người khổng lồ, họ tồn tại song hành với nhân loại chúng ta. Tuy nhiên họ có số lượng ít ỏi, và sống ở những nơi hiểm trở hoặc núi sâu rừng già nên rất ít người bắt gặp, nhất là họ lại thường tỏ ra khá hung dữ nên cũng không có một ai đủ tò mò và dũng cảm để đến gần họ.

Vậy phải chăng những người khổng lồ đã từng tồn tại và có lẽ vẫn đang tồn tại với số lượng ít ỏi ở những nơi mà con người chưa từng đặt chân tới?

Nam Minh

Đọc thêm:

Categories: Bí ẩn Lịch Sử

Vải liệm Turin: Tấm vải liệm thi thể Chúa Giê-su gây tranh cãi khi chứa ADN từ khắp thế giới

Tấm vải liệm Turin: hình ảnh khuôn mặt trên tấm vải đã được xử lý kỹ thuật số [bên trái] và hình ảnh toàn thân được nhìn thấy trên tấm vải liệm [bên phải]

Tấm vải Turin vốn được rất nhiều người cho là tấm vải khâm liệm thi thể chúa Giê-su, nhưng những người theo chủ nghĩa hoài nghi lại chỉ coi nó là một hiện vật tôn giáo có ý nghĩa lịch sử to lớn. Tấm vải liệm Turin đã thu hút được sự quan tâm của các học giả lẫn các nhà khoa học nhờ vào bản chất bí ẩn của nó. Các kết quả xét nghiệm ADN được bổ sung vào hồ sơ nghiên cứu gần đây chỉ có thể làm tăng thêm phần kỳ bí, huyền ảo cho nguồn gốc của tấm vải liệm này.

Tấm vải liệm Turin, một mảnh vải dệt nhạt màu có chiều dài khoảng 4,5 m, có thể được xem như một món đồ vật tầm thường với những vết ố màu nâu đỏ đặc thù ở cả hai mặt trước và sau. Hình ảnh một người đàn ông nằm sấp với đôi tay bắt chéo có thể được nhìn thấy trên tấm vải này, với cả hai mặt trước và mặt sau của cái đầu được chập lại chính xác ở giữa tấm vải, cho thấy tấm vải này đã được dùng để chùm lên mặt trước và mặt sau của một xác chết để trần. Vô số vết thương khủng khiếp trên cơ thể đã được hé lộ thông qua những hình ảnh trên tấm vải, từ những vết cắt cho đến những vết đục, vết móc và vết lằn roi. Những hình ảnh này đã cho thấy một cách rõ ràng bằng chứng của việc bị đóng đinh lên cây thập tự giá như trong miêu tả của Kinh thánh về cái chết của chúa Giê-su.

The full length of the Shroud of Turin. Scientists and scholars cannot resolve the mystery of the shroud. (Public Domain) Chiều dài toàn khổ của Tấm vải liệm Turin. Các nhà khoa học và các học giả chưa thể giải mã bí ẩn đằng sau tấm vải liệm này. (Ảnh: Wikimedia)
Chiều dài toàn khổ của Tấm vải liệm Turin. Các nhà khoa học và các học giả chưa thể giải mã bí ẩn đằng sau tấm vải liệm này. (Ảnh: Wikimedia)

Lịch sử bị che giấu của Tấm vải liệm

Dựa trên các tư liệu lịch sử, niên đại ước định của tấm vải liệm này là vào khoảng cuối những năm 1.300, hay vào khoảng cuối thế kỷ 14. Các học giả tranh luận rằng tấm vải liệm này đã có từ trước năm 1.390, và miêu tả thời kỳ trước đó là một “giai đoạn vô cùng tăm tối”. Ngay cả vào thời kỳ trung cổ cũng đã có những quan điểm bất đồng về tính xác thực của tấm vải liệm, những văn bản trao đổi trong cộng đồng chức sắc nhà thờ vào thời kỳ đó gợi ý rằng đây có thể là một món đồ giả mạo. Tuy nhiên, các nhà sử học cũng đưa ra giả thuyết cho rằng trong quá khứ đã tồn tại nhiều “tấm vải liệm” như vậy, và những cáo buộc giả mạo có thể không liên quan đến tấm vải được tìm thấy ngày nay trong nhà thờ thành Turin, nước Ý.

Kể từ thế kỷ 15, sự tồn tại của tấm vải liệm này đã được ghi chép chi tiết trong các tài liệu. Tấm vải này đã được chuyển nhượng cho Gia tộc Savoy ở Ý vào năm 1453, và đã bị thiệt hại trong một trận hoả hoạn. Việc đắp vá và phục chế hiện vật này đã được tiến hành nhiều lần sau đó. Tấm vải này đã được đặt bên trong một nhà nguyện vào thế kỷ 17, nhưng phải đến 200 năm sau nó mới được đem ra trưng bày cho công chúng, và được chụp ảnh lần đầu.

Full length negatives of the Shroud of Turin. (Public Domain) Toàn khổ ảnh chụp âm bản của Tấm vải liệm Turin. (Ảnh: Wikimedia)
Toàn khổ ảnh chụp âm bản của Tấm vải liệm Turin. (Ảnh: Wikimedia)

Chính những bức ảnh chụp này đã biến tấm vải từ chỗ một di vật bình thường lên thành một hiện tượng ăn khách. Những bức ảnh này tự bản thân chúng không quá đặc biệt, cho đến khi được quan sát dưới dạng ảnh chụp âm bản, khi hình ảnh chi tiết của một người đàn ông để râu, bị trọng thương hiện lên một cách rõ nét. Trước đó đã có giả thuyết cho rằng những vết ố và hình người này đã được một nghệ sĩ vẽ lên tấm vải lanh vào một thời điểm nào đó trong lịch sử, nhưng việc phát hiện được một hình ảnh thân thể chi tiết được in hình lên tấm vải đã nhanh chóng làm xóa tan những sự ngờ vực và thuyết phục rất nhiều người tin rằng các hình ảnh nói trên đã hình thành do tiếp xúc với một thân xác người thật. Một số tín đồ Công giáo tin rằng hình ảnh này được truyền tải từ thân thể Chúa Giê-su sang tấm vải nhờ sự phát xuất của một “luồng ánh sáng thần thánh” hay năng lượng khi Ngài phục sinh.

A poster advertising the 1898 exhibition of the shroud in Turin. Secondo Pia's photograph was taken a few weeks too late to be included in the poster. The image on the poster includes a painted face, not obtained from Pia's photograph. (Public Domain) Một áp-phích quảng cáo trong cuộc triển lãm tấm vải liệm Turin vào năm 1898. Bức ảnh được Secondo Pia chụp vài tuần sau đó đã không được đưa vào áp-phích do quá hạn định. Hình ảnh trên tấm áp-phích có in một hình mặt người đã được vẽ, chứ không phải được lấy từ bức ảnh chụp của Pia. (Ảnh: Wikimedia)
Một áp-phích quảng cáo trong cuộc triển lãm tấm vải liệm Turin vào năm 1898. Bức ảnh được Secondo Pia chụp vài tuần sau đó đã không được đưa vào áp-phích do quá hạn định. Hình ảnh trên tấm áp-phích có in một hình mặt người đã được vẽ, chứ không phải được lấy từ bức ảnh chụp của Pia. (Ảnh: Wikimedia)

Nếu đây thực sự là tấm vải liệm bọc thi thể Chúa Giê-su, thì nó phải có niên đại từ năm 30 SCN, niên đại ứng với cái chết của Chúa Giê-su theo ghi chép trong kinh Thánh. Tuy nhiên, niên đại này lại mâu thuẫn với những tư liệu lịch sử về sau, cũng như các kết quả nghiên cứu khoa học hiện đại đươc tiến hành trên hiện vật.

Những phân tích khoa học và các tiết lộ gây chấn động

Một loạt các thí nghiệm đã được tiến hành trên tấm vải liệm kể từ khi các nhà khoa học lần đầu tiên được cho phép khám nghiệm nó vào năm 1969, bao gồm các thí nghiệm vật lý, các phân tích hoá học và việc định tuổi bằng đồng vị phóng xạ cacbon. Những phân tích ban đầu đã dẫn tới việc thành lập một Uỷ ban Turin bao gồm 11 thành viên là các nhà khoa học, cố vấn, và vào năm 1977 Dự án Nghiên cứu Tấm vải liệm Turin (STURP) đã được ra đời.

Những phát hiện của họ, dựa trên một loạt các thí nghiệm khắt khe, đã được công bố trong một báo cáo tổng kết vào năm 1981, trong đó có đoạn:

“Giờ đây chúng tôi có thể kết luận rằng hình ảnh trên Tấm vải liệm là hình dạng thực của một người đàn ông khốn khổ đã bị đóng đinh lên cây thập tự giá. Đây không phải là tác phẩm của một nghệ sĩ. Các vết máu khô có chứa trong thành phần của nó hồng cầu (hemoglobin), đồng thời cho kết quả dương tính đối với thử nghiệm huyết thanh albumin. Hình ảnh này vẫn tiếp tục là một ẩn đố và cho đến khi có thêm nhiều các nghiên cứu hoá học nữa được tiến hành, có lẽ bởi nhóm các nhà khoa học này, hoặc có lẽ bởi các nhà khoa học khác trong tương lai, thì vấn đề này sẽ vẫn là một bí ẩn chưa có lời giải”.

Các nhà nghiên cứu không tìm thấy dấu vết của phẩm màu nhân tạo, có nghĩa là hình ảnh nói trên được tạo ra bởi một thi thể người thật, nhưng cách thức điều này xảy ra vẫn là một câu hỏi chưa có lời giải đáp.

Kết quả định tuổi tấm vải bằng đồng vị phóng xạ carbon 14 cho thấy chất liệu của tấm vải liệm này có niên đại trong khoảng giai đoạn 1260-1390 SCN, một phát hiện gây chấn động, mâu thuẫn với thời điểm qua đời của Chúa Giê-su. Nhưng những người theo chủ nghĩa phê phán cho rằng mẫu vải được xét nghiệm đã được lấy từ những miếng vá gần đây hơn, chứ không phải từ tấm vải gốc.

Bổ sung thêm vào hồ sơ các phát hiện kỳ lạ về tấm vải liệm bí ẩn này, các nhà nghiên cứu người Ý hiện đã phát hiện thấy tấm vải này có thể đã được dệt tại Ấn Độ, và chứa ADN từ khắp nơi trên thế giới. Thông qua việc xác định trình tự (giải trình tự) ADN từ bụi và phấn hoa trên tấm vải liệm, người ta có thể biết được nguồn gốc của những chủng người và các hoàn cảnh môi trường mà tấm vải này từng tiếp xúc.

Kết quả phân tích DNA cho thấy tấm vải có thể đã được sản xuất ở Ấn Độ, và đã đi qua nhiều nơi trên thế giới trước khi đến nước Ý vào thời trung cổ, làm dấy lên nhiều giả thuyết tiềm năng về một nguồn gốc châu Âu thời trung cổ của tấm vải.

Một số loài cây thực vật đã được xác định thông qua quá trình giải trình tự DNA bao gồm cây đuôi ngựa (horsetail), cỏ ba lá, cỏ dại (ryegrass), cây riếp xoăn (chicory), những loại cây có nguồn gốc ở châu Á, Trung Đông hay châu Mỹ.

(Ảnh: Anja Disseldorp/Flickr)
(Ảnh: Anja Disseldorp/Flickr)

Thi thể bọc bên trong

Các vết ố có thể là những vết thương và máu của một người đàn ông đã chết. Những hình ảnh trên tấm vải đã cho thấy một thi thể bị huỷ hoại bởi các vết cắt trên hầu khắp bề mặt; những vết thương do đâm xuyên, khoét lỗ và vết cắt thẳng có thể được nhìn thấy. Có thể nhìn thấy một vết đâm lớn hình tròn trên bàn tay, cũng như các vết thương lớn do đâm xuyên trên bàn chân.

The renowned Shroud of Turin, religious relic and mysterious artifact. (Public Domain) Tấm vải liệm Turin nổi tiếng, một thánh tích tôn giáo bí ẩn. (Ảnh: Wikimedia)
Tấm vải liệm Turin nổi tiếng, một thánh tích tôn giáo bí ẩn. (Ảnh: Wikimedia)

Khuôn mặt để râu của người đàn ông đã bị sưng tấy và biến dạng do bị đánh đập tàn bạo. Các vết máu ố dường như có mặt ở khắp mọi nơi, đặc biệt ở gần vùng mặt và ở cả hai cánh tay.

Câu hỏi trong các câu hỏi – bằng cách nào?

Dù đã tiến hành nhiều thử nghiệm khoa học, nhưng không một câu trả lời thoả đáng nào có thể được đưa ra về cách thức hình ảnh xuất hiện và lưu giữ trên trên tấm vải liệm, ngoại trừ việc đây hẳn là một phép màu, chí ít theo quan điểm của một số người sùng đạo. Các nhà nghiên cứu đã khẳng định rằng những hình ảnh này không phải được vẽ lên, mà đã được thẩm thấu vào bên trong sợi vải.

Đã vô số nỗ lực nhằm tái tạo những hình ảnh này, và lặp lại quá trình thẩm thấu khác thường của màu sắc vào bên trong sợi vải, nhưng đều không thành công. Nhà vật lý học Paolo Di Lazzaro, một chuyên gia đầu ngành về hiện tượng tấm vải liệm, đã gọi đây là “câu hỏi trong các câu hỏi”: hình ảnh này đã được tạo ra bằng cách nào?

Ông Di Lazzaro và các đồng nghiệp đã sử dụng công nghệ laze tiên tiến nhất để bắn các chùm tia cực tím ngắn, có cường độ mạnh vào một tấm vải thô để thử tái tạo các hình ảnh trên tấm vải liệm. Rốt cuộc họ đã không thành công trong việc tạo ra một sản phẩm có chất lượng tương tự bản gốc, thậm chí họ còn không thể tái tạo hoàn chỉnh một cơ thể người. Bất kể tấm vải có niên đại từ bao lâu, khoa học cũng không thể tạo ra một bản sao tương tự. Vậy hiện vật này đã được tạo ra như thế nào vào rất nhiều năm về trước?

“Ít có khả năng khoa học sẽ cung cấp một cách giải thích toàn diện cho rất nhiều ẩn đố của tấm vải liệm này. Một “cú nhảy của đức tin” là điều cần thiết để đối mặt với các câu hỏi không có câu trả lời rõ ràng như thế – dù cho đó là ‘niềm tin’ của những người theo chủ nghĩa hoài nghi hay niềm tin của những người theo đạo”, ông Di Lazarro nói trong một cuộc trao đổi gần đây với tạp chí Địa lý Quốc gia Hoa Kỳ (National Geographic).

Tính chân thực của tấm vải chưa từng được Giáo hội Công giáo Rôma xác nhận một cách chính thức. Tấm vải này chỉ được Giáo hoàng John Paul II miêu tả là một “sự phản ảnh của kinh phúc âm”, và thậm chí là một “thánh tích đặc biệt”. Tuy nhiên, Giáo hội đã khuyến khích việc tỏ lòng thành kính đối với hiện vật này, và tấm vải đã được bảo vệ và tỏ lòng thành kính bởi các tín đồ sùng đạo qua nhiều thế kỷ.

Tấm vải này hiện đang được trưng bày bên dưới lớp kính chống đạn bên trong một cái tủ kính kín khí, có lắp điều hòa để duy trì tình trạng nhiệt độ tốt nhất cho việc bảo quả tại thành phố Turin ở miền bắc nước Ý, và được bảo vệ bằng các máy quay camera, các thiết bị bay không người lái cùng lực lượng cảnh sát.

5ea7caa2-4145-47ca-b9d9-a763adfed0a5-2060x1236
Giáo hoàng Francis chạm vào tấm vải liệm Turin trong một chuyến thăm vào ngày 21/6/2015. (Ảnh: Giorgio Perottino/Reuters)

Khoa học có thể tiến gần hơn đến nguồn gốc của tấm vải liệm, cũng như hành trình của nó kể từ thời Trung cổ, nhưng các nhà nghiên cứu dường như không thể tiếp cận gần hơn đến việc giải mã bản chất chân thực của thánh tích này. Philip Ball, cựu biên tập viên của tạp chí khoa học Tự nhiên (Nature) đã từng nói bóng gió về thách thức trường kỳ của tấm vải liệm: “Công bằng mà nói, bất chấp các thí nghiệm dường như đã đi đến kết luận cuối cùng vào năm 1988, hiểu biết về Tấm vải liệm Turin vẫn còn rất mờ mịt. Chí ít, bản chất của hình ảnh và cách thức nó được “in” lên tấm vải vẫn còn là một ẩn đố vô cùng khó giải”. Ẩn đố này vẫn chưa được giải đáp sau hàng thập kỷ đã qua, khiến Tấm vải liệm Turin giữ nguyên danh hiệu của nó là một trong những thánh tích gây nhiều tranh cãi và khó hiểu nhất nhất trong lịch sử.

Tác giả: Liz Leafloor, Ancient Origins.

Đọc thêm:

Categories: Bí ẩn Lịch Sử

Tại sao vương quốc Babylon bị hủy diệt?

Vương quốc Babylon được công nhận là một trong bốn nền văn minh cổ đại, lịch sử bắt nguồn từ khoảng 4.000 năm, thậm chí 5.000 năm trước. Nền văn hóa của Babylon cũng có ảnh hưởng to lớn trong lịch sử. Nhưng một vương quốc huy hoàng như vậy tại sao lại bị hủy diệt?

Thành cổ vương quốc Babylon

Babylon cổ đại nằm ở vùng bình nguyên Lưỡng Hà (Mesopotamia) (ngày nay Babylon nằm trong lãnh thổ Iraq). “Mesopotamia” (Lưỡng Hà) dịch theo tiếng Hy Lạp cổ đại có nghĩa là “vùng đất giữa hai con sông”, người xưa gọi là “lưu vực lưỡng hà”. Hai con sông này là Euphrates và Tigris. Vương triều cuối cùng của vương quốc Babylon (626 TCN – 539 TCN) từng tiêu diệt vương quốc của người Do Thái cổ, điều này trong Thánh Kinh nhiều lần nhắc đến, trong Sách Khải Huyền cũng kể lại điển cố “Jerusalem bị vây hãm” này.

Vị vua thứ hai của vương triều cuối này (Nebuchadnezzar II, 634 TCN – 562 TCN) khi nắm quyền đã đưa đất nước trở nên hùng mạnh tột đỉnh. Thành Babylon cổ kiên cố hùng vĩ với hai lớp tường thành bao quanh. Vì sát sông Euphrates nên con kênh đào bảo vệ thành rộng lớn luôn có nguồn nước sông Euphrates cung cấp đầy đủ. Nebuchadnezzar đã xây dựng và biến Babylon thành nơi phồn hoa nhất, kiên cố nhất vùng Trung Đông thời đó, cũng là thành phố công thương nghiệp quan trọng nhất. Những đường giao thông chính trong thành được lót bằng đá phiến màu trắng và màu hoa hồng.

Tương truyền rằng trong thành còn có tòa tháp Babel mà Thánh Kinh cho rằng đã xúc phạm thần linh. Cung điện cũng vô cùng hoa lệ, có vườn treo được xem là một trong 7 kỳ quan lớn nhất thế giới.

Vườn treo Babylon, phía xa là tòa tháp Babel. (Tranh qua Wikipedia)

Vua Nebuchadnezzar ỷ vào sức mạnh đất nước hùng hậu, nhiều lần phát động chiến tranh, hủy diệt cả vương quốc của người Do Thái cổ, đánh hạ được thành thánh Jerusalem của người Do Thái, cướp bóc, phá huỷ và bắt những cư dân của thành phố này đến Babylon làm nô lệ. Nhiều người bị sỉ nhục và bức hại do khác biệt về tôn giáo và tập quán. Đối với người Do Thái, đây là một bài học lịch sử đau thương, vì thế họ gọi giai đoạn này là “nhà ngục Babylon”.

Babylon phồn hoa nhưng thực chất đạo đức cũng rất bại hoại. Thêm nữa, vì đây là thủ phủ của vương quốc, là trung tâm thương nghiệp khu vực Trung Đông thời cổ, nơi các thương nhân tấp nập qua lại, do vậy mà độ trụy lạc của nó lan sang nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ khác.

Các nhà tiên tri Do Thái dù bị bức hại tại Babylon vẫn tuyên dương đạo đức và chính tín nhưng lại không được tiếp nhận, khiến họ phải than rằng “chúng tôi muốn chữa bệnh cho Babylon nhưng đã hết cách”. Thánh Kinh kể rằng Nebuchadnezzar đã xây dựng một tượng vàng, các quan chức lớn nhỏ đều bị triệu đến tham gia lễ khánh thành, mọi người bị bắt phải bái lạy tượng vàng này, nếu không sẽ bị xử chết. Nhiều người Do Thái không bái ai ngoài thần Giê-hô-va của họ nên đã cự tuyệt bái tượng vàng. Vua Nebuchadnezzar tức giận ra lệnh ném họ vào lò lửa.

Năm 539 TCN là thời Nabonidus, vị vua cuối cùng của đế quốc Babylon, là cháu của Nebuchadnezzar. Tuy nhiên ông ta thường cho con của mình là Belshazzar quản lý mọi sự vụ. Trong ngày cuối cùng của đế quốc cổ đại hùng mạnh, Cyrus Đại Đế đã đem quân tiến gần tới Babylon. Trong khi đó, Belshazzar vẫn còn mải mê tiệc rượu.

Khi Belshazzar và các đại thần đang chè chén say sưa, thì bất ngờ một ngón tay giữa không trung xuất hiện, viết lên tường thành lời tiên đoán rằng Babylon sắp bị diệt vong. Nhưng trước cảnh báo kỳ lạ này, Belshazzar vẫn không tỉnh ngộ.

Belshazzar nhìn thấy chữ viết trên tường thành tiên đoán về việc Babylon bị diệt vong. (Tranh qua Wikipedia)

Do có binh hùng tướng mạnh, cộng thêm việc quân đội Babylon không còn tin tưởng vào nhà vua, nên Cyrus Đại Đế thuyết phục được quân Babylon đầu hàng. Ông ta đã nhẹ nhàng chiếm được tòa thành cổ đại không tốn một mạng người. Lịch sử vương quốc Babylon đến đây chấm dứt, những biến thiên của lịch sử sau này đã khiến thành Babylon bị bỏ hoang cho đến ngày nay, có lẽ là “vì nghiệp chướng của họ làm cho vùng đất này mãi mãi hoang vắng”.

Sau khi Cyrus công chiếm Babylon đã thiện đãi người Do Thái và đạo của họ, chấm dứt bức hại, giải phóng tất cả nô lệ bị bắt để cho họ trở lại quê hương, trả lại tất cả tài sản cho họ, cho phép họ xây dựng điện thánh Do Thái giáo. Đế quốc Ba Tư do Cyrus mở ra tồn tại được hơn 200 năm, đến ngày nay người Iran vẫn tôn Cyrus là “Quốc phụ”.

Vương quốc babylon
Cyrus Đại Đế giải phóng người Do Thái. (Tranh qua Wikipedia)

Vương quốc Babylon từng dũng mãnh vô địch nhưng đã bị tiêu diệt một cách không ngờ. Giai đoạn lịch sử này để lại cho hậu thế bài học sâu sắc. Nhìn bề ngoài thì đó là vì Belshazzar say mê hưởng lạc, nhưng thực chất sâu xa là tình trạng đạo đức đã suy bại, khinh nhờn tín ngưỡng, hạ nhục tín đồ. Vậy nên chỉ trong vòng chưa đầy 30 năm, từ một vương quốc hùng mạnh, Babylon mới dễ dàng bị Cyrus Đại Đế hạ gục không tốn một binh một tốt.

Xem ra ở bất cứ quốc gia nào, cho dù chính quyền và tổ chức của nó giàu có hùng mạnh đến đâu, nhưng nếu bức hại chính tín chính giáo, thì cuối cùng sẽ bị báo ứng. Còn như Cyrus Đại Đế đã thiện đãi các tín đồ, thì lại lưu danh cho tới tận ngày nay.

Blog Trần Văn.

Categories: Bí ẩn Lịch Sử

Hà Đồ và Lạc Thư ẩn tàng chữ Vạn của Phật gia và Thái cực của Đạo gia

Người am hiểu lý học, toán quái chắc hẳn đều ít nhiều tìm hiểu về Hà Đồ và Lạc Thư. Hai đồ hình này đều xuất hiện từ thời văn minh cổ đại rất xa xưa, sớm hơn cả Phật giáo và Đạo giáo.

Sau này, trong các nền văn hóa phương Đông có hai đồ hình khá phổ biến là đồ hình chữ Vạn (卍) của Phật gia và đồ hình Thái cực của Đạo gia.

Hà Đồ và Lạc Thư ẩn tàng chữ Vạn (卍) của Phật gia và Thái cực của Đạo gia

Hà Đồ và Lạc Thư

Hà Đồ, Lạc Thư và Bát Quái là ba họa đồ được truyền lại từ thời xa xưa, có nguồn gốc từ các bộ tộc phía Nam sông Dương Tử cổ đại (là nơi phát tích của người Việt cổ). Mỗi họa đồ được truyền tụng, phát triển, và sử dụng với nhiều mục đích khác nhau.

Theo truyền thuyết cổ xưa, trên sông Hoàng Hà đã từng xuất hiện một con long mã trên mình có vẽ Hà Đồ. Còn trên sông Lạc Thủy xuất hiện con thần quy, trên lưng có vẽ Lạc Thư.

Hà Đồ và Lạc Thư ẩn tàng chữ Vạn (卍) của Phật gia và Thái cực của Đạo gia
Hà Đồ và Lạc Thư.

Phục Hy căn cứ vào Hà Đồ để suy diễn ra Tiên thiên Bát quái, còn Chu Văn Vương lại căn cứ vào Lạc Thư để suy diễn ra Hậu thiên Bát quái. Theo đó, những đồ hình này hàm chứa nhận thức của cổ nhân về vũ trụ.

Hà Đồ và Lạc Thư ẩn tàng chữ Vạn (卍) của Phật gia và Thái cực của Đạo gia
Phục Hy diễn hóa Hà Đồ từ lưng rùa (có sách chép là con Long Mã, không phải rùa).

Ngày nay, những người đam mê Kinh Dịch, thuật số, lý học vẫn luôn xoay quanh những đồ hình ấy để nghiên cứu. Có người cho rằng đó chỉ là toán học thời cổ đại, có người lại cho rằng chúng ẩn chứa khả năng biết rõ quá khứ và tiên đoán tương lai. Tuy nhiên ít ai biết rằng Thái cực của Đạo gia và chữ Vạn của Phật gia đều ẩn giấu trong Hà Đồ và Lạc Thư.

Lạc Thư

Trong truyền thuyết khi vua Đại Vũ trị thủy, trên sông Lạc xuất hiện con rùa lớn, trên lưng rùa xuất hiện hoa văn tạo thành bức đồ hình, gọi là  “Lạc Thư”. Đồ hình đó như sau:

Hình 1: Lạc Thư.

Chúng ta để ý số lượng các dấu chấm trong Lạc Thư này và thay thế chúng bằng các chữ số để biểu thị. Như vậy ta được một ma trận 3×3 như sau:

Hình 2: Ma trận Lạc Thư.

Ta thấy rằng Lạc Thư này rất minh hiển và cân đối, bất luận là hàng ngang, dọc, hay đường chéo đều có tổng các số là 15.

Hà Đồ

Tương truyền vào thời Phục Hy khoảng 5.000 năm trước, trên sông Hoàng Hà xuất hiện một con Long Mã (đầu rồng mình ngựa), trên lưng có những dấu chấm trắng và đen tạo thành bức đồ hình gọi là “Hà Đồ”,  đồng thời Phục Hy dựa vào đó mà tạo ra  bát quái.

Hà Đồ và Lạc Thư ẩn tàng chữ Vạn (卍) của Phật gia và Thái cực của Đạo gia

Hình 3: Hà Đồ.

Trong cả Hà Đồ và Lạc Thư thì các số có chấm màu trắng (có tổng số chấm là 1,3,5,7,9) là dương, các số có chấm màu đen (có tổng số chấm là 2,4,6,8,10) là âm.

Thái cực

Bên trong Hà Đồ có bao hàm Thái cực, nhưng lại không phải kiểu Thái cực mà chúng ta quen thuộc, mà là kiểu Thái cực nguyên sơ hơn, có được bằng cách nối liền các chấm đen và nối liền các chấm trắng ở ngoài:

Hà Đồ và Lạc Thư ẩn tàng chữ Vạn (卍) của Phật gia và Thái cực của Đạo gia

Hình 4: Thái cực trong Hà Đồ.

Loại Thái cực đồ này từng được cổ nhân sử dụng, ví dụ như bản vẽ do Lai Trí Đức ghi lại vào năm 1599:

Chữ Vạn

Ở Hà Đồ (hình 3 bên dưới) ta thấy các cặp âm – dương đi liền với nhau, phía dưới cùng có số lượng dấu chấm là 1 và 6 chấm (1-6), tương tự phía trên cùng có số lượng dấu chấm là 2 và 7 chấm (2-7), bên trái có số lượng dấu chấm là 3 và 8 chấm (3-8), bên phải có số lượng dấu  chấm là 4 và 9 chấm (4-9).

Hà Đồ và Lạc Thư ẩn tàng chữ Vạn (卍) của Phật gia và Thái cực của Đạo gia

Hình 3: Hà Đồ.

Hình 2: Ma trận Lạc Thư.

Từ hình 2 của Lạc Thư, lấy 5 làm trung tâm rồi nối các cặp số mà Hà Đồ chỉ ra (1-6), (2-7), (3-8), (4-9), sau đó nối  với trung tâm ở giữa sẽ được đồ hình như sau:

Hình 5: Chữ Vạn trên Lạc Thư.

Đến đây hẳn ai cũng đã thấy xuất hiện phù hiệu chữ Vạn (卍).

Nhận thức về vũ trụ

Tuy nhiên đến đây vẫn chưa phải là hết. Văn hóa phương Đông từ xưa đến nay có Đạo gia và Phật gia là chủ yếu. Đạo gia có Thái Cực, Phật gia có phù hiệu chữ Vạn (卍), chúng đều là nhận thức về vũ trụ của hai gia phái này. Vậy thì điều này cũng có liên quan tới Hà Đồ và Lạc Thư.

Số lẻ cấu thành Lạc Thư (tổng số con số ở hình 1 là 9) ở đó ẩn tàng phù hiệu chữ Vạn (卍); Còn số chẵn cấu thành Hà Đồ (tổng số con số ở hình 3 là 10) ở đó ẩn tàng Thái Cực. Như vậy chữ Vạn (卍) diễn xuất số lẻ, Thái Cực diễn xuất số chẵn.

Từ hình 5 lấy phù hiệu chữ Vạn (卍) thay thế số lẻ, lấy Thái Cực thay thế số chẵn thì ra đồ hình như sau:

Đồ hình này ẩn chứa sự kết hợp của hai tín ngưỡng lớn tại phương Đông, đúng là một đồ hình vô cùng đặc biệt. Có thể có người cho rằng Hà Đồ, Lạc Thư hay Kinh Dịch vốn là của Đạo gia nên dĩ nhiên là có Thái Cực. Nhưng vì sao chúng còn ẩn chứa phù hiệu chữ Vạn (卍) của Phật gia?

Theo thiển ý của người viết, các đồ hình ấy chứa đựng hiểu biết của cổ nhân về vũ trụ, mà vũ trụ to lớn này thì Phật và Đạo đều nằm trong, nên trong Hà Đồ hay Lạc Thư thì đều bao hàm cả Phật và Đạo. Trên đây chỉ là một chút mạn đàm, mong được chia sẻ tới người đam mê Kinh Dịch gần xa.

Nguyễn Vĩnh. Theo Trithucvn

Categories: Bí ẩn Lịch Sử

Chuyện người phụ nữ tinh thông tướng số muốn sinh con làm thiên tử

Mong muốn trở thành bậc mẫu nghi thiên hạ, sinh ra vua, nhưng người phụ nữ tinh thông tướng số này lại không thể toại nguyện, chỉ sinh được một người con trai. Mặc dù vậy, con trai bà là một kỳ nhân hiếm có, đỗ trạng nguyên, làm quan đến tước quốc công, trở thành nhà chiến lược kỳ tài, nhà thơ có ảnh hưởng sâu sắc và còn được dân gian coi là nhà tiên tri số một trong sử Việt.

Ly kỳ chuyện người phụ nữ tinh thông tướng số muốn sinh con làm thiên tử
(Tranh minh họa tổng hợp: Trí Thức VN – Tranh gốc: Viettoon.net)

Người phụ nữ tinh thông tướng số mang chí lớn

Vào thời nhà Lê ở làng An Tử Hạ, huyện Tiên Minh, xứ Hải Dương (nay thuộc xã Kiến Thiết, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng) có người phụ nữ đặc biệt thông minh tên là Nhữ Thị Thục. Bà là con gái của quan thượng thư bộ Hộ, tiến sĩ Nhữ Văn Lan dưới thời Lê Thánh Tông.

Vì sinh trưởng trong một gia đình khoa bảng danh giá nên bà Thục học rất giỏi, tính tình quyết đoán, thông kinh sử. Hơn nữa bà còn thông tỏ cả Dịch lý, tướng số, mang chí lớn.

Biết tướng mạo của mình sẽ sinh quý tử, lại thấy khí số nhà Lê đã đến hồi suy tàn sắp mất, nên bà quyết chí phải lấy cho được người chồng có số làm vua hoặc có số sinh ra vua.

Chính vì thế, dù sinh trưởng trong gia đình danh giá, được nhiều trang tuấn kiệt để mắt, nhưng bà đều từ chối vì qua thuật xem tướng số bà biết rằng vận mệnh của họ không thể làm vua, cũng không thể sinh ra quý tử.

Ly kỳ chuyện người phụ nữ tinh thông tướng số muốn sinh con làm thiên tử
Bà Nhữ Thị Thục làu thông kinh sử, tinh thông tướng số. (Tranh minh họa qua phunuvietnam.vn)

Mãi sau này, bà Thục gặp được một ông đồ nhà quê ít tiếng tăm tên là Nguyễn Văn Định ở huyện Vĩnh Lại (tức Vĩnh Bảo ngày nay). Bà quyết định đến với ông vì biết rằng tướng số của ông có thể sinh ra quý tử.

Rồi bà Thục thụ thai, sinh con trai, đặt tên là Nguyễn Văn Đạt, chính là tên khai sinh của Nguyễn Bỉnh Khiêm sau này. Vì rất kỳ vọng vào con nên ngay từ nhỏ bà đã chăm sóc dạy dỗ rất chu đáo. Từ khi mới sinh, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã được mẹ hát ru bằng những câu dân ca hoặc những vần thơ do bà sáng tác.

Dân gian truyền rằng, Nguyễn Bỉnh Khiêm đầy thôi nôi đã biết nói, lên 4 tuổi đã được mẹ dạy học thuộc lòng kinh sách, cùng nhiều bài thơ Nôm. Nguyễn Bỉnh Khiêm trong lời tựa cho Bạch Vân am thi tập của ông cũng đã khẳng định và tỏ lòng biết ơn công lao cũng như nhiệt tâm của mẹ trong việc dạy dỗ mình những năm đầu đời.

Mâu thuẫn trong việc giáo dục trạng Trình

Vì kỳ vọng con sau này có thể làm vua, nên bà Nhữ Thị Thục không ít lần xích mích với chồng. Một lần khi bà đi chợ, ông Văn Định ở nhà buộc dây vào cành tre, kéo lên, kéo xuống cho con chơi và ngâm đùa rằng: “Nguyệt treo cung, nguyệt treo cung”.

Những tưởng Nguyễn Bỉnh Khiêm chưa biết gì, ai ngờ cậu lập tức nói: “Vịn tay tiên, nhè nhẹ rung”.

Đến khi bà Thục đi chợ về, ông Văn Định kể lại chuyện để khoe vợ, chẳng ngờ bà gay gắt nói: “Nuôi con mong làm vua làm chúa, cớ sao lại mong làm bầy tôi” (Nguyệt tượng trưng cho bầy tôi).

Ly kỳ chuyện người phụ nữ tinh thông tướng số muốn sinh con làm thiên tử
Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. (Ảnh qua giaoduc.net.vn)

Lần khác khi vợ đi vắng, ông Văn Định lấy sách của vợ tìm một câu để dạy con, thấy câu: “Bống bống, bang bang, ngày sau con lớn, con tựa ngai vàng”.

Ông Văn Định hoảng sợ, lo con đọc thì bị cho là tội phản nghịch, bị chém đầu, bèn sửa chữ “tựa” thành chữ “vịn”.

Bà Thục sau này biết chuyện thì than: “Sinh con ra, mong con làm vua thiên hạ. Nay thầy nó dạy con làm tôi, chán quá!”

Rồi sau này bà Thục dùng thuật xem tướng số, thấy con mình tướng mạo rất tốt, hiềm nỗi da hơi dày, nên biết dù có là thiên tài cũng chẳng thể làm vua; cộng thêm mâu thuẫn trong việc dạy con khiến bà Thục chán nản bỏ đi.

Về cuộc đời sau này của bà thì có nhiều ý kiến trái chiều. Một số nhà nghiên cứu cho rằng ít lâu sau bà Nhữ Thị Thục gặp và lấy ông Phùng Chí Công, sinh thêm được một ông trạng nữa cũng nổi danh đất Việt là trạng Bùng Phùng Khắc Khoan. Gia phả họ Phùng ở Phùng Xá, Thạch Thất, Sơn Tây là “Ký lục tiên tổ sự tích” do cháu 3 đời của trạng Bùng ghi lại cũng có chép:

Khi thân phụ Phùng Khắc Khoan ở Từ Sơn, có gặp một thiếu phụ từ Hải Dương đến, lông mày lá liễu, sắc mặt hơi buồn. Bà đi cùng đường với ông, được chừng một dặm, ông thấy bà nhàn rỗi như đi dạo, bèn trò chuyện, hỏi han. Thấy ông có phúc tướng, bà mới bộc bạch nỗi lòng. Ông rơi lệ cảm động. Hai người kết nghĩa vợ chồng. Qua năm sau, sinh được con trai có tướng lạ, mới 5-6 tuổi mà đã có khí vũ của bậc trượng phu. Bà mừng rỡ bảo ông nên dạy cho nó học, nếu trời xanh không phụ, may gặp thời phò được thiên hạ nghiêng đổ thì chí thiếp mãn nguyện.

Nhiều người nhìn nhận rằng người phụ nữ Hải Dương ấy mang họ Nhữ, là mẹ của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Tuy nhiên do đây là gia phả do cháu 3 đời ghi lại, mà thời điểm ghi lại thì dân gian cũng đã có nhiều thuyết về trạng Trình và trạng Bùng, nên cũng khó mà có thể lấy đó làm điều xác thực.

Ly kỳ chuyện người phụ nữ tinh thông tướng số muốn sinh con làm thiên tử
Trạng vinh quy. (Tranh minh họa qua newvietart.com)

Trong bài phả ký tựa đề “Bạch Vân am cư sĩ Nguyễn công Văn Đạt phả ký” (Phả ký về Bạch Vân am cư sĩ Nguyễn Văn Đạt), Vũ Khâm Lân lại khẳng định “Bà (tức Nhữ Thị Thục, mẹ của Nguyễn Bỉnh Khiêm) vẫn không nguôi giận, bỏ về ở bên cha mẹ đẻ, cách ít lâu sau thì mất”.

Quả thực việc bà Nhữ Thị Thục có phải là thân mẫu của cả trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm và trạng Bùng Phùng Khắc Khoan không có rất nhiều tranh cãi. Chủ yếu nhất là vì hai ông trạng Việt này cách nhau những 37 tuổi. Nếu bà Thục khoảng 30 tuổi mới lấy chồng, rồi hoài thai, sinh nở và nuôi lớn trạnh Trình, rồi bỏ đi lấy ông Phùng Chí Công, thì thời điểm sinh trạng Bùng ước tính phải vào năm bà trên 70 tuổi. Điều này quả là khó mà lý giải.

Hiện tại, phần mộ của bà Nhữ Thị Thục được đặt bên cạnh phần mộ song thân là vợ chồng quan thượng thư Nhữ Văn Lan vẫn được bảo quản nguyên vẹn tại quê nhà trong gần 500 năm qua. Tại sao khi bà mất lại không được chôn cất bên nhà chồng tại xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo mà lại an táng bên nhà cha mẹ đẻ ở thôn An Tử Hạ, xã Kiến Thiết, huyện Tiên Lãng? Âu đó cũng có thể là một bằng cớ cho việc bà “bỏ về ở bên cha mẹ đẻ, cách ít lâu sau thì mất” như trong cuốn “Bạch Vân am cư sĩ Nguyễn công Văn Đạt phả ký” có chép lại.

Không phải là vua nhưng lại là người có ảnh hưởng lớn tới thế cuộc

Sức người không thay đổi được thiên mệnh, tuy mẹ tinh thông tướng số, trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng không thể làm vua. Nhưng dù ông không phải là vua, thì các bậc vua chúa thời đó đều phải tới hỏi ý kiến ông. Điều đó giả như bà Nhữ Thị Thục biết được, thì cũng kể là một sự an ủi lớn.

Lúc nhà Lê bắt đầu trung hưng, vua Mạc ngự giá đến nhà ông hỏi các kế công thủ, trạng Trình đã đáp rằng: “Ngày sau nước có việc, đất Cao Bằng tuy nhỏ, cũng giữ được phúc đến vài đời”. 7 năm sau, nhà Mạc mất (1592), lui về giữ đất Cao Bằng, quả nhiên truyền được tới tận năm 1677.

Ly kỳ chuyện người phụ nữ tinh thông tướng số muốn sinh con làm thiên tử
Thời đất nước loạn lạc. (Tranh minh họa qua yeusuviet.com)

Khi Nguyễn Hoàng lo lắng bị chúa Trịnh sát hại, bèn sai sứ hỏi Nguyễn Bỉnh Khiêm, trạng Trình không trả lời thẳng, chỉ nói rằng: “Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân”, có nghĩa là: “Hoành sơn một dãy, dung thân ngàn đời”.

Nguyễn Hoàng đã qua Hoành Sơn đến Thuận Hóa và làm nên nghiệp lớn của chúa Nguyễn ở Đàng Trong và nhà Nguyễn sau này.

Khi vua Lê Trung Tông mất, Trịnh Kiểm muốn nhân cơ hội này chiếm ngôi vua của nhà Lê, bèn hỏi ý kiến Phùng Khắc Khoan, nhưng ông cũng không biết nên làm thế nào bèn phái người bí mật hỏi Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Ly kỳ chuyện người phụ nữ tinh thông tướng số muốn sinh con làm thiên tử
Các vua chúa quan lại đều lo lắng về cuộc cờ của đất nước. (Tranh minh họa qua kienthuc.net.vn)

Nguyễn Bỉnh Khiêm nói rằng: “Năm nay thóc giống không tốt, chúng bay nên tìm thóc cũ mà gieo mạ”  “Giữ chùa, thờ Phật thì được ăn oản”.

Phùng Khắc Khoan hiểu ý Nguyễn Bỉnh Khiêm, bèn nói với chúa Trịnh rằng phải thờ vua Lê thì mới được lâu dài.

Sau này con cháu nhà Trịnh nhiều người muốn cướp ngôi nhà Lê, tìm đến Nguyễn Bỉnh Khiêm thì ông đều nói rằng “Lê tồn, Trịnh tại; Lê bại, Trịnh vong” khiến chúa Trịnh không dám cướp ngôi vua Lê. Đến khi vua Lê Chiêu Thống mất ngôi thì nhà Trịnh cũng bị diệt.

Nguyễn Bỉnh Khiêm dù không là vua nhưng tiếng nói của ông lại quyết định cuộc cờ của các thế lực vua chúa thời bấy giờ. Ông nổi tiếng với những lời tiên tri mà dân gian gọi là “Sấm trạng Trình” hay “Sấm ký Nguyễn Bỉnh Khiêm”. Đây là những lời được cho là có tính tiên tri của Nguyễn Bỉnh Khiêm về các biến cố chính của dân tộc Việt Nam trong khoảng 500 năm (từ năm 1509 đến khoảng năm 2019).

Ly kỳ chuyện người phụ nữ tinh thông tướng số muốn sinh con làm thiên tử
Nguyễn Bỉnh Khiêm. (Ảnh qua anhp.vn)

Theo suy diễn, nhiều điểm được nêu trong sấm ký này đã trùng khớp với các sự kiện lịch sử Việt Nam mà nổi bật nhất là tiên đoán về quốc hiệu Việt Nam, vì vào thời Nguyễn Bỉnh Khiêm sống thì Việt Nam chưa có quốc hiệu này mà vẫn còn dùng quốc hiệu Đại Việt. Chính vì vậy mà dân gian coi ông là nhà tiên tri số một trong sử Việt.

“Sấm trạng Trình” gắn với những giai thoại và sự thật lịch sử. Nhiều nội dung trong sấm ký hiện đã được giải mã và cho là ứng nghiệm, trong đó phải kể tới:

  • Giúp chúa Trịnh phò vua Lê để cùng trị nước
  • Giúp chúa Nguyễn cát cứ ở Thuận Hóa (Hoành Sơn) để phát triển sự nghiệp
  • Giúp nhà Mạc chọn Cao Bằng cát cứ mấy đời
  • Nguyễn Công Trứ phá đền
  • Nguyễn Nhạc xuất thân từ biện lại làm vua
  • Bằng quận công Nguyễn Hữu Chỉnh nắm quyền lớn rồi chết
  • Cha con Quang Trung và Cảnh Thịnh làm vua 14 năm
  • Nhà Nguyễn tin và mất nước về tay người phương Tây
  • Khởi nghĩa Yên Bái
  • Thế chiến II
  • Cái chết của Toàn quyền Pierre Pasquier

Sau này những nhà nghiên cứu về trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm đều đánh giá cao vai trò của bà Nhữ Thị Thục trong việc giáo dục Nguyễn Bỉnh Khiêm. Cố giáo sư sử học Trần Quốc Vượng có nhận xét rằng:

Bà Nhữ Thị Thục – thân mẫu danh nhân văn hóa Nguyễn Bỉnh Khiêm là một trong ba người phụ nữ nổi tiếng, tài trí hơn người của Việt Nam ở thế kỷ XVI. Đó là Trạng nguyên Linh phi Nguyễn Thị Duệ, Quận công Nhữ Thị Thuận và phu nhân Nhữ Thị Thục.

Trần Hưng. Theo Trithucvn

Xem thêm :

Categories: Bí ẩn Lịch Sử

3 trung tâm quyền lực của thế giới đang bị Illuminati giật dây

Có 3 địa điểm nắm giữ hầu hết tài chính và quyền lực ở thế giới hiện đại nhưng chúng lại không thuộc sự quản lý của bất kỳ quốc gia nào. Thực tế là quyền kiểm soát các địa điểm này đã thuộc về thế lực đen tối Illuminati.

Đang có một thế lực điều khiển thế giới? (Ảnh minh họa: internet)

Theo trang sinhalanet.net, những sự kiện được “dàn dựng” trên thế giới hầu hết đều để lại dấu vết của những “nhà biên kịch” sáng tạo ra chúng. Trên Trái Đất có 3 thành phố không thuộc quyền quản lý của bất kỳ quốc gia nào, chúng có luật pháp riêng, không phải đóng thuế, có lực lượng cảnh sát riêng và thậm chí sở hữu lá cờ riêng. 3 thành phố này kiểm soát kinh tế, các cuộc chiến tranh và nền tảng tinh thần của những người đang nắm quyền lực trên thế giới. 3 thành phố đó thực ra là các tập đoàn và chúng là the City of London, Washington DC và Vatican.

Trang này cho rằng, các trung tâm tài chính này đang kiểm soát các chính trị gia, tòa án, cơ sở giáo dục, chuỗi cung ứng thực phẩm, tài nguyên thiên nhiên, các chính sách ngoại giao, kinh tế, truyền thông, và dòng tiền của hầu hết các quốc gia cũng như 80% của cải toàn thế giới. Mục tiêu cuối cùng của chúng là xây dựng một chế độ cai trị chuyên chế trên quy mô thế giới. Người dân thế giới sẽ bị chia cho những kẻ cai trị và sự cai trị sẽ bắt đầu sau khi dân số thế giới giảm xuống con số mà chúng mong muốn.

Chúng ta cần hiểu rằng, thật ra thế giới không đi theo hướng mà chúng ta bị tuyên truyền, chúng ta đang bị ngập chìm trong những thông tin sai lệch, sinhalanet.net cảnh báo.

Đáng chú ý là một bài viết trên trang Humans Are Free khẳng định các đế chế kinh tế này chịu sự kiểm soát của Hội đồng 13 thuộc Illuminati, chiếm 1% của nhóm những người quyền lực chiếm 1% dân số thế giới, tức là 1% của 1%. Và nếu bạn chưa biết Illuminati là gì? Những người theo thuyết âm mưu cho hay, đây là một hội kín tôn thờ quỷ Satan và có âm mưu kiểm soát thế giới bằng việc dựng nên các biến cố và xếp đặt tay chân trong các chính phủ và tập đoàn thương mại nhằm thiết lập một Trật tự Thế giới Mới.

  1. Tập đoàn the City of London
The City of London hiện đại bên bờ sông Thames. (Ảnh: Wikipedia)

Khi nghe đến cái tên the City of London, chắc hẳn có nhiều người nhầm lẫn nó với thủ đô London của nước Anh, nhưng thực tế đây là 2 nơi khác nhau. The City of London được người La Mã xây dựng khi tới nước Anh 2.000 năm trước và ban đầu chỉ là một điểm giao dịch hàng hóa trên bờ sông Thames. Đúng 1.000 năm sau, năm 1694, Vua William III (William the Conqueror) đã cấp chủ quyền cho the City of London, cho phép nó tiếp tục được hưởng các quyền lợi độc lập và ưu tiên miễn là người dân tại đây coi ông ta là Vua. Tuy vậy, các vị vua kế nhiệm William quyết định xây dựng một thủ đô mới và gọi nó là Westminster. Đã có rất nhiều trường hợp vua và thị trưởng thành phố này bất hòa với nhau.

Điều khác thường ở đây là các bộ luật do Quốc hội Anh thông qua đều không được áp dụng tại the City of London. Tuy nhiên, the City of London cũng không phải là một quốc gia độc lập như Vatican.

Ngày nay the City of London là một khu vực rộng 2,6 km2. Cả hai ‘London’ này có các tòa thị chính khác nhau và bầu ra các vị thị trưởng khác nhau, những vị này thu thuế độc lập để trả tiền cho hai lực lượng cảnh sát khác nhau đang duy trì hai bộ luật lệ khác nhau. The City of London có cờ và quốc huy riêng trong khi thủ đô London thì không.

Thị trưởng của the City of London có một danh hiệu rất kêu là “Ngài Thị trưởng Tôn kính của London”, đi xe dát vàng tới Guildhall trong khi thị trưởng của London mặc áo vest và đi xe buýt. Thị trưởng London chẳng có quyền lực gì với Ngài Thị trưởng Tôn kính của the City of London. Điều đặc biệt là the City of London là một tập đoàn và có tuổi đời “già” hơn cả Vương quốc Anh, nhưng có một đại diện trong Quốc hội Anh, người được gọi là ‘Remembrancer’ (người gợi lại kỷ niệm xưa) và có trách nhiệm bảo vệ cho các quyền lợi của the City of London.

City of London kiểm soát Ngân hàng Anh, đây là một công ty tư nhân do dòng họ Rothschild, đứng đầu Hội đồng 13, sở hữu sau khi Nathan Rothschild nghiền nát thị trường chứng khoán Anh năm 1812 và chiếm quyền kiểm soát Ngân hàng Anh. Họ Rothschild có nghĩa là “tấm khiên đỏ” trong ngôn ngữ cổ của Đức. Dòng họ này bắt đầu nổi danh thế giới từ năm 1744, với sự ra đời của Mayer Amschel Rothschild tại thành phố Frankfurt am Main, Đức. Sinh ra trong một xóm Do Thái, Mayer đã phát triển gia đình mình thành một tập đoàn tài chính và mở rộng đế chế bằng cách cử 5 người con trai của mình đi nằm vùng tại 5 trung tâm tài chính của châu Âu.

Charles Bowman – Ngài Thị trưởng Tôn kính của the City of London. (Ảnh qua London – carpediem.cd)

Nữ hoàng gọi Tập đoàn the City of London là “Firm” nhưng nó còn có tên là CROWN (Vương miện – không đại diện cho Hoàng gia Anh). Cung điện Buckingham nằm ở thủ đô London chứ không phải the City of London và thành phố này không phải là một phần của nước Anh.

The City of London kiểm soát trực tiếp và gián tiếp tất cả các thị trưởng, hội đồng, hội đồng địa phương, các ngân hàng đa quốc gia và xuyên quốc gia, các tập đoàn và hệ thống tư pháp (thông qua Tòa án Hình sự Trung ương Anh Old Bailey, Temple Bar và Tòa án Công lý Hoàng gia ở London), quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Vatican (thông qua công ty con Torlonia của N.M.Rothschild & Sons London), Ngân hàng Trung ương châu Âu, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (là sở hữu tư nhân và bị kiểm soát bí mật bởi 8 ngân hàng cổ phần của người Anh), Ngân hàng Thanh toán Quốc tế ở Thụy Sĩ (cũng do người Anh kiểm soát và giám sát tất cả các Ngân hàng Trung ương trên thế giới), Liên minh Châu Âu và Liên Hợp Quốc.

CROWN kiểm soát hệ thống tài chính toàn cầu và các chính phủ của các quốc gia trong khối Thịnh vượng chung, cùng rất nhiều các quốc gia không nằm trong khối Thịnh vượng chung ở phương Tây (như Hy Lạp). CROWN có nguồn gốc từ Vatican, thánh địa do Giáo hoàng làm chủ (người sở hữu công ty dịch vụ tài chính American Express). Về bản chất Tập đoàn City of London sẽ trở thành “Tập đoàn Một thế giới Trái đất” và sẽ sở hữu tư nhân toàn thế giới.

  1. Washington D.C (bang Colombia)

Washington DC không phải là một phần của nước Mỹ. Quận này nằm trên một mảnh đất rộng 26km2. D.C có cờ riêng và có hiến pháp riêng. Bộ hiến pháp này xuất phát một bộ luật bạo ngược của La Mã có tên là Lex Fori, và không hề liên quan gì tới Hiến pháp của nước Mỹ. Đạo luật 1871 do Quốc hội Mỹ thông qua đã tạo ra một tập đoàn riêng có tên là HỢP CHÚNG QUỐC (THE UNITED STATES) và chính phủ tự trị cho Quận Columbia. Vì vậy D.C hoạt động như một Tập đoàn theo Đạo luật trên. Cờ của Washington có 3 ngôi sao màu đỏ (ba ngôi sao tượng trưng cho DC, Vatican và City of London).

Cờ riêng của Washington D.C. (Ảnh NBC Washington)

Năm 1913, Quốc hội Mỹ cho phép Cục dự trữ Liên bang chuyển giao toàn bộ dự trữ vàng, bạc và toàn quyền kiểm soát nền kinh tế Mỹ cho những ông trùm trong giới tài chính thuộc dòng họ Rothschild. Lúc này Cục dự trữ Liên bang không còn thuộc về nước Mỹ và người Mỹ, mà là một ngân hàng tư nhân thuộc sở hữu của gia tộc Rothschild.

Bây giờ là lúc không thể tốt hơn để mọi người đặt câu hỏi liệu Mỹ là một quốc gia hay là một tập đoàn, và liệu Tổng thống Mỹ và các thành viên Quốc hội đang làm việc cho Tập đoàn đó chứ không phải cho nhân dân Mỹ. Tập đoàn Mỹ cũng bị sở hữu bởi quốc gia đang sở hữu Canada, Australia, New Zealand. Lãnh đạo những quốc gia này đều đang phục vụ cho Nữ hoàng của CROWN và Mỹ cũng vậy, đã và sẽ tiếp tục là thuộc địa của Đế chế 3 thành phố – City of London, Vatican và Washington DC – mà thực ra về bản chất chúng đều bị kiểm soát bởi Hội đồng 13. Chúng có vai trò quan trọng và đang tích cực hoạt động chỉ để thiết lập Trật tự Thế giới Mới và nô dịch loài người theo mục đích của Illuminati.

  1. Vatican
Giáo hoàng Francis vẫy chào đám đông ở Vatican. (Ảnh qua nytimes.com)

Thành phố Vatican không phải là một phần của nước Ý hay Rome. Vatican đúng ra là những gì còn lại của Đế chế La Mã. Israel cũng được cho là một tiền đồn của La Mã. Tài sản của Vatican bao gồm các khoản đầu tư với gia tộc Rothschild ở Anh, Pháp, Mỹ và với các tập đoàn dầu mỏ, vũ khí. Hàng tỉ USD của Vatican được cho là nằm tại các ngân hàng do Rothschild kiểm soát như ‘Ngân hàng Anh’ và Cục dự trữ Liên bang Mỹ. Vatican sở hữu số tiền nhiều hơn bất kỳ ngân hàng, tập đoàn nào và thậm chí là hơn một số chính phủ. Câu hỏi được đặt ra là tại sao số tiền đó lại không được dùng để cải thiện cuộc sống cho những con chiên nghèo đói, khi mà ‘nhân viên’ của Vatican lúc nào cũng giáo giảng với người ta về sự cho đi?

Sự giàu có của Vatican được tích lũy qua nhiều thế kỷ bằng cách đánh thuế xá tội, khi một số Giáo hoàng đã bán vé tới Thiên đường. Ngày nay, họ đang thu hoạch các linh hồn ở châu Á trong kế hoạch thực hiện mục tiêu Thiên niên kỷ thứ 3 của mình.

Cùng với nhau, 3 Thành phố này che chở cho các hội nhóm và các tổ chức ở khắp nơi trên thế giới. Không ai có thể thách thức kế hoạch toàn cầu của họ và những ai làm thế thì… những cuộc ám sát sẽ giải thích điều gì đang diễn ra.

Hội Fabian là một tổ chức như vậy, tổ chức được thành lập năm 1887 này được cho là một nhóm bán công khai của Illuminati. Nó là kết hợp của chủ nghĩa phát xít, chủ nghĩa quốc xã, chủ nghĩa Mác và chủ nghĩa cộng sản. Thật không khó để tưởng tượng ra tất cả những “hệ tư tưởng” này đều được thiết kế bởi cùng một nhóm người. Không mấy ngạc nhiên khi biết rằng Hội Fabian cũng được công nhận là đã tạo ra Cộng sản Trung Quốc, Phát xít Ý, Đức và chủ nghĩa xã hội trên toàn cầu. Mọi người đều đã bị lừa dối.

Điều này cũng giải thích vai trò của Hội Fabian trong việc thiết lập ra các chính sách phi thực dân hóa Đế quốc Anh. Nó cũng lý giải việc rất nhiều lãnh đạo của các quốc gia mới sau khi phi thực dân đều được người Anh dạy dỗ và là thành viên của hội Fabian. Chủ nghĩa cộng sản tiếp quản nước Nga cũng được cho là công trình của Hội Fabian Anh Quốc, được tài trợ bởi các dòng họ ngân hàng tại the City of London.

Nghiên cứu kỹ hơn các tổ chức như Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS), quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Câu lạc bộ Rome, Ủy ban 300, Cục Tình báo Trung ương Mỹ (CIA), Hội đồng các Quan hệ Quốc tế, Ủy ban Ba Bên, Nhóm Bilderberg, Hệ thống Dự trữ Liên bang, Dịch vụ Doanh thu Nội bộ, Goldman Sachs, Israel, Vatican, the City of London, Brussels, Liên Hợp Quốc, cơ quan tình báo Mossad của Israel, và AP, chúng ta sẽ phát hiện ra những tổ chức này đều thuộc về Hội Fabian, cũng là tổ chức đang kiểm soát Liên minh Châu Âu.

Thượng Nghị sĩ Australia Chris Schacht trong một phát biểu đáng chú ý năm 2001 đã nói:

“Các vị có thể không biết rằng chúng tôi, những người thuộc Hội Fabian đã kiểm soát CIA, KGB, M15, ASIO (cơ quan tình báo an ninh Australia), IMF, Ngân hàng Thế giới rất nhiều các tổ chức khác”.

Từ tất cả những điều này chúng ta nên hiểu rằng không có sự kiện gì xảy ra một cách riêng lẻ. Tất cả các sự kiện, dù nhỏ, đều được thiết kế và dàn dựng bởi một nhóm người đang kiểm soát thế giới, mà đằng sau họ là sự thao túng từ trong bóng tối của Illuminati.

Họ phải chịu trách nhiệm cho:

  1. Sự ấm lên/biến đổi khí hậu toàn cầu – Bằng cách tạo ra thảm họa môi trường và giành các giải Nobel, họ đã hình thành một nhận thức phổ biến trong công chúng về một “chính quyền toàn cầu”, một chính quyền sẽ cho họ quyền hành động thay mặt chính phủ các quốc gia. Nhìn sâu hơn vào những điều khoản của Chương trình Nghị sự 21 của Liên Hợp Quốc ta sẽ thấy mọi người cần phải xin phép cho tất cả những gì họ làm – nói cách khác nó được sử dụng để kiểm soát người dân.
  2. Hệ thống Ngân hàng Liên bang – Hội Fabian đã tạo ra Đạo luật Dự trữ Liên bang năm 1913 trao toàn bộ nền kinh tế Mỹ cho một nhóm các ông trùm tài chính quốc tế, đứng đầu là gia tộc Rothschild thuộc Hội đồng 13 của Illuminati.
  3. Big Pharma (Chỉ 10 hãng dược phẩm khổng lồ trên thế giới) – Chịu trách nhiệm về các loại thuốc gây nghiện ở thế giới thứ 3, gồm các nước nghèo và đang phát triển.
  4. Hệ thống chính quyền địa phương – Khuyến khích sự ủy thác và hình thành một khái niệm mới về các hội đồng địa phương nhằm phát triển hệ thống sinh tiền. Việc này nằm trong một kế hoạch tổng thể nhằm bãi bỏ các chính quyền độc lập ở các quốc gia. Anh quốc bị chia ra làm 9 khu vực riêng biệt của châu Âu. Người dân Anh sẽ bị sốc khi phát hiện ra luật EU được ưu tiên hơn luật Anh và nếu họ nghi ngờ điều đó, họ cần hỏi tại sao Nữ hoàng và thủ tướng Anh lại ký các hiệp ước trao quyền.
  5. Từ bỏ quyền sở hữu – Năm 1974 tại Hội nghị môi trường sống, tài sản cá nhân được nhận định là một nguy cơ cho hòa bình và sự bình đẳng của môi trường. Sử dụng ‘chủ nghĩa môi trường’ như một thủ đoạn, mục tiêu là nhằm chiếm đoạt tài nguyên của Trái Đất và đặt nó dưới một chính quyền tập trung (Liên Hợp Quốc) và đưa ra các loại giấy phép thanh toán. Người sở hữu Liên Hợp Quốc là ai?… Chính là đế chế ngân hàng Rothschild thuộc Illuminati. Năm 1987, Hội nghị Hoang dã Thế giới được tổ chức bởi Ngân hàng Bảo tồn Thế giới Rothschild, đơn vị được thành lập cùng năm đó. Ngân hàng Thế giới có thể bị thay thế bằng Ngân hàng Bảo tồn Thế giới, mục tiêu là để thủ tiêu các ngân hàng quốc gia và tài sản sẽ được chuyển về ngân hàng mới, đó là lý do tại sao có một kế hoạch sát nhập các loại tiền tệ thành 2-3 nhóm tiền tệ chính và thay thế chúng bằng một đồng tiền điện tử gọi là đồng ‘đô la Trái Đất’.

New Zealand đã chuyển 34% diện tích đất của họ cho Cao ủy Liên Hợp Quốc về Bảo tồn Công viên và Khu vực Di sản (UNHACP), tổ chức này cũng thuộc về gia tộc Rothschild. Năm 1992, Hội nghị Liên Hợp Quốc về Môi trường và Phát triển tại Brazil được chủ trì bởi Mikhail Gorbachev, người đã làm tan rã Liên bang Xô Viết, đại diện của Rothschild London. Chủ đề là Chương trình Nghị sự 21, theo đó cấp cho con người quyền lợi vượt trội so với động vật, cá, thực vật, cây cối và rừng.

  1. Đạo luật Patriots, Dự luật Quyền Con người, Hiến pháp Châu Âu, đối thoại Đối tác Thịnh vượng và An ninh – Tất cả đều đang bị thao túng nhằm trao quyền lực vào tay một số người. Kế hoạch của chúng được soạn ra hàng năm thông qua nhóm Bilderberg, được những người theo thuyết âm mưu nhận định là một nhóm công khai của tổ chức bí mật Illuminati.

Những thành viên của Bilderberg đang điều hành một loạt chiến lược lèo lái chính sách của các chính phủ, những chính sách này được tài trợ bởi các trùm ngân hàng, những người thực chất đang kiểm soát thế giới. Vì vậy 13 gia tộc thuộc Hội đồng 13 kiểm soát các ngân hàng trung ương trên thế giới nhằm in tiền, cho vay lấy lãi, điều này giải thích vì sao nợ quốc gia không bao giờ giảm xuống. Các sự kiện lớn như Khủng hoảng kinh tế, Khủng hoảng dầu mỏ (đơn giản là để điều chỉnh giá dầu), Mùa xuân Ả Rập đều được dàn dựng. Có một câu nói rằng tất cả các cuộc chiến tranh đều là cuộc chiến của các ngân hàng. Một mối nguy khác là thực phẩm, khi quyền kiểm soát lĩnh vực này được trao vào tay Monsanto và thực phẩm biến đổi gen (GMO). Monsanto cũng là công ty đã tạo ra chất độc màu da cam được sử dụng trong chiến tranh Việt Nam.

Quốc Hùng, theo SHLN

Categories: Bí ẩn Lịch Sử

Illuminati là có thật và đang bí mật điều khiển thế giới – Cựu Bộ trưởng Quốc phòng Canada tiết lộ

Cựu Bộ trưởng Quốc phòng Canada Paul Hellyer cho biết, một tầng lớp “ưu tú” bí mật toàn cầu đang âm thầm kiểm soát thế giới và âm mưu thành lập một chính phủ duy nhất trên thế giới.

Cựu Bộ trưởng Quốc phòng Canada Paul Hellyer. (Ảnh: internet)

“Có một nhóm nhỏ bí mật đang điều hành thế giới này và họ cố tình giữ kín công nghệ cho tới khi có thể bỏ túi hàng nghìn tỷ đô tiền bán dầu mỏ”, Cựu Bộ trưởng Quốc phòng Canada Paul Hellyer nói tại hội nghị Alien Expo vào tháng 6/2017, thông tin này đã gây rất nhiều chú ý trên các phương tiện truyền thông.

“Vào cuối năm 1941 đã diễn ra một vụ sáp nhập ảo giữa Hội đồng Quan hệ Đối ngoại và Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tạo ra một ủy ban đặc biệt gọi là “ban kế hoạch tích cực”: ủy ban tư vấn về chính sách đối ngoại tích cực”.

“Đây là những mầm mống của một Trật tự Thế Giới Mới”, ông nói thêm.

“Người dân Mỹ cần phải thức tỉnh và hợp sức lại để yêu cầu sự minh bạch và ngăn chặn mục tiêu chống lại loài người này”, Hellyer nói.

Theo tờ Economist, những người theo chủ trương toàn cầu hóa không ưa thích Tổng thống Trump, vì sự tồn tại của ông là mối đe dọa cho kế hoạch thực hiện của họ.

“Trật tự thế giới dựa trên các quy tắc nổi lên sau Thế Chiến II là một bước tiến lớn đối với lịch sử”, tờ báo nêu rõ.

“Thế nhưng chủ nghĩa quốc tế tự do hiện đang bị công kích từ nhiều phía. Học thuyết “Nước Mỹ trên hết” của Donald Trump rõ ràng đã bác bỏ nó”.

Theo DailyMail, ông Hellyer là quan chức chính phủ cấp cao nhất từ trước đến nay tuyên bố về hội kín Illuminati như vậy.

Trước đó, những người theo thuyết âm mưu cho hay, Illuminati là một hội kín tôn thờ quỷ Satan và có âm mưu kiểm soát thế giới bằng việc dựng nên các biến cố và xếp đặt tay chân trong các chính phủ và tập đoàn thương mại nhằm thiết lập một Trật tự Thế giới Mới.

Thành viên của nhóm này đều xuất thân từ chính trường, giới kinh doanh và giải trí, thậm chí có rất nhiều ngôi sao Hollywood là thành viên của hội này. Có vô số lời đồn rằng ngành âm nhạc và giải trí bị các thành viên Illuminati xâm nhập và những người này dùng truyền thông để tẩy não số đông.

Ca sĩ lừng danh Michael Jackson bị nghi ngờ là thành viên của Hội kín Illuminati. (Ảnh: internet)

Những năm gần đây cũng có một số ngôi sao Hollywood như Lady Gaga, Beyoncé,… đã đứng ra thừa nhận là thành viên của tổ chức này.

Có tin cho rằng chính phủ Đức đã giải tán Illuminati sau cuộc cách mạng Pháp, song các nhà lý luận âm mưu thời hiện đại quả quyết rằng, nhóm này vẫn tồn tại và hoạt động như một chính phủ ngầm đáng sợ, chỉ đạo ngành công nghiệp và chính trường thế giới.

Bảo Long, theo Worldtruth

Categories: Bí ẩn Lịch Sử

Thế lực nào đã thao túng 2 cuộc chiến tranh trong thế kỷ XX?

Thông qua chiến tranh, bệnh dịch, khủng hoảng kinh tế nhằm thiết lập một Trật tự Thế giới Mới vô thần…, Illuminati đã từng bước thực thi kế hoạch hủy hoại nhân loại.

Thế lực nào đã thao túng 2 cuộc chiến tranh trong thế kỷ 20? (Ảnh: t/h)
Thế lực nào đã thao túng 2 cuộc chiến tranh trong thế kỷ 20? (Ảnh: t/h)

Quyền lực tối thượng

Sau khi Illuminati chính thức bị cấm tại Đức vào năm 1783, các thành viên của Hội đã xây dựng chi nhánh của Illuminati trên khắp châu Âu. Trải qua ba thế kỷ, các thành viên trong Illuminati có lúc tăng lúc giảm, nhưng 13 gia tộc cốt lõi vẫn là cấu trúc trung tâm của Hội và được gọi là Hội đồng 13.

Ngày càng có nhiều người thừa nhận 99% dân số thế giới đang bị kiểm soát bởi những người quyền lực chiếm 1% dân số thế giới. Tuy nhiên, “Hội đồng 13” chỉ chiếm chưa tới 1% của nhóm 1% nói trên và quyền lực của họ trải rộng trên toàn thế giới từ Châu Âu, châu Mỹ đến châu Á.

“Hội đồng 13” gồm các gia tộc: Rothschild (Bauer hoặc Bower); Bruce (Lý); Cavendish (Kennedy); De Medici; Hanover; Hapsburg; Krupp; Plantagenet; Rockefeller; Romanov; Sinclair (St. Clair); Warburg (del Banco); Windsor (Nhà Saxe-Coburg-Gothe). Duy nhất chỉ một dòng họ châu Á lọt vào hội đồng 13, đó chính là Gia tộc Lý.

Cựu thủ tướng Lý Bằng (Ảnh qua dinocro.info)
Cựu thủ tướng Lý Bằng (Ảnh qua dinocro.info)

Họ Lý là một trong những dòng họ phổ biến nhất ở Trung Quốc. Vì vậy thật khó khăn để tìm kiếm thông tin đáng tin cậy về gia tộc đặc biệt này. Nhưng nhiều người tin rằng Trung Quốc đóng một vai trò quan trọng trong việc thiết lập và tiếp quản Trật tự Thế giới Mới của Illuminati. Với dân số đông đúc cùng quân số lục quân đông nhất thế giới và là chủ nợ lớn nhất của nước Mỹ, không khó khăn gì khi Trung Quốc là tác nhân lũng đoạn thế giới. Cụ thể, Lý Bằng là một thủ tướng chủ trương “phương Tây hóa” Trung Quốc và Lý Gia Thành với đế chế kinh doanh toàn cầu về bất động sản, vận tải, viễn thông, năng lượng…

Đứng đầu danh sách là gia tộc Rothschild, có quyền lực thống trị mạnh nhất trên Trái Đất, và sự giàu có của họ được thể hiện bằng số tài sản ước tính lên đến hàng nghìn tỷ USD. Gia tộc Rothschild thực thi quyền lực của mình thông qua một đế chế ngân hàng trải dài trên khắp thế giới. Đầu năm 2018, Cựu Bộ trưởng Quốc phòng Canada, Paul Hellyer đã úp mở khẳng định hội kín Illuminati là có thật: “Có một nhóm nhỏ bí mật đang điều hành thế giới này và họ cố tình giữ kín công nghệ cho tới khi có thể bỏ túi hàng nghìn tỷ đô tiền bán dầu mỏ”, ông Hellyer tuyên bố.

Mayer Amschel Rothschild được cho là đã tích lũy được số tài sản khổng lồ bằng cách nuôi dưỡng chiến tranh và bán vũ khí cho cả hai bên. (Tranh qua newspunch.com)
Mayer Amschel Rothschild được cho là đã tích lũy được số tài sản khổng lồ bằng cách nuôi dưỡng chiến tranh và bán vũ khí cho cả hai bên. (Tranh qua newspunch.com)

Illuminati được nhiều người “rỉ tai” truyền đi thông điệp là một hội bí mật có quyền lực mạnh mẽ kiểm soát công việc của thế giới ở mức độ thâm sâu nhất. Họ quyền lực hơn tổng thống, có sức ảnh hưởng rộng lớn hơn các kênh truyền thông nổi tiếng thế giới cộng lại. Họ là những nhân vật đứng sau bức màn đen mà ít ai từng được thấy, nhưng ai ai cũng đều cảm thấy hiệu ứng của họ gần kề.

Họ có thể tiếp cận công nghệ hiện đại, các loại dược phương mà phần còn lại như chúng ta không thể có được. Vào thời điểm nào đó, họ có thể thay đổi quá trình giao thương trên thế giới, lũng đoạn giá trị tiền tệ, châm ngòi và kết thúc chiến tranh… Họ thậm chí có quyền kiểm soát ý chí và xúc cảm của chúng ta thông qua phương thức tẩy não bằng truyền thông, hay theo dõi cuộc sống cá nhân của bạn… Tất cả điều đó nhằm để thiết lập nên một Trật tự Thế giới Mới và nô dịch loài người bằng nhiều cách.

Kiểm soát hệ thống tài chính thế giới

Illuminati có 3 tập đoàn tài chính độc quyền nằm ở 3 địa điểm không thuộc quyền quản lý của bất kỳ quốc gia nào, có luật pháp riêng, có lực lượng cảnh sát riêng, miễn thuế và thậm chí sở hữu lá cờ riêng. Đó là các tập đoàn tài chính hùng mạnh: The City of London, Washington DC và Vatican.

Các trung tâm tài chính này đang kiểm soát các chính trị gia, tòa án, cơ sở giáo dục, chuỗi cung ứng thực phẩm, tài nguyên thiên nhiên, các chính sách ngoại giao, kinh tế, truyền thông, và dòng tiền của hầu hết các quốc gia cũng như 80% của cải toàn thế giới. Mục tiêu cuối cùng của họ là xây dựng một đế chế cai trị chuyên chế trên quy mô thế giới.

Tập đoàn “The City of London” không thuộc về Vương quốc Anh mà do gia tộc Rothschild sở hữu vào năm 1812 sau khi Nathan Rothschild “nghiền nát” thị trường chứng khoán Anh và chiếm quyền kiểm soát Ngân hàng Anh. Tập đoàn này kiểm soát hệ thống tài chính toàn cầu và các chính phủ của các quốc gia trong khối Thịnh vượng chung, cùng các quốc gia không nằm trong khối Thịnh vượng chung ở phương Tây (như Hy Lạp).

Đại bản doanh của Tập đoàn “The City of London”. (Ảnh qua wikimedia.org)
Đại bản doanh của Tập đoàn “The City of London”. (Ảnh qua wikimedia.org)

Washington D.C không phải là một phần của nước Mỹ. Quận này nằm trên mảnh đất rộng 26km2. Washington D.C có cờ riêng và có hiến pháp riêng (không hề liên quan tới Hiến pháp Mỹ). Năm 1913, Quốc hội Mỹ cho phép Cục dự trữ Liên bang chuyển giao toàn bộ dự trữ vàng, bạc và toàn quyền kiểm soát nền kinh tế Mỹ cho những ông trùm trong giới tài chính thuộc dòng họ Rothschild. Lúc này Cục Dự trữ Liên bang không còn thuộc về nước Mỹ và người Mỹ, mà là một ngân hàng tư nhân thuộc sở hữu của gia tộc Rothschild.

Hình ảnh có liên quan
Cờ riêng của Washington D.C. (Ảnh qua videoblocks.com)

Vatican không phải là một phần của nước Ý hay Rome. Tài sản của Vatican bao gồm các khoản đầu tư với gia tộc Rothschild ở Anh, Pháp, Mỹ và với các tập đoàn dầu mỏ, vũ khí. Hàng tỉ USD của Vatican được cho là nằm tại các ngân hàng do gia tộc Rothschild kiểm soát như Ngân hàng Anh và Cục dự trữ Liên bang Mỹ. Vatican sở hữu số tiền nhiều hơn bất kỳ ngân hàng, tập đoàn nào và thậm chí là hơn một số chính phủ.

Dòng họ Rothschild đã rất nỗ lực giành quyền kiểm soát các ngân hàng và định chế tài chính toàn thế giới. Gia tộc này hiện đang kiểm soát tới 165 ngân hàng trung ương khắp thế giới, từ Afghanistan đến Zimbabwe và được coi là Đế chế Ngân hàng.

Đáng chú ý trong danh sách này có Cục Dự trữ liên bang (FED) và Cục Thuế Hoa Kỳ (IRS). Hầu hết người Mỹ ít biết rằng, Sở Thuế vụ Hoa Kỳ (IRS) thuộc “tài sản” của nước ngoài, chính xác hơn IRS là một công ty tư nhân nước ngoài thuộc Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và là đội quân tư nhân của FED. Tương tự, Ngân hàng Thế giới (WB) và IMF đều thuộc sở hữu một phần của gia tộc Rothschild.

Để nói về uy lực thao khống đen tối của Illuminati, ngay từ năm 1835, Tổng thống Mỹ Andrew Jackson (Tổng thống thứ 7 từ năm 1829-1837) đã tỏ thái độ khinh thị của ông đối với các ngân hàng quốc tế: “Họ là hang ổ của loài rắn hổ mang. Tôi sẽ hạ gục họ, và ơn Chúa Vĩnh hằng, tôi sẽ hạ gục họ. Nếu hiểu rõ sự bất công quá đáng của nguồn tiền và hệ thống ngân hàng ấy, phải đưa họ ra trước ánh sáng”.

Là vị Tổng thống luôn dựa trên nền tảng giáo lý của Thiên Chúa, chú trọng đến sự thịnh vượng của đất nước và an sinh của người dân, Tổng thống Andrew Jackson luôn bị giới ngân hàng công kích mạnh mẽ khi ông biểu đạt thái độ chống đối họ.

Thành tựu lớn nhất của Tổng thống như ông nói là “tiêu diệt ngân hàng”, không gia hạn hiến chương hoạt động cho Ngân hàng thứ Hai của Mỹ (Second Bank of the United States) vào năm 1833. Đây chính là ngân hàng nhà nước, tiền thân của Cục Dự trữ Liên bang. Tổng thống Jackson đã dùng quyền lực để rút hết quỹ liên bang ra khỏi ngân hàng này trong một cuộc đấu có tên “Chiến tranh Ngân hàng”.

Bức tranh mô tả Tổng thống Andrew Jackson chống lại tập đoàn “rắn hổ mang” ngân hàng.  (Tranh qua neh.gov)
Bức tranh mô tả Tổng thống Andrew Jackson chống lại tập đoàn “rắn hổ mang” ngân hàng.  (Tranh qua neh.gov)

Ngày 30/1/1835, Tổng thống Andrew Jackson bị ám sát hụt. Kẻ ám sát là Richard Lawrence (người Anh) chỉ đứng cách Tổng thống 2m, một vị trí gần đến mức khó mà bắn trượt được, nhưng may mắn đạn không nổ. Nhanh chóng, kẻ sát nhân tiếp tục rút khẩu súng thứ hai và điều kỳ diệu lại xảy ra, khẩu súng tiếp tục không nổ. Một sĩ quan Hải quân đứng gần đó đã hạ gục Lawrence và đây là vụ ám sát đầu tiên trong lịch sử Tổng thống Mỹ.

Ngay sau vụ ám sát, Tổng thống Andrew Jackson nói với phó Tổng thống  Martin Van Buren (sau này trở thành tổng thống Hoa Kỳ): “Ông Van Buren, giới ngân hàng đang cố giết tôi”. Đây có thể được coi là sự khởi đầu của một thế lực mưu đồ gây hại cho chính Nhà Trắng trong những thập kỷ tiếp theo, khi Tổng thống Lincoln và Tổng thống J.F.Kennedy đều bị sát hại vì cố gắng đưa nước Mỹ khỏi “vòng kim cô” của đế chế ngân hàng mang tên Rothschild.

Từ năm 1919 đến nay, gia tộc Rothschild đóng một vai trò quan trọng trong việc định giá vàng trên toàn thế giới. Cụ thể, giá vàng được điều chỉnh hai lần mỗi ngày tại các cơ sở của Ngân hàng N M Rothschild bởi những nhà dự trữ vàng chính của thế giới gồm Deutsche Bank, HSBC, ScotiaMocatta và Société Générale. Mỗi ngày vào lúc 10h30 và 15h, 5 đại diện của các ngân hàng họp mặt trong một căn phòng nhỏ tại trụ sở gia tộc Rothschild tại ngõ St Swithin’s (London). Ở trung tâm căn phòng là chủ tịch, người được chỉ định theo truyền thống bởi Ngân hàng Rothschild.

Nuôi dưỡng cỗ máy chiến tranh

Lịch sử của Illuminati là một tấm màn che giấu sự thật về những gì thực sự đã xảy ra. Khi mạng “che mặt” được dỡ bỏ, một lần nữa chúng ta được thấy một phiên bản chính thức trong cỗ máy vận động chiến tranh khi có thông tin cho rằng, gia tộc Rothschild cung cấp tài chính cho hầu hết cuộc chiến tranh lớn đã xảy ra trong vòng 200 năm qua.

Thế chiến I: Sách sử ghi lại rằng Thế Chiến I khởi nguồn khi các quốc gia châu Âu bị lôi kéo vào cuộc trả thù vụ ám sát thái tử Francis Ferdinand, người thừa kế ngai vàng của đế chế Áo-Hung. Tuy nhiên ít ai biết rằng, mục đích của Thế Chiến I là nhằm dọn đường cho cuộc cách mạng vô sản Nga nổ ra vào năm 1918, được tài trợ và dàn dựng bởi Jacob Schiff, người đứng đầu Công ty đầu tư tài chính có trụ sở tại New York là Kuhn, Loeb và cộng sự (thuộc gia tộc Rothschilds).

Thông qua công ty tài chính này, mục đích của Illuminati là để lật đổ tầng lớp quý tộc. Thực ra đó là sự trả thù của gia tộc Rothschilds đối với Sa Hoàng Alexander I, vì đã cản trở nỗ lực đầu tiên kiểm soát thế giới của Illuminati tại Đại hội Vienna năm 1815.

Jacob Schiff là một trong những người ủng hộ chính của cuộc cách mạng Bolshevik, là nhà tài trợ cho nhà cách mạng Nga nổi tiếng Leon Trotsky, là người đóng góp lớn cho chiến dịch tranh cử tổng thống của Woodrow Wilson và là người ủng hộ việc thông qua Đạo luật Dự trữ Liên bang (nhằm giành quyền kiểm soát hệ thống tiền tệ của Mỹ). Mọi việc Jacob Schiff làm là để thực thi các mưu đồ của Illuminati: Biến nước Nga thành pháo đài của chủ nghĩa Vô thần, tín ngưỡng Cộng sản, “được xây dựng và sử dụng để tiêu diệt các chính phủ khác và làm suy yếu tôn giáo”.

Câu chuyện bắt đầu với cuộc chiến tranh Nga – Nhật vào năm 1904, doanh nhân Jacob Schiff đã huy động vốn cho các khoản vay chiến tranh của Nhật Bản để nước này tấn công quân đội Sa Hoàng tại cảng Arthur. Hàng ngàn thủy thủ Nga khi ấy đã bị bắt làm tù binh.

Doanh nhân Jacob Schiff hỗ trợ toàn lực để biến nước Nga thành pháo đài của chủ nghĩa Vô thần. (Ảnh qua frihetskamp.net)
Doanh nhân Jacob Schiff hỗ trợ toàn lực để biến nước Nga thành pháo đài của chủ nghĩa Vô thần. (Ảnh qua frihetskamp.net)

Một thế lực ngầm đã trả tiền in ấn các tài liệu tuyên truyền chủ nghĩa Mác vào các trại tù binh và truyền bá tư tưởng chống đối Sa Hoàng. Khi chiến tranh kết thúc, các tù binh này trở về quê hương và nhiều người trong số họ đã trở thành nhân tố chính trong việc tạo ra cuộc chính biến trong quân đội, giúp những người Cộng sản lật đổ Sa Hoàng cướp chính quyền ở Nga vào năm 1918.

Khi Thế chiến I bị sa lầy ở mặt trận châu Âu, Illuminati đã sử dụng “điệp viên” của họ là Tổng thống Woodrow Wilson đưa nước Mỹ tham gia Thế chiến. Người bạn thân của Tổng thống Wilson là Đại tá Edward Mandell House – một thành viên của gia tộc Rothschild đã gửi một bản báo cáo dài 10 trang cho Thủ tướng Anh David Lloyd Georgel. Ông ta đã trình bày chi tiết tiến trình hòa bình của các thuộc địa của Mỹ với sự thống trị của Crown. “Crown” mà ông ta đề cập đến không phải là Nữ hoàng, mà là các chủ sở hữu của Ngân hàng Anh. Các sự kiện này cho thấy một mô hình rõ ràng về sự hỗ trợ tài chính mạnh mẽ từ các chân rết của hội kín Illuminati.

Thế chiến II cũng được khởi động bởi bàn tay của Illuminati khi nhiều tài liệu xác nhận Adolf Hitler và Đức quốc xã đã được lập nên và được tài trợ bởi gia tộc Rothschild. Lực lượng đứng đằng sau độc tài Adolf Hitler, thay mặt cho hội kín Illuminati, chính là Nhà Rothschild.

Adolf Hitler ra dấu tay kim tự tháp - biểu tượng của Illuminati và thờ hụng Satan. (Ảnh qua jewishpaedophilia.files.wordpress.com)
Adolf Hitler ra dấu tay kim tự tháp – biểu tượng của Illuminati và thờ hụng Satan. (Ảnh qua jewishpaedophilia.files.wordpress.com)

Chính họ đã sắp xếp cho Adolf Hitler lên nắm quyền thông qua các tổ chức xã hội bí mật Illuminati ở Đức như Hội Thule và Hội Vril. Cũng chính gia tộc Rothschilds đã tài trợ tiền bạc cho Hitler thông qua Ngân hàng Anh và các nguồn khác như ngân hàng Kuhn – Loeb và cộng sự.  Đây cũng là ngân hàng đã tài trợ cho những người vô sản tiến hành cuộc Cách mạng Nga, biến nước Nga trở thành quốc gia Cộng sản vô thần. 

“Trái tim” cỗ máy chiến tranh của Hitler chính là “gã” khổng lồ hóa học IG Farben. Từ 1933 đến 1944, tập đoàn IG Farben được coi là nhà tài chính lớn nhất của Đảng Quốc xã, đóng góp hơn 81 triệu Reichsmark cho “yếu hầu” chiến tranh của Hitler. Paul Warbur – chủ Ngân hàng Kuhn – Loeb và cộng sự có tên trong hội đồng quản trị của tập đoàn hóa chất IG Farben của Hitler.

Khi quân Đồng minh tiến vào Đức, họ phát hiện các nhà máy hóa chất IG Farben không bị đánh bom và nhà máy Ford cũng không hề bị hề hấn gì trong khi các nhà máy khác gần đó đều bị bom đạn phá hủy. Cùng với tập đoàn IG Farben cung cấp cho Đức Quốc xã và đồng minh phe Trục các máy bay ném bom bằng xăng IG Farben, tập đoàn General Motors và Ford cũng chịu trách nhiệm cung cấp hơn 90% xe cơ giới cho Đức Quốc xã. Cả ba tập đoàn này đều thuộc quyền cai quản của gia tộc Rothschild. Điều này càng khẳng định giả thuyết hội kín Illuminati đã thao túng Hitler gây ra Thế chiến II.

Theo cuốn Tâm trí của Hitler của nhà Phân Tâm học Walter Langer, Adolf Hitler không chỉ được gia tộc Rothschild – “dòng máu” Illuminati ở Đức hỗ trợ, mà ông ta còn được gia đình hoàng gia Anh, House of Windsor giúp đỡ (chính là gia tộc thứ 13 German Houseof Saxe-Coburg-Gotha).

Thế Chiến II kết thúc với kết quả “mỹ mãn” cho chương trình nghị sự của Illuminati về sự kiểm soát toàn cầu. Nó dẫn đến sự bùng nổ của các thể chế tập trung toàn cầu như Liên Hợp Quốc, Cộng đồng châu Âu (nay là Liên minh châu Âu) cùng nhiều tổ chức khác về tài chính, kinh doanh và quân sự.

Họ tạo ra các đợt thổi phồng, suy thoái để thao túng thị trường tiền tệ, đặt các quốc gia dưới một gánh nặng nợ khổng lồ về các khoản vay, được cung ứng cho tất cả các bên bởi… Rothschilds và Illuminati.

Đằng sau âm mưu của Illuminati là tạo ra và quản lý các cuộc khủng hoảng thời hậu chiến để thuyết phục dân chúng rằng, chủ nghĩa toàn cầu với sự kiểm soát tập trung kinh tế, truyền thông, giáo dục… là một Trật tự Thế giới Mới lý tưởng, từ đó tiến tới thay thế và hủy hoại Tín ngưỡng và Văn hóa mà Thần truyền lại cho con người.

Categories: Bí ẩn Lịch Sử

Những tội ác chấn động mang tên quỷ Satan

Illuminati là thuật ngữ xuất hiện gần 300 năm qua với nhiều giả thuyết, nhiều câu chuyện kỳ bí. Thực chất Illuminati là một hội kín, một tổ chức bí mật, được điều khiển bởi các dòng tộc giàu có nhất thế giới với mục tiêu là thiết lập một trật tự thế giới mới (New World Order) theo ý họ. Đó là nơi phần đa nhân loại, trong đó có bạn và tôi, phải chết bởi chiến tranh hoặc dịch bệnh. Nơi Chúa, Phật và các chính Thần không tồn tại, chỉ có tôn giáo của Quỷ Satan, nơi khái niệm quốc gia và dân tộc không tồn tại, chỉ có nô lệ (những người sống sót) và “kẻ thống trị” – những người đang điều khiển hội kín Illuminati này.

Vậy nếu Illuminati là có thật và mục tiêu họ theo đuổi suốt gần 300 năm qua là nhất quán và kiên định thì họ đã và đang dùng công cụ gì để đạt mục tiêu của mình? Illuminati nhắm vào 3 phương diện:

– Niềm tin vào chính Thần: Phá hủy niềm tin vào Chúa, Phật để tiến tới tôn thờ Chúa tể duy nhất là Quỷ Satan; bước đầu là cổ súy thuyết vô thần luận, nền tảng là thuyết tiến hóa của Darwin;

– Phá hủy giá trị gia đình, nơi gắn kết vợ – chồng – con cái không còn thiêng liêng thông qua giải phóng tình dục, cổ súy hôn nhân đồng tính, đề cao giá trị bản thân (vị kỷ, vị tư)…

– Làm méo mó chức năng của chính phủ. Bước 1: Chia để trị thông qua chế độ cộng sản, tức là chính phủ sẽ thâu tóm hết tài sản quốc gia, toàn quyền trong việc chia lại tài sản này cho dân chúng; tâm lý phụ thuộc và sợ hãi chính phủ sẽ khiến người dân không thể độc lập trong tư duy, không thể sáng tạo trong lao động,.. Bước 2: Thâu tóm chính quyền và niềm tin của người dân vào các tổ chức toàn cầu. Trong bước này, khi người dân không còn niềm tin vào chính quyền quốc gia tham lam và hủ bại, người dân sẽ hướng niềm tin của mình vào các tổ chức quốc tế. Khi khái niệm quốc gia, dân tộc không tồn tại, khi các chính quyền độc tài không còn quản lý được nỗi sợ hãi của người dân trước thảm họa dịch bệnh, khủng hoảng,… khi đó Illuminati hoàn tất mục tiêu của họ, trở thành “kẻ thống trị” loài người!

Vậy mục tiêu của họ ảnh hưởng tới mỗi người dân trên địa cầu này như thế nào? Ảnh hưởng đến cuộc sống của bạn như thế nào? Âm mưu của họ có nguy hiểm đến mức chúng ta phải quan tâm và phẫn nộ không? Câu trả lời là CÓ ! Bởi vì, những gì Illuminati làm đang hủy hoại tinh thần của bạn, sức khỏe của bạn, đang lừa dối bạn trong từng viên thuốc mà bạn uống, từng cm3 không khí mà bạn hít thở, đang cố gắng đầu độc con cái của bạn để kéo chúng về phe của Quỷ… Nhưng rốt cuộc, họ có đạt được mong muốn không sẽ phụ thuộc vào nhận thức của bạn về Illuminati, phụ thuộc vào THIỆN niệm chân chính của bạn trong bảo vệ cuộc sống, con cái, gia đình và xã hội, biến THIỆN niệm thành hành động và lan tỏa nó. Đó là cuộc chiến Chính – Tà thực sự trong chính bạn, gia đình bạn và xã hội mà bạn đang sống.

Nhiều tên sát nhân hàng loạt đều là tín đồ của quỷ Satan. (Ảnh: t/h)
Nhiều tên sát nhân hàng loạt đều là tín đồ của quỷ Satan. (Ảnh: t/h)

… Trong thế giới hiện đại, Ma Quỷ vẫn tiếp tục “sống” mãnh liệt cùng sự xuất hiện bao tội ác mới gây chấn động xã hội, với những kẻ sát nhân tự nhận là tín đồ của quỷ Satan.

Ngày 24/10/2018, nước Mỹ lại rúng động khi Cảnh sát trưởng Joe Hall ở quận Bartow, bang Florida phát biểu trong cuộc họp báo:“Chúng muốn giết chết ít nhất 15 trẻ em và đang chờ đợi trong nhà vệ sinh để có cơ hội ra tay giết hại những đứa trẻ nhỏ hơn mà chúng có thể chế ngự được”. Tin tức về 2 nữ sinh tại trường trung học Bartow âm mưu sát hại bạn học đã nhắc nhớ nước Mỹ về một thời kỳ đen tối, khi nỗi sợ ma quỷ – những kẻ cuồng tín vẫn ẩn nấp trong trái tim mọi người về sự hồi sinh chủ nghĩa sùng bái Satan…

Ngăn chặn tội ác nhờ cuộc gọi Robocall

Quận Bartow nằm ngay trung tâm của tiểu bang Florida, phía nam là quận Lakeland, nơi tập trung khá nhiều nhà thờ cũng như có rất đông người Công giáo. Tất cả cư dân tại đây đều bị chấn động bởi kế hoạch giết người của hai tín đồ Satan giáo đang ở độ tuổi thiếu niên.

Hai nữ sinh 11 và 12 tuổi đã bị bắt trong một âm mưu giết bạn học. Cảnh sát đã thu giữ tang vật gồm một số lưỡi dao, một con dao chặt thịt, một con dao gọt trái cây, một máy cắt bánh pizza và một chiếc cốc mà chúng khai sẽ dùng để uống máu các nạn nhân khi làm nghi lễ nhập hồn.

Tang vật mà hai kẻ thủ ác chuẩn bị để hành ác.
Tang vật mà 2 nữ sinh chuẩn bị để hành ác. (Ảnh qua WJHL.com)

Vụ việc may mắn được ngăn chặn kịp thời khi một trong hai nghi phạm buột miệng cảnh báo với một học sinh khác hãy tránh xa trường học vì ”một điều tồi tệ sắp xảy ra”. Khi ứng dụng robocall (được thực hiện tự động từ máy tính và cung cấp những thông điệp được soạn sẵn) từ trường học gọi về nhà của một trong hai nữ sinh thông báo học sinh vắng mặt trong lớp vào buổi sáng, cảnh sát và ban giám hiệu nhà trường đã tìm thấy hai nữ sinh đang ẩn nấp trong nhà vệ sinh.

Tại nhà của một trong hai cô bé, cảnh sát đã tìm thấy một bản viết tay có cụm từ “giết chết trong nhà vệ sinh”. Ngoài ra, các cuộc trò chuyện bằng tin nhắn trên điện thoại di động của hai nữ sinh cũng tiết lộ sự thật kinh hoàng: “Chúng ta sẽ để lại các bộ phận của chúng ở cổng ra vào trường và sau đó sẽ tự sát”.  

Giấy viết tay cho thấy hung thủ âm mưu sát hại bạn học trong phòng vệ sinh. (Ảnh qua WFA)
Giấy viết tay cho thấy hung thủ âm mưu sát hại bạn học trong phòng vệ sinh. (Ảnh qua WFA)

Theo cảnh sát, hai đối tượng này có kế hoạch trốn trong phòng vệ sinh để chờ các học sinh nhỏ hơn đi vào mới ra tay. Chúng dự định cắt cổ họng nạn nhân, cắt nhỏ cơ thể, ăn thịt và uống máu họ. Với âm mưu này, cả hai hy vọng sau khi chết sẽ được xuống địa ngục để gặp quỷ Satan. Tin nhắn cuối cùng giữa hai cô bé là đoạn chat: “Hôm nay là bài học về sức khỏe. Cảm ơn Satan, vì chúng ta đang làm điều này”.

Phát biểu trước báo giới, cảnh sát trưởng Joe Hall nói: “Đêm qua khi tôi ngồi xem quá trình lấy lời khai của chúng, tôi tin rằng đây không phải là trò đùa”. Cảnh sát quận Bartow đã mở cuộc điều tra để lùng bắt tòng phạm, những kẻ đã xúi giục hai nữ sinh lạc lối vào con đường ma quỷ thờ phụng Satan. Sự việc này gióng lên một thực trạng đáng báo động về sự gia tăng chủ nghĩa tôn thờ quỷ Satan đang hồi sinh tại Mỹ.

Nhiều thảm kịch đã xảy ra do sự bệnh hoạn trong tâm hồn của con người thời hiện đại, lấy tội ác làm khoái cảm và nguy hiểm hơn là giới trẻ đang theo xu hướng cuồng vọng này. Sự việc xảy ra tại Bartow vừa qua nhắc nhở người Mỹ về những thảm án rùng rợn xảy ra trong quá khứ liên quan tới những tín đồ Satan giáo.

Sát nhân của bóng đêm

Vào đêm hè oi bức ngày 28/6/1984, bà Jennie Vincow (79 tuổi) mở cửa sổ căn hộ ở Glassel Park, Los Angeles (Mỹ) với hy vọng có thể xua tan đi bầu không khí ngột ngạt. Đúng lúc ấy, một bóng đen bất ngờ xuất hiện nhảy qua cửa sổ và nhẹ nhàng tiến đến bà lão xấu số. Mấy tiếng sau, thi thể của bà được người con trai sống ở căn hộ phía trên phát hiện. Những ai có mặt tại hiện trường đều bị ám ảnh bởi sự tàn độc của hung thủ: Thi thể nạn nhân bị đâm nhiều nhát và cổ họng bị cắt đến mức gần như rời ra. Khám nghiệm pháp y còn cho thấy có dấu hiệu tấn công tình dục.

Vụ việc khiến nước Mỹ rúng động và tin rằng kẻ giết người ngang với quỷ dữ. Từ tháng 6/1984 đến tháng 8/1985, liên tiếp 13 án mạng xảy ra tại Los Angeles và San Francisco khiến cảnh sát Mỹ đau đầu bởi tính chất rùng rợn và tàn bạo của nó. Tất cả các nạn nhân đều bị kẻ giấu mặt tước đoạt mạng sống theo cùng một phương thức, khiến tờ Los Angeles Herald Examiner đặt biệt danh cho hung thủ là “Sát nhân của bóng đêm”, bởi hắn luôn hành động trong đêm.

Hai trong số những nạn nhân là bà Lone Kneiding (66 tuổi) và ông Maxson Kneiding (68 tuổi) bị giết hại một cách dã man tại nhà riêng.
Hai trong số những nạn nhân là bà Lone Kneiding (66 tuổi) và ông Maxson Kneiding (68 tuổi) bị giết hại một cách dã man tại nhà riêng. (Ảnh qua Timetoast)

Các vụ đột nhập vào nhà hay hạ thủ nạn nhân bên ngoài đều được kẻ sát nhân tính toán kỹ lưỡng. Điều lạ là hắn dường như thách thức cảnh sát khi cố tình để lại ký hiệu trên tường nhà, sàn nhà hoặc trên thi thể nạn nhân. Ký hiệu đó là hình ngôi sao 5 cánh – biểu tượng của quỷ Satan. Nạn nhân của hắn đa dạng về tuổi tác, sắc tộc, bất kể là đàn ông hay đàn bà, trẻ em hay người lớn đang sinh sống trong thành phố đều cảm thấy bất an, vì hắn không từ một ai.

Ban nhạc Rock AC/DC thần tượng quỷ Satan.
Ban nhạc Rock AC/DC thần tượng quỷ Satan. (Ảnh qua Djpod)

Tại hiện trường, cảnh sát còn tìm thấy một chiếc mũ lưỡi trai có dòng chữ AC/DC – tên ban nhạc rock nổi tiếng thời ấy, sở hữu nhiều bài hát có tính kích động bạo lực, cổ súy sử dụng ma túy và tình dục. Ngoài ra, cảnh sát còn thu thập được những dấu vân tay trùng nhau, những vỏ đạn cùng cỡ 22 ly, dấu giầy cùng kiểu Reebok số 11 và thậm chí cả cách đột nhập qua cửa sổ cũng tương tự nhau.

Dấu giầy quen thuộc của Kẻ sát nhân để lại trên hiện trường.
Dấu giầy quen thuộc của Kẻ sát nhân để lại trên hiện trường. (Ảnh qua trueactivist.com)

Miêu tả của các nhân chứng may mắn sống sót cũng trùng khớp về một người đàn ông tóc đen, trán cao, khuôn mặt gầy gò, môi dày, cằm vuông và luôn mặc đồ đen. Ngoài ký hiệu của quỷ Satan để lại trên hiện trường, những nạn nhân sống sót kể lại rằng, kẻ giết người còn bắt họ phải nói những câu như “Ta đã hứa với quỷ Satan”, hay “Ta tôn thờ Satan”.

Tất cả những tình tiết này đã giúp các nhà điều tra tập trung vào các giáo phái tôn thờ quỷ Satan. Họ đã phát hiện một điều khác thường tại đền thờ của một giáo phái ở phía đông Los Angeles, khi xung quanh khu vực sân chơi tennis có vết giày Reebok số 11. Cả Los Angeles tràn ngập tờ rơi chân dung phác họa của kẻ giết người và cư dân thành phố luôn ở trong trạng thái cảnh giác cao độ.

Nhưng kẻ sát nhân dường như rất tỉnh táo, nếu không tiếp tục gây đổ máu ở Los Angeles được thì hắn vẫn có thể gây kinh hoàng ở một nơi nào khác. Sáng 17/4/1985, một chiếc Pontiac Grand Prix đời 1978 màu nâu đỏ, phủ đầy bụi, tách ra khỏi đường cao tốc 80. Đêm đó, nó dừng bánh tại vùng ngoại vi Lake Merced (San Francisco). “Sát nhân của bóng đêm” ra khỏi xe, vung vẩy khẩu 22 ly tiến về phía ngôi nhà hai tầng của cặp vợ chồng già người Hoa…

Sáng hôm sau, người con trai khi đến thăm cha mẹ đã phải chứng kiến cảnh tượng khủng khiếp: Người cha nằm chết trên giường với viên đạn găm ở đầu, người mẹ may mắn sống sót nhưng bị thương rất nặng. Bức tường phòng ngủ của hai ông bà đầy những ký hiệu sao năm cánh được vẽ bằng son môi, cùng những lời chửi thề tục tĩu và các thông điệp kỳ quái. Cửa sổ bị mở tung và phía ngoài các nhà điều tra phát hiện thấy có dấu giầy Reebok cỡ 11.

Hình sao 5 cánh hắn để lại trên tường phòng ngủ của nạn nhân.
Hình sao 5 cánh hắn để lại trên tường phòng ngủ của nạn nhân. (Ảnh qua Emaze)

Cảnh sát nhận được tin cấp báo về một kẻ lạ mặt nghỉ trọ ở số 56 phố Mason trong thời gian xảy ra vụ án mạng. Alex Melnikov, chủ nhà trọ đã mô tả một người đàn ông mặc bộ quần áo đen đã thanh toán tiền thuê nhà và ra đi vào đúng buổi chiều ngày xảy ra án mạng. Điều đặc biệt là cửa căn phòng anh ta thuê có hình vẽ ngôi sao 5 cánh. Không nghi ngờ gì nữa, các vụ án mạng đều có đặc điểm gần giống với cách gây án của gã thờ quỷ Satan…

4 tháng sau, rạng sáng ngày 25/8/1985, đôi vợ chồng William Carns và Renata Gunther đang yên giấc tại nhà thì một bóng đen cao lớn đột nhập vào phòng họ… Có người nhìn thấy một chiếc xe Toyota màu da cam ở khu vực Mission Viejo ngay trước khi xảy ra vụ án mạng. Hai ngày sau, chiếc xe đó được tìm thấy tại khu Rampart (Los Angeles). Dấu vân tay trên xe là của một người từng có tiền án về tội ăn cắp tên là Ricardo Ramirez. Vòng vây được siết chặt. Ricardo Ramirez bị bắt tại quán ăn số 819 trên đại lộ Towne (San Francisco).

Từ đây, lý lịch kẻ khát máu đã hé lộ. Ricardo Ramirez sinh ra trong một gia đình nghèo đông con, dù vậy người mẹ luôn cố gắng nuôi dạy các con nên người. Bà đã dạy dỗ thành công 5 đứa con, trừ đứa con trai út là Ricardo Ramirez. Từ nhỏ, khi người mẹ gửi cả 6 người con tới các nhà thờ để học Kinh thánh Thiên Chúa thì Ricardo Ramirez lại đi theo con đường ngược lại. Hắn thường tới các thư viện tìm đọc sách về Satan và những thiên thần ác độc. Và chính từ đây đã nuôi dưỡng mầm mống tội ác trong con người hắn.

Ricardo Ramirez làm dấu tay quỷ Satan.
Ricardo Ramirez làm dấu tay sừng quỷ Satan. (Ảnh qua Whale)

Khi trưởng thành, Ricardo Ramirez có ba niềm đam mê là võ thuật, ma túy, và nghe nhạc rock. Thần tượng của hắn là ban nhạc hard rock Black Sabbath và Judas Priest và các “ngôi sao” nhạc rock này đều sùng bái quỷ Satan từ cả trong ca từ lẫn ảnh bìa album nhạc. Có lẽ vì nghe những thể loại nhạc cuồng dại đó mà hắn khám phá ra một niềm đam mê lớn hơn: Tôn sùng quỷ Satan với những câu chuyện về các nghi lễ tế bí hiểm.

Năm 1989, tại phòng xử án ở Nam California, hắn còn đe dọa cả quan tòa, hù dọa phóng viên bằng cách trưng ký hiệu sao 5 cánh xăm trong lòng bàn tay và nói: “Tôi vượt mọi ngưỡng tốt đẹp và xấu xa. Tôi sẽ được trả thù. Lucifer (Quỷ Satan) sống trong tất cả mọi người. Chính là vậy”. Ricardo Ramirez bị kết án tử hình với các tội danh gây ra 13 vụ giết người, 11 vụ ám sát tình dục và 14 vụ trộm cắp. Năm ấy hắn 29 tuổi.

Richard Ramirez trưng ký hiệu sao 5 cánh xăm trong lòng bàn tay tại phòng xử án. (Ảnh qua Nbclosangeles)
Richard Ramirez trưng ký hiệu sao 5 cánh xăm trong lòng bàn tay tại phòng xử án. (Ảnh qua Nbclosangeles)

Richard Ramirez – kẻ tôn thờ quỷ Satan gây ra các vụ giết người, hiếp dâm hàng loạt, kẻ gây ra nỗi đau thể xác, tinh thần cho các nạn nhân theo vô số cách cuối cùng chưa kịp chờ đến ngày hành quyết, đã chết vì bệnh tật tại Bệnh viện Đa khoa Marin ở phía bắc San Francisco ngày 6/7/2013.

Tại sao “Chủ nghĩa Satan” lại lôi cuốn giới trẻ?

Theo thông tin từ cảnh sát Tampere (Phần Lan), hầu hết các tội phạm liên quan đến buôn bán ma túy, bạo lực đều là những người trẻ, nhiều trường hợp là những “tân binh” từ 10 đến 15 tuổi và tất cả đều thờ phụng quỷ Satan. “Tôi tin vào cuộc sống đầy đủ vật chất nhất“, một thiếu niên là thành viên của hội sùng bái Satan chia sẻ: “Tất cả những điều mà mọi người nói là ác thì lại khiến tôi hạnh phúc. Tội lỗi mang lại cho tôi sự hài lòng về cảm xúc, thể chất và tinh thần”.

El Salvadoran, Diego Rivera và Miguel Alvarez-Florez đã bị buộc tội giết người ở Houston (Mỹ). Cả hai đều thuộc băng đảng MS-13 và là tín đồ Satan giáo.
Diego Rivera và Miguel Alvarez-Florez đã bị buộc tội giết người ở Houston (Mỹ). Cả hai đều thuộc băng đảng MS-13 và là tín đồ Satan giáo. (Ảnh qua independent.co.uk)

Về cơ bản, chủ nghĩa Satan hứa hẹn rằng bạn sẽ nhận được rất nhiều và cho đi rất ít. Thuyết này chủ trương đả phá mọi sự nhàm chán, mọi ràng buộc của kỷ luật gia đình và xã hội, cổ vũ tự do cá nhân, đặc biệt trong lĩnh vực lạc thú thể xác.

Vì vậy giới trẻ thích thú theo thuyết thờ Satan và thậm chí sẵn sàng tự tử, vì họ tin rằng sẽ được “siêu thoát và thăng tiến trong kiếp khác” với địa vị cai trị. Trong cuốn sách gọi là kinh thánh của quỷ Satan, Anton Lavey – “cha đẻ” của Hội thờ phụng Satan đã viết: “Khi bạn phụng sự cho Satan, bạn sẽ trở nên bất diệt, kiếp sau bạn sẽ cai trị thế gian này, và chinh phục được mọi người”.

Một nghi lễ của tín đồ Satan giáo. (Ảnh qua Twipu)
Một nghi lễ của tín đồ Satan giáo. (Ảnh qua Twipu)

Nhiều nước trên thế giới đang phải đương đầu với các tín đồ sùng bái quỷ Satan. Cảnh sát Ý đang “vật lộn” với làn sóng gia tăng tội phạm liên quan đến việc thờ phụng ma quỷ liên tiếp xảy ra những năm gần đây. Nhiều linh mục của Vatican “bất đắc dĩ” trở thành đội bảo vệ Squadra Anti Sette (SAS) sau khi Giáo hội quan ngại về việc nhiều nhà thờ bị những kẻ sùng bái Satan phá hoại.

Một trong những chuyên gia hàng đầu của Vatican về thuyết ma quỷ Satan là Don Oreste Benzi đã phối hợp cùng cảnh sát để ngăn chặn xu hướng nguy hiểm này. Ông chia sẻ với tờ Sunday Telegraph rằng, sự tò mò của giới trẻ khiến họ đặc biệt bị thu hút bởi sự huyền bí đen tối, thích thú sử dụng các loại thuốc kích thích nên rất dễ bị những thế lực hắc ám tác động và thao túng. Cảnh sát trưởng Gianni de Gennaro cho biết có ít nhất 8.000 giáo phái Satan trên khắp nước Ý với hơn 600.000 thành viên và con số này vẫn đang tăng lên.

Âm nhạc kích động cũng nằm trong một phần nghi lễ của Satan giáo. (Ảnh qua wikimedia.org)
Âm nhạc kích động cũng nằm trong một phần nghi lễ của Satan giáo. (Ảnh qua wikimedia.org)

Ở Pháp có 40.000 phù thủy với 500 pháp sư tà thuật đang hoạt động và làm ăn thịnh vượng với lợi tức lên đến 20 tỷ franc. Nam Phi, mảnh đất tín ngưỡng lâu đời giờ cũng đang đối mặt với xu hướng giới trẻ cuồng mộ quỷ Satan. Trong cuốn “Tiết lộ về ma quỷ”, tác giả đồng thời là cảnh sát trưởng ở Nam Phi viết: “Nam Phi bước vào một kỷ nguyên mới với nhiều vấn đề đang chờ đợi, như độc dược, bệnh AIDS và ma quỷ hoành hành”.

Giờ đây, đất nước này đang phải đối mặt với “chủ nghĩa Satan” thâm nhập vào các trường trung học và mê hoặc không ít học sinh thờ phụng ma quỷ. Tình hình nguy cấp đến mức các nhà tâm lý học, xã hội học, giáo viên, linh mục và cảnh sát đã phải vào cuộc để ngăn chặn xu hướng thanh thiếu niên thực hiện các nghi lễ ma quái rùng rợn, khi các nhà chức trách phát hiện một số nhóm trẻ từ 11- 13 tuổi mổ giết động vật, tự cắt rạch lên thân thể mình và uống máu người bên ngoài trường học.  

Một đơn vị cảnh sát đã được điều tới trường trung học Tafelsig ở Mitchell’s Plain (Nam Phi) khi nhận được tin báo một nhóm khoảng 15 em học sinh lớp 8 và lớp 9 đang thực hiện các nghi lễ bệnh hoạn trong công viên Fan Swartklip gần trường học. Để tránh bị phát hiện, bọn trẻ đã gặp nhau tại công viên này vào các ngày thứ 4 và thứ 6 để thực hiện “nghi lễ” tự cắt rạch lên thân thể mỗi lần từ 6-8 vết.  

Ngoài ra, nhóm học sinh này còn kẻ viền mắt đen, sơn móng tay đen và mặc quần áo màu đen đến trường. Các giáo viên còn phát hiện một bức thư viết tay của một nữ sinh khi em này thổ lộ tình yêu với Satan, cũng như thú nhận việc thường xuyên lên thư viện để đọc sách và tìm hiểu trên mạng về quỷ Satan.  

Trong một khu rừng tại tiểu bang Alabama (Mỹ), nhiều người trẻ từ 14- 24 tuổi, đa số là da đen, tụ tập nhảy nhót theo nhạc hard rock (Rock nặng), tay cầm cờ vẽ bằng máu thú vật.

Những nghi lễ ma quỷ huyền bí kích thích sự tò mò của giới trẻ
Những nghi lễ ma quỷ huyền bí kích thích sự tò mò của giới trẻ. (Ảnh: WP)

Satan giáo đã trở thành một giáo phái phát triển trên toàn cầu và có trụ sở đặt tại thành phố Oklahoma (Mỹ). Từ đây, những giáo lý ma quái như xúc tua tỏa xuống Nam Mỹ với các chi nhánh lớn tại Mexico, Brazil, Colombia và Argentina. Riêng tại Argentina, có khoảng 90.000 tín đồ Satan giáo, hầu hết là giới trẻ và đáng lưu ý là giáo phái này đang ra sức lôi kéo con cái của những Kitô hữu.

Các tín đồ Satan thường tìm đến các trường học để rủ rê học sinh bỏ nhà đi tham dự những cuộc khiêu vũ kiểu Satan trong những căn phòng đen tối, treo hình Satan quanh tường hay dự những buổi lễ ma quỷ do chúng bày ra rồi làm những chuyện đồi bại.

Shane Westhoelter, giám đốc Mạng Thông tin Quốc gia (Mỹ) cho biết, có khoảng 30-40% học sinh trung học tham gia các nghi lễ ma quái, 70% tội phạm dưới 17 tuổi đều tham gia vào một hội kín thờ phụng quỷ Satan.

Trong Kinh thánh, quỷ Satan là một trong ba tổng lãnh thiên thần do Chúa tạo ra có tên là Lucifer – nghĩa là ngôi sao mai ngời sáng. Cùng với hai tổng thiên thần khác là Michael và Gabriel giúp Chúa trời cai quản thiên giới, Lucifer không những có quyền lực lớn mà còn có dung mạo tuyệt đẹp, được Chúa rất tin tưởng. Điều đó khiến Lucifer dần trở nên kiêu ngạo và ngông cuồng, cảm thấy mình không thua kém Chúa trời, dẫn tới đố kỵ với Ngài, thèm khát quyền lực tối thượng của Ngài.

Ấp ủ tham vọng thoán vị, Lucifer rủ rê các thiên thần tạo phản lật đổ Chúa và lạ thay, có đến 1/3 số thiên thần đi theo ông ta. Một cuộc chiến ác liệt Chính – Tà đã diễn ra và kết cục là vị thiên thần sa ngã Lucifer tự coi mình cao hơn Chúa đã thất bại, bị ném xuống 18 tầng địa ngục và trở thành chúa quỷ. Từ đó, Lucifer được gọi là Satan, có nghĩa là sự hủy diệt. Satan cũng được coi là kẻ đã hóa thân thành con rắn để quyến rũ A-đam và Eva phản lại lời răn của Chúa.

(Còn nữa….)

Categories: Bí ẩn Lịch Sử

Illuminati – Hội kín thờ phụng quỷ Satan

Khi nói đến các thế lực bóng tối được cho là đang kiểm soát thế giới, hội kín Illuminati luôn đứng đầu danh sách của bất kỳ ai tin vào thuyết âm mưu. Hội kín này thao túng toàn cầu, từ tài chính, quân sự, giáo dục đến truyền thông, tôn giáo… Nguy hiểm hơn, đây lại là một thế lực chuyên thờ phụng quỷ Satan.

Illuminati đã hình thành và phát triển được gần 300 năm. (Ảnh: t/h)
Illuminati đã hình thành và phát triển được gần 300 năm. (Ảnh: t/h)

Thế kỷ 20 – Thời kỳ lên ngôi của ma quỷ

Tháng 4/1966, Anton Lavey, một nhạc sĩ người Mỹ đã cạo đầu tuyên bố thành lập Hội thờ quỷ Satan và cho ra đời cuốn kinh của Satan. Có thể nói Anton Lavey chính là “cha đẻ của Satan giáo”, là “Đức Giáo hoàng Đen” của Hội thờ quỷ Satan với các nghi lễ như thuật ma cà rồng hút máu, thuật hành dâm…

Giáo lý trong kinh của Satan giáo đề cao “sự khoái lạc”, “đời sống vĩnh cửu”, “tâm lý bầy đàn” hay còn gọi là tâm lý đám đông, “sự tế thần”… và đề cao bản ngã con người. Satan giáo cho rằng con người vẫn có thể đảm bảo các khoái lạc của đời sống mà vẫn có thể thấu suốt được chân lý.  Tư tưởng này của Satan giáo dường như đã trở thành sức hấp dẫn đặc biệt đối với những người mong muốn bước chân vào thế giới huyền bí mà không muốn mất đi các thú vui trần thế…

Anton Lavey chính là “cha đẻ” của Satan giáo và cuốn kinh Satan.
Anton Lavey chính là “cha đẻ” của Satan giáo và cuốn kinh Satan. (Ảnh qua wordpress.com)

Bảy Tội Lỗi của con người được nhắc đến trong Kinh thánh của Thiên Chúa giáo gồm: Kiêu ngạo, Đố kỵ, Ham ăn, Dâm dục, Giận dữ, Tham lam và Lười biếng lại được “cha đẻ” của Satan giáo là Anton Lavey coi như những phẩm chất đáng có của con người. Có thể nói, những “tuyên ngôn” của Lavey trong Kinh Satan giáo dường như rất phù hợp với thế kỷ 20 – thế kỷ đi kèm nhiều biến loạn suy đồi về đạo đức.

Những đệ tử theo Satan giáo đeo những món đồ kỳ quái như nhẫn đầu dê, chữ thập ngược, lập bàn thờ Satan bày đầu lâu xương sọ, dao sắc… Trong những buổi hành lễ, họ sử dụng ma túy, rạch những vết thập lên người, cắt tay để lấy máu hiến cho quỷ Satan và quan hệ tình dục tập thể. Khẩu hiệu của họ là: “Hãy hiến linh hồn cho Satan”…

Nhưng Anton Lavey không phải là người đầu tiên thờ quỷ Satan. Trước đó khá lâu, có một tổ chức thờ phụng Satan được mô tả là ẩn mình trong bóng tối “giật dây” và có quyền lực ngầm thao túng cả thế giới: Đó chính là Hội kín Illuminati. Biểu tượng chính của hội kín Illuminati chính là ngôi sao 5 cánh ngược có hình đầu dê – đây chính là biểu tượng của quỷ Satan.

Những thành viên trong hội kín Illuminati đặt trọn niềm tin vào việc thờ phụng quỷ Satan, hay còn gọi là “Thiên thần sa ngã” Lucifer. Mục đích tối hậu của hội kín này là lật đổ thế quyền và thần quyền khắp nơi, cải biến bản chất của con người và thống trị toàn thế giới, liên kết mọi quốc gia dân tộc thành một đế chế toàn cầu. Vì thế, Illuminati còn được dùng đồng nghĩa với “Trật tự Thế giới Mới”.

Một hội kín đáng sợ ra đời

Sau khi cuốn tiểu thuyết nổi tiếng The Da Vinci Code (Mật mã Da Vinci) của nhà văn Dan Brown ra đời, nhiều người hơn nữa biết đến sự tồn tại của Illuminati và các thông tin về Illuminati được các trang mạng tích cực khai thác, nhưng thực ra nó đã tồn tại cách đây gần 300 năm.

Illuminati trong tiếng Latin có nghĩa là “Khai sáng, giác ngộ”, được thành lập vào ngày 1/5/1776 bởi triết gia người Đức tên là Adam Weishaupt tại Bavaria (nay là Bayern thuộc Đức) trong thời kỳ Khai sáng ở châu Âu. Trong những ngày đầu thành lập, nhóm chỉ thu hút một số ít người nhưng rồi nhanh chóng tăng từ 650 đến 2.500 người trong vòng gần một thập niên, từ năm 1776 đến năm 1783.

Kết quả hình ảnh cho adam weishaupt illuminati
Triết gia người Đức Adam Weishaupt là “thủy tổ” của Hội kín Illuminati và chính là người tạo ra “logo” kim tự tháp cho Hội. (Ảnh qua Croative.net)

Bản thân Illuminati rất bí hiểm, họ thường sử dụng các biểu tượng như hình chim cú, hình con mắt, sử dụng các bút danh để tránh nhận dạng. Các ghi chép cho biết các thành viên Illuminati rất hoang tưởng và thường sử dụng giao thức giống như gián điệp để giữ bí mật danh tính của nhau. Các thành viên gia nhập hội phải tuyên thệ trung thành với cấp trên và cấp bậc được chia làm 3 thứ hạng có cấu trúc phân cấp phức tạp như Novice (nghĩa là “người tập sự”), Minerval (tên của một nữ thần La Mã) và Minerval Illuminati.

Mục đích ban đầu của Hội kín này là chống mê tín, chống lại ảnh hưởng của tôn giáo lên đời sống cộng đồng và chống lạm dụng quyền lực nhà nước. Hội này tin vào việc “con người sinh ra vốn không ác, nhưng bị tôn giáo làm hư hỏng, bị dẫn dắt bởi chính phủ và các thế lực đương đại rồi đi đến sa ngã”. Với ý tưởng này, Adam Weishaupt cho rằng, kẻ thù lớn nhất ngăn chặn tiến bộ xã hội là tôn giáo và mục đích mà Hội kín ban đầu lập ra nhằm chống lại tôn giáo và thúc đẩy chủ nghĩa duy lý.

Năm 1783, Hội Khai sáng cuối cùng đã bị người cai trị xứ Bavaria là Charles Theodore cấm hoạt động do áp lực của Giáo hội Công giáo La mã, cùng với các sắc lệnh khác của chính phủ đã thành công trong việc giải tán phần còn lại của Hội kín này vào năm 1800.

Adam Weishaupt từ chối Sắc lệnh Rosicrucian nghiêm cấm tổ chức thờ phượng huyền bí và thuật giả kim của chính phủ nên bị buộc phải rời khỏi Bavaria. Ông ta đã viết 4 cuốn sách về Illuminati trong khoảng thời gian 3 năm sống lưu vong và qua đời ở Gotha (Đức) vào ngày 18/11/1830.

Illuminati thường tổ chức thờ phượng huyền bí và thuật giả kim nên bị Giáo hội Công giáo và chính phủ nghiêm cấm năm 1783. (Ảnh qua Pinterest)

Tuy nhiên, ý tưởng của Hội đã được truyền sang Mỹ và khắp châu Âu. Những người theo thuyết âm mưu quả quyết rằng nhóm này vẫn tồn tại và hoạt động như một chính phủ ngầm đáng sợ, kiểm soát các vấn đề thế giới và còn chủ mưu trong các sự kiện lịch sử như Trận chiến Waterloo, Cuộc Cách mạng Pháp và vụ ám sát Tổng thống Mỹ John F. Kennedy…

Họ cài cắm chân rết trong các chính phủ và các tập đoàn để thiết lập một Trật tự Thế giới Mới nhằm đạt được quyền lực và ảnh hưởng chính trị nhiều hơn nữa. Không những thế, người ta còn nhận ra dấu vết của họ trong các cuốn tiểu thuyết ăn khách, phim ảnh, chương trình truyền hình, truyện tranh, trò chơi điện tử, video ca nhạc,…

Các biểu tượng thờ phụng ma quỷ

Trong suốt thời cổ đại, con người đã phát minh ra những biểu tượng để mô tả một khái niệm hay ý tưởng thay cho lời nói. Mỗi xã hội bí mật đi kèm với ý thức hệ và chương trình nghị sự bí ẩn của nó cũng có biểu tượng đặc trưng. Những biểu tượng này được sử dụng như một phương tiện thể hiện tư tưởng và giao tiếp giữa các thành viên mà chỉ khi bạn thuộc về Hội kín đó mới có thể hiểu được.

Các thành viên Illuminati rất thận trọng, bí mật. Khi liên lạc hoặc viết thư cho nhau, họ không bao giờ đề cập đến tên cái tên Illuminati mà thay vào đó, họ sử dụng những dấu hiệu đặc biệt, như là một biểu tượng đặc trưng trong Hội kín của họ. Họ có nhiều những ám hiệu, biểu tượng để nhận diện nhau, và tựu chung nhất vẫn là thể hiện sự tôn thờ của bản thân đối với quỷ Satan. Ngoài ra, tất cả các thành viên Illuminati đều sử dụng tên Hy Lạp và La Mã cổ đại để che giấu danh tính của họ.

Con mắt quan sát và Kim tự tháp

Biểu tượng này do chính Adam Weishaupt, người sáng lập Bavarian Illuminati tạo ra vào ngày 1/5/1776 tượng trưng ở chân kim tự tháp là chữ số La Mã MDCCLXXVI. Dòng chữ Latin ở phía trên “Annuit Coeptis ” nghĩa là “Thông báo về sự ra đời của” và dòng chữ bên dưới “Novus Ordo Seclorum” có nghĩa là “Trật tự thế giới mới” . Vậy nghĩa của nó là: “Thông báo về sự ra đời của Trật tự Thế giới mới”.

“Con mắt thường thấy”, biểu tượng đặc trưng nhất của Hội kín Illuminati . (Ảnh qua qwgtw.com)

Kim tự tháp là biểu tượng quen thuộc trên thế giới. Người Ai Cập cổ đại coi kim tự tháp là biểu tượng tâm linh. Tam giác biểu thị cho 3 cạnh, trong tiếng Hebrew (Do Thái) số 3 là viết tắt của từ Tâm linh. Đỉnh của kim tự tháp tượng trưng cho Thiên đàng và đáy được coi là Trái Đất và Địa Ngục. Nhưng theo niềm tin huyền bí, biểu tượng tam giác đó được sử dụng để triệu hồi linh hồn ma quỷ trong nghi lễ. Nó cũng tượng trưng cho quyền lực, đại diện cho giới thượng lưu kiểm soát thế giới.

Trong tôn giáo, con mắt được liên kết như là một biểu tượng của Thiên Chúa nhìn thấy tất cả vạn vật, có mặt khắp nơi chăm sóc nhân loại. Nhưng Illuminati coi con mắt trên Kim tự tháp đại diện cho quyền lực hoàng gia, biểu thị những người tinh hoa đang theo dõi thế giới. Con mắt được “thả nổi” trên kim tự tháp có hàm ý là tầng lớp tinh hoa coi mình là Thần và quan sát mọi thứ mà con người đang làm.

Con số quái thú 666

Kết quả hình ảnh cho axolotl
Sách Khải Huyền trong Kinh Thánh coi số 666 như là hiện thân của quỷ Satan. (Ảnh qua CafePress)

Sách Khải Huyền trong Kinh Thánh coi số 666 như là hiện thân của quỷ Satan và thờ phượng huyền bí. Ngoài ra, 666 còn được cho là hiện thân của Satan dưới vỏ bọc con rắn đang cuộn đuôi ngóc đầu dụ dỗ Adam và Eva ăn trái cấm. Chính vì lén lút ăn vụng trái cấm nên Chúa Trời đã đuổi Adam và Eva khỏi vườn địa đàng rồi đày họ xuống trần gian. Vì vậy, con số 666 còn là biểu tượng của sự cám dỗ, khiến con người lầm đường lạc lối và phạm phải những sai lầm khủng khiếp khó cứu vãn tình thế.

Biểu tượng ngôi sao năm cánh ngược

Biểu tượng sao năm cánh ngược là dấu hiệu biểu thị sự nhạo báng Thiên Chúa. (Ảnh qua media1.tenor.com)

Trong văn hóa Hy Lạp và Babylon cổ đại, ngôi sao năm cánh là tượng trưng cho bốn hành tinh Sao Mộc, Sao Thủy, Sao Hỏa và Sao Thổ và cánh nhọn ở trên cùng tượng trưng cho Sao Kim – Nữ hoàng của bầu trời, chính là vị thần Istar. Những người Kitô giáo đã sử dụng biểu tượng này để diễn tả năm vết thương của Chúa Giêsu.

Tuy nhiên, những người thờ phụng Satan đã “lộn ngược” sao năm cánh như là một dấu hiệu biểu thị sự nhạo báng Thiên Chúa, và đại diện cho quan điểm đối lập của họ. Quan điểm của họ là coi trọng tri thức khoa học, chống đối tín ngưỡng, “bài trừ” Chúa và tôn thờ Lucifer. Vì vậy, ngay khi Illuminati sử dụng biểu tượng sao năm cánh ngược này, Cơ Đốc giáo đã phải loại bỏ biểu tượng sao năm cánh để tránh hiểu nhầm.

Sao năm cánh ngược đại diện của cái ác, của tội lỗi và thu hút những thế lực xấu xa bởi vì nó đảo lộn trật tự đúng đắn của mọi vật và biểu lộ chiến thắng của vật chất vượt trên tinh thần. Cùng với hai cánh nhọn hoắt chĩa lên phía trên nó đại diện cho thú tính là chiếc sừng nhọn của quỷ. Trong ma thuật đen, nó được gọi là ‘Dấu chân của Ma quỷ’ hoặc ‘Con dê của Mendes’ khi ngôi sao năm cánh ngược trông giống như đầu dê. Ngày nay, sao năm cánh ngược là biểu tượng của quỷ dữ.

Con cú

Biểu tượng con cú thể hiện việc đề cao phương pháp khoa học mà coi thường giáo lý của Thiên Chúa. (Ảnh qua Pixers)

Biểu tượng này có nguồn gốc từ nữ thần La Mã Minerva, Bà thường được mô tả là một vị thần biểu tượng cho sự khôn ngoan, trí tuệ và kiến thức. Các thành viên Illuminati xem mình là thông thái – những người có thể thống trị thế giới thông qua kiến ​​thức và sự khôn ngoan. Họ đề cao phương pháp khoa học mà coi thường giáo lý của Thiên Chúa. Con cú cũng được khắc tả trên con dấu của các thư viện và trường đại học nên người ta tin rằng, Illuminati đang cố gắng kiểm soát thế giới thông qua giáo dục và văn hóa.

Hình dấu thập ngược 

Hình dấu thập ngược được coi là một sự nhạo báng thập tự giá của Kitô giáo. (Ảnh qua iStock)
Hình dấu thập ngược được coi là sự nhạo báng thập tự giá của Kitô giáo. (Ảnh qua iStock)

Nó được coi là một sự nhạo báng thập tự giá của Kitô giáo và được những tín đồ Satan giáo sử dụng trong các nghi lễ ma quái của họ. Lịch sử ghi chép rằng hoàng đế Nero, một người có tính cách thất thường và tàn bạo đã chính tay giết chết mẹ của mình và những người bất đồng ý kiến. Chính Nero đã tự tay phóng hỏa thiêu rụi thành Roma và đổ tội cho các Kitô hữu để lấy cớ thẳng tay đàn áp, khủng bố và dùng mọi cực hình để tra tấn và tiêu diệt họ. Nero đã đóng đinh Thánh Tông đồ Peter trên một cây thánh ngược và sau này nó được gọi là “thập giá Neroic”.

Biểu tượng thánh giá ngược xuất hiện phổ biến vào thập niên 1950 bởi nhà hoạt động hòa bình Gerald Holtom và triết gia Bertrand Russell – một người rất có sự đồng cảm với chủ nghĩa cộng sản. Một trong số họ là thành viên của Hội kín Illuminati. Trong suốt cuộc đời của mình, triết học gia Bertrand Russell tin rằng ít có khả năng tồn tại một Thiên Chúa và cho rằng tôn giáo chỉ là mê tín dị đoan.

Dấu hiệu sừng Satan

Dấu hiệu sừng Satan. (Ảnh qua Pinterest)
Dấu hiệu sừng Satan. (Ảnh qua Pinterest)

Dấu hiệu “Sừng của Satan” biểu thị cho các luật lệ của Satan. Quỷ Satan được gọi là “kẻ chống đối lại Thiên Chúa”và sừng trong Kinh Thánh mô tả đến việc chống đối. “Sừng của Satan” là một dấu hiệu tay phổ biến của các chính trị gia, của giới văn nghệ sĩ và cả những tù nhân phạm trọng tội. Người làm ký hiệu tay này chính là để bày tỏ sự trung thành của họ đối với quyền lực của Satan và cũng là lời chào Satan thay cho câu: “Hail, Satan”. 

Những nhân vật nổi tiếng biểu thị tôn thờ quỷ dữ

Trong Thessalonians 2; 5-10 (chương 2) có chép“…. Đối với những bí ẩn của sự gian ác đương hành động rồi; song Ðấng còn ngăn trở cần phải cất đi. Bấy giờ kẻ ác cùng luật pháp kia sẽ hiện ra, Ðức Chúa Giê-su sẽ dùng hơi miệng Ngài mà hủy diệt nó, và trừ bỏ nó bởi sự chói sáng của sự Ngài đến. Kẻ đó sẽ lấy quyền của quỷ Satan mà hiện đến, làm đủ mọi thứ phép lạ, ký hiệu và việc giả dối; dùng mọi cách lừa phỉnh không công bình mà dụ dỗ những kẻ hư mất, vì họ đã không nhận lãnh sự yêu thương của lẽ thật để được cứu rỗi”.

“Bí ẩn của sự gian ác” được nói đến trong Kinh thánh là ám chỉ đến hội kín Illuminati. Kẻ đó sẽ lấy quyền của quỷ Satan mà hiện đến, làm đủ mọi thứ phép lạ, ký hiệu và việc giả dối” tức là một nhóm người quyền thế sẽ truyền cảm hứng của ma quỷ bằng ký hiệu dấu tên sừng quỷ.

Đã có nhiều chính khách cao cấp trên thế giới làm dấu tay quỷ Satan như một sự công nhận về lòng trung thành của những thành viên theo “chủ nghĩa Satan”, và cam kết mang lại một Trật tự Thế giới Mới.

iluminati
Cựu Tổng thống Mỹ Barack Obama là một trong những chính khách sử dụng ký hiệu sừng quỷ nhiều nhất. (Ảnh: t/h)
Vợ chồng cựu Tổng thống George W.Bush cùng làm dấu tay quỷ. (Ảnh: t/h)
iluminati
Cựu Tổng thống Bill Clinton và Cựu đệ nhất Hilary Clinton. (Ảnh: t/h)
Lần lượt từ trải qua phải là Cựu thủ tướng Ý Berlusconi, Cựu Tổng thống Pháp Sarcozy, Cố Tổng thống Plastine Yasser Arafat, Cựu Tổng thống Iran Ahmadinajad. (Ảnh: t/h)

Bên cạnh đó còn có rất nhiều người nổi tiếng như các nghệ sĩ, ca sĩ, diễn viên… cũng thường xuất hiện với dấu tay quỷ Satan này.

Vũ công Derek Hough và ca sĩ Rihanna làm kí hiệu “Sừng của Satan”. (Ảnh: t/h)
Hàng loạt ca sĩ, diễn viên, người mẫu,… nổi tiếng xuất hiện với dấu tay sừng quỷ Satan. (Ảnh: t/h)

Team TTN tổng hợp.

Categories: Bí ẩn Lịch Sử

15 sự thật lịch sử thú vị về người Ai Cập cổ đại mà trường học không dạy cho bạn

Nhắc đến Ai Cập cổ đại, chúng ta thường nghĩ ngay đến những kim tự tháp, xác ướp và lăng mộ pharaoh. Nhưng còn nhiều sự thật thú vị mà giáo viên trong trường không nói cho bạn biết.

Dưới đây là 15 sự thật thú vị về người Ai Cập cổ đại khiến bạn không khỏi ngạc nhiên.

Son môi được làm từ côn trùng nghiền

Axit carminic đỏ được chiết xuất từ rệp son hoặc rệp vảy được sử dụng làm đồ trang điểm ở thời Ai Cập cổ đại.

Pharaoh dùng nô lệ để làm mồi đuổi ruồi

Ruồi muỗi ở thời Ai Cập cổ đại còn sinh sôi nhiều hơn ngày nay. Thời nay chúng ta dùng các loại thuốc xịt và kem chống côn trùng khác nhau nhưng pharaoh Pepi II lại dùng nô lệ để dụ ruồi. Họ sẽ thoa mật ong lên người các nô lệ rồi đứng gần pharaoh để làm bẫy dụ ruồi. Một công việc thật kỳ quặc và không mấy dễ chịu phải không?

Người Ai Cập cổ đại trang trí lăng mộ của mình như một ngôi nhà và còn mang đồ ăn vào trong đó

Người Ai Cập cổ rất chú trọng vào cuộc sống ở thế giới bên kia. Họ tin rằng sau khi chết, người ta sẽ tiếp tục sống ở thế giới bên kia. Do đó họ chuẩn bị mọi đồ trang điểm, vệ sinh, thức ăn, đồ uống, thậm chí thú cưng và nô lệ ở dưới lăng mộ.

Các pharaoh thường bị béo phì

Chúng ta thường thấy hình ảnh những người Ai Cập với vóc dáng gọn gàng, khỏe mạnh. Tuy nhiên các nhà khoa học đã thực hiện phân tích tia X-quang trên các xác ướp và kết luận những bức ảnh đó khác xa thực tế.

Sự thật là người Ai Cập cổ đại, đặc biệt các pharaoh, thường rất béo và không khỏe mạnh. Những thực phẩm có hại với nhiều carb, chất béo, cồn khiến các pharaoh dễ bị béo phì và gặp các vấn đề sức khỏe.

Bác sĩ chuyên khoa trực tràng rất được trọng dụng

Y học thời Ai Cập cổ đại rất phát triển, họ có các chuyên gia ở nhiều lĩnh vực y tế khác nhau, như nha sĩ, bác sĩ mắt, bác sĩ phẫu thuật,…

Nhưng bác sĩ chuyên khoa trực tràng mới là bác sĩ được trọng dụng nhất thời này.

Như đã nói ở trên, các pharaoh và những người giàu có ăn uống quá nhiều khiến thức ăn đi vào rồi lại không “đi ra” được.

Do đó bác sĩ trực tràng rất được trọng dụng để giúp “đầu ra” của họ dễ dàng hơn.

Đàn ông Ai Cập cổ đại cũng dùng mỹ phẩm

Ở thời Ai Cập cổ đại, cả nữ giới và nam giới đều trang điểm. Có 3 lý do, thứ nhất trang điểm giúp bảo vệ da họ khỏi ánh nắng mặt trời. Thứ hai, họ tin rằng thần Ra và Horus sẽ đối xử tốt với những ai trang điểm. Thứ ba, họ tin rằng trang điểm có tác dụng chữa lành.

Tuy nhiên, một số mỹ phẩm như chì kẻ mắt có chứa thủy ngân thì có hại hơn là có lợi cho sức khỏe.

Trẻ nhỏ thời Ai Cập cổ đại không mặc quần áo

Trẻ nhỏ Ai Cập cổ đại không mặc quần áo hay đi giày dép. Để không bị chấy rận, cha mẹ còn cạo đầu cho trẻ nhỏ, chỉ để lại một bím tóc nhỏ. Các em bé chỉ mang vòng tay, vòng chân, vòng cổ mà thôi.

Người Ai Cập cổ đại cũng sống thử trước hôn nhân

Thời Ai Cập cổ đại không có giấy tờ chứng hôn gì cả. Các đôi chỉ đơn giản là sống chung. Tuy nhiên với giới nhà giàu, các cặp vợ chồng có thể soạn hợp đồng hôn nhân phòng trường hợp ly hôn để dễ phân chia tài sản.

Đàn ông cũng có “ngày đèn đỏ”

Người Ai Cập tin rằng đàn ông cũng có “ngày đèn đỏ”. Nếu một người đàn ông đi vệ sinh mà không thấy ra máu thì bị cho là ốm.

Tuy nhiên thực tế là phần lớn người Ai Cập cổ đại đều nhiễm bệnh sán máng (schistosomiasis) – một loại sán sống trong nước ngọt, ký sinh chủ yếu trong hệ tuần hoàn và hút máu.

Bệnh sán máng mãn tính có thể dẫn đến thiếu máu, vô sinh thậm chí tử vong.

Quy định luật pháp vô lý

Mặc dù có hệ thống pháp luật phát triển nhưng có một quy định khá vô lý ở thời Ai Cập cổ đại, đó là một bị cáo sẽ bị coi như là có tội luôn dù có làm hay không, trừ khi tự chứng minh được mình vô tội. Hơn nữa bị cáo sẽ không có luật sư.

Các bức tượng được dùng để quyết định quyền sống hay chết của phạm nhân

Những năm 1550 – 1069 trước Công Nguyên, các linh mục bắt đầu can thiệp vào các quy trình tư pháp và khi các thẩm phán gặp khó khăn trong việc đưa ra bản án, những bức tượng các vị thần sẽ giúp đỡ họ.

Một bức tượng thần linh có thể cử động vật lý được tạo ra có thể đưa ra hai lựa chọn Chết hay Sống. Nếu nó chỉ vào bên nào thì mọi người sẽ theo đó mà định đoạn tính mạng của phạm nhân.

Tuy nhiên, các linh mục này thường dùng dây tự điều khiển bức tượng làm theo ý muốn để nhận lại tiền hối lộ từ ai đó.

Côn trùng nguy hiểm hơn cả động vật hoang dã

Các loại côn trùng khác nhau từ ruồi, muỗi, kiến, gián, chấy, bọ chét,.. gây phiền toái và ảnh hưởng cuộc sống của con người hơn cả động vật hoang dã.

Người Ai Cập cổ đại thường chống côn trùng bằng các loại dầu, thảo dược, các loại bột phấn. Nếu bị chấy, họ có thể cạo trọc đầu.

Tuy nhiên đáng sợ nhất là châu chấu, không một cách gì có thể ngăn chặn được chúng. Một đàn châu chấu lớn sẽ tàn phá tất cả mùa màng chỉ trong tích tắc.

Người lùn được hưởng nhiều đặc quyền đặc lợi

Ở xã hội Ai Cập cổ đại, người lùn được cho là món quà từ thượng đế, do đó họ có nhiều đặc quyền đặc lợi. Họ có vị trí cao trong công việc, thường làm trợ lý riêng hoặc trông coi trang sức quý, đặc biệt ở thời Vương triều thứ Nhất của Ai Cập họ chỉ làm việc cho Hoàng tộc.

Dùng chất khử mùi để loại bỏ mùi cơ thể

Thời tiết nóng bức, công việc nặng nhọc khiến người cổ đại thường nặng mùi. Họ dùng hai biện pháp để đối phó vấn đề này.

Thứ nhất là cạo sạch đầu thường xuyên, vì họ tin rằng mùi hôi là do tóc của họ,

Thứ hai, họ dùng các chất khử mùi chứa nhiều thành phần như cam, quế, hồi, hoa, thậm chí là trứng đà điểu.

Họ làm những quả bóng chứa hương liệu thơm và kẹp vào nách. Những hương liệu có mùi mạnh giúp che mùi cơ thể của họ một thời gian nhất định.

Đàn ông Ai Cập cổ đại cũng trêu chọc, quấy rối phụ nữ ngoài đường

Theo Herodotus, ở thời Ai Cập cổ đại, đàn ông thường huýt sáo để thu hút sự chú ý của phụ nữ. Trong những buổi lễ, một số người đàn ông đi trên thuyền sẽ cởi hết quần áo và huýt sáo với những cô gái đứng trên bờ một cách bất lịch sự. Nhưng ở thời đó, chẳng có hình phạt nào dành cho hành vi quấy rối phụ nữ như vậy cả.

(Theo Bright Side)

Categories: Bí ẩn Lịch Sử