Chuyên mục: Bạn Chưa Biết ?

Loạt dấu chân khổng lồ trên tuyết, nghi là của quái vật Bigfoot

Người bình thường không thể đi giày tuyết thẳng hàng như vậy trong một quãng đường xa như vậy, chuyên gia nhận định.

Hàng loạt dấu chân khổng lồ bí ẩn vừa được phát hiện ở Mỹ, làm dấy lên nỗi lo rằng quái vật Bigfoot có thể đang ở rất gần.

Loạt dấu chân kéo dài tới hơn 800m được phát hiện trên lớp tuyết dày ở Sunnyslope, bang Washington, nước Mỹ.

Paul Graves, một mhà nghiên cứu quái vật Bigfoot (hay còn được gọi là quái vật chân to) nói rằng đây có thể là bằng chứng tìm kiếm bấy lâu nay cho thấy Bigfoot là có thật, The Sun đưa tin,

Paul Graves đo dấu chân bí ẩn trên tuyết.


Paul Graves đo dấu chân bí ẩn trên tuyết.

Theo quan sát của Graves, mỗi dấu chân khổng lồ dài khoảng 60cm, rộng 13cm ở gót, và dày 5cm.

Các dấu chân cách nhau từ 120-180cm (so từ gót chân sau và gót chân trước). Chúng kéo dài theo đường thẳng từ một vườn cây ăn quả, qua cánh đồng và kênh thủy lợi.

Một số người suy đoán rằng dấu vết này có thể chỉ là người bình thường đi giày đi tuyết.

Tuy nhiên, ông Graves bác bỏ giả thuyết trên và nói: “Đó không phải là người đi giày tuyết. Bạn không thể đi giày tuyết thẳng hàng như vậy trong một quãng đường xa như vậy”.

Theo ông Graves, đây không phải dấu chân của con người.


Theo ông Graves, đây không phải dấu chân của con người.

Ông tin rằng tất cả các dấu hiệu trên cho thấy đây là dấu chân của một “người khổng lồ”.

“Nếu đây là một hiện trường giả mạo thì những dấu chân phải đều nhau”, ông Graves nói, củng cố giả thuyết của mình. “Đây là đường nét của dấu chân của sinh vật sống”.

Dấu chân bí ẩn được phát hiện bởi Roy Bianchi, một người tin rằng Bigfoot có thật. “Tôi biết đây là dấu chân Bigfoot”, ông Bianchi nói.

Từ hàng nhiều thế kỷ qua, người dân trên thế giới, đặc biệt là Mỹ, đã nhiều lần kể lại những phát hiện của họ về Bigfoot, một sinh vật thần thoại. Hầu hết họ khẳng định Bigfoot cao từ 2-3m, với những đặc điểm giống khỉ đột.

Từ hàng nhiều thế kỷ qua, người dân trên thế giới, đặc biệt là Mỹ, đã nhiều lần kể lại những phát hiện của họ về Bigfoot


Từ hàng nhiều thế kỷ qua, người dân trên thế giới, đặc biệt là Mỹ, đã nhiều lần kể lại những phát hiện của họ về Bigfoot.

Quái vật Bigfoot là gì?Bigfoot, chân to hay sasquatch, là tên được đặt cho một loại sinh vật giống như khỉ mà một số người tin rằng sống ở rừng, chủ yếu ở Tây Bắc Thái Bình Dương của khu vực Bắc Mỹ.Bigfoot được mô tả trong báo cáo như một sinh vật như vượn lông lớn, cao khoảng 2-3m, trọng lượng hơn 230kg, và được bao phủ trong lớp lông màu nâu sẫm hoặc đen. Nhân chứng đã mô tả nó có đôi mắt to, trán thấp. Bigfoot thường được mô tả là mạnh mẽ, mùi khó chịu. Những dấu chân khổng lồ mà nó được đặt tên lớn 60cm và dài 20cm. Những người ủng hộ cho rằng Bigfoot là ăn tạp và chủ yếu hoạt động về đêm.

Xem thêm:

Categories: Chuyện Lạ

Chuyện kinh hoàng về cuốn sách giết người: Làn sóng tự tử vì đọc sách

Hơn 2.000 người đã tự tử chỉ trong một thời gian ngắn, tất cả bọn họ không có gì liên quan với nhau ngoài việc họ cùng đọc một cuốn sách.

Cách đây vài thế kỷ, châu Âu từng trải qua một làn sóng tự tử kỳ lạ. Hàng ngàn thanh niên được tìm thấy đã chết mà không có bất kỳ lý do rõ ràng nào.

Cuộc điều tra của nhà chức trách cho thấy tất cả bọn họ không hề có liên quan gì đến nhau, thậm chí cũng chưa hề gặp nhau khi còn sống. Thế nhưng họ đều mặc quần áo giống nhau và đều tự tìm cái chết bằng một khẩu súng.

Các nhà điều tra sau đó phát hiện ra một sự thật gây sốc – tất cả những nạn nhân đều đã đọc một cuốn sách bán chạy lúc bấy giờ, và cuốn sách vẫn còn phổ biến cho đến tận ngày nay.

Liệu các con chữ có thể gây ảnh hưởng tới con người đến mức mà hàng ngàn người đã quyết định tự tử sau khi đọc chúng? Điều gì đã thực sự xảy ra?

Năm 1774, Johann Wolfgang von Goethe (1749-1832), một trong những nhà văn lớn nhất của nước Đức xuất bản cuốn tiểu thuyết lãng mạn có tên là “The Sufferings of Young Werther” (tạm dịch “Nỗi đau của chàng Werther”).

Nhà văn Đức Johann Wolfgang von Goethe và tập bản thảo cuốn sách của ông.


Nhà văn Đức Johann Wolfgang von Goethe và tập bản thảo cuốn sách của ông.

Goethe chỉ mất bốn tuần để hoàn thành quyển sách của mình, nhưng chắc ông cũng chẳng ngờ sự tác động từ nó lại kéo dài và thảm khốc đến vậy.

Ảnh hưởng của Goethe đã từng trải rộng khắp châu Âu. Mãi cho đến thế kỷ tiếp theo, các tác phẩm của ông vẫn là một nguồn cảm hứng lớn trong âm nhạc, kịch, thơ và thậm chí là triết học. Thật không may, một trong số đó lại liên quan đến rất nhiều cái chết.

Cuốn tiểu thuyết kể về anh chàng nghệ sỹ trẻ Werther, người đã yêu một phụ nữ mà anh không thể nào có được. Lotte, người mà Werther dành cho tình yêu sâu sắc, đã đính hôn với một người đàn ông khác.

Và mặc dù cũng rất yêu Werther nhưng cô gái đã quyết định chung thủy với hôn phu. Quá thất vọng và đau khổ, chàng trai trẻ tự tìm giải thoát bằng cách bắn vào đầu mình.

Cuốn sách của Goethe đã nhanh chóng trở thành một trong những cuốn bán chạy nhất vào thời điểm đó. Những thanh niên châu Âu phát sốt với câu chuyện tình cay đắng, bởi vì nó phản ảnh rất nhiều điều mà họ thấy đồng cảm với cuộc sống của chính mình.

Những cảm xúc mãnh liệt, cả trong tình yêu và sự tuyệt vọng, của Werther đã chiếm được rất nhiều trái tim. Ngay cả Napoléon Bonaparte – vị Hoàng đế vĩ đại của nước Pháp – khi ra trận cũng luôn mang theo một cuốn bên mình?

Thế nhưng điều mà Goethe đã không lường trước là có quá nhiều thanh niên sẽ theo bước Werther. Đột nhiên, những vụ tự sát diễn ra liên tiếp khắc châu Âu.

Hình minh họa cảnh Werther tự sát trong câu chuyện.


Hình minh họa cảnh Werther tự sát trong câu chuyện.

Thi thể của những thanh niên trẻ tuổi với chiếc áo khoác màu xanh và quần màu vàng – cùng một thứ trang phục của anh chàng trong tiểu thuyết – được tìm thấy khắp nơi: trên đường phố, tại nhà và nhiều chỗ khác.

Tất cả đều được tìm thấy với một khẩu súng lục và một viên đạn trong đầu, cùng với một bản sao của cuốn tiểu thuyết nổi đình nổi đám thời điểm đó – “Nỗi đau của chàng Werther”.

Ảnh hưởng tiêu cực của cuốn sách đã trở thành một vấn đề nghiêm trọng. Thậm chí Giáo Hội cũng lên án cuốn sách và khuyên răn mọi người nên tránh xa. Đối với người Cơ Đốc, tự vẫn được coi là một trong những tội lỗi lớn nhất.

Lo sợ làn sóng tự vẫn có thể lây lan, một số nước châu Âu như Na Uy, Áo, Đan Mạch và cả một vài bang của Đức đã cấm cuốn sách.

Ngay cả Goethe cũng phải thừa nhận có điều gì đó đã sai lầm khủng khiếp. Trong lần xuất bản thứ hai, ông đã phải đưa ra cảnh báo cho độc giả. Ngay trên trang bìa, ông nhấn mạnh “Hãy là một người đàn ông, đừng theo bước chân tôi”.

Phải mất đến hai năm, “cơn sốt Werther” mới kết thúc. Sau đó, số vụ tự sát liên quan đến cuốn sách ngày càng giảm. Na Uy là quốc gia châu Âu cuối cùng xóa bỏ lệnh cấm đối với cuốn sách vào năm 1820.

Ngày nay, cuốn sách của Goethe được coi là một trong những tác phẩm văn học phổ biến nhất mọi thời đại. Các nhà sử học ước tính có khoảng 2.000 người đã tự tử sau khi đọc “Nỗi đau của chàng Werther”, chỉ trong hai năm sau khi nó được phát hành.

Đương nhiên, cuốn sách không thể “giết” tất cả những người kia, nhưng khi những nỗi khổ đau, tuyệt vọng mà nó đề cập đến, vô tình lại rất gần với hiện thực cuộc sống mà người đọc đang gánh chịu, nó trở nên có sức mạnh điều khiển tâm trí người ta.

Thế mới thấy sức mạnh của ngôn từ, trong từng trường hợp có thể trở nên vô cùng đáng sợ!

Xem thêm:

Categories: Chuyện Lạ

Phát hiện 33 xác ướp 600 năm tuổi

Các nhà khảo cổ học đã phát hiện 33 xác ướp của người Inca tại phía bắc Peru, được tin là bị giết để hiến tế thần linh vào khoảng 600 năm trước. 

Machu Picchu – Thành phố đã mất của người Inca.

Các bộ hài cốt được tìm thấy tại địa điểm khảo cổ nổi tiếng Chotuna-Chornancap, gần thành phố biển Chiclayo thuộc miền bắc Peru. Đa phần các xác ướp được bảo quản tốt tới nỗi mô da và tóc vẫn còn nguyên vẹn. Một số hài cốt có dấu hiệu bị cắt cổ và xương đòn. 

Khu vực khảo cổ Chotuna-Chornancap rộng 95 hecta nằm cách thành phố ven biển Chiclayo 19 km, gần ngôi mộ cổ Sipan – một trong những phát hiện lớn nhất của thế kỷ trước. 

Bằng chứng cho thấy các thi thể đã bị giết để hiến tế trước khi được ướp xác. Nhóm khảo cổ tin rằng họ đã bị giết để hiến tế thần linh nhằm ngăn ngừa các thảm hoạ thiên nhiên. 
Các nhà khoa học tin rằng, những xác chết ở Inca đã bị giết để hiến tế thần linh chỉ vài thập kỷ trước khi các nhà thám hiểm Tây Ban Nha tới vùng đất mà ngày nay là đất nước Peru. 

Mặc dù các nhà khảo cổ thường xuyên tìm thấy bằng chứng về nghi lễ dùng người làm vật tế thần từ các nền văn minh Inca và tiền Inca nhưng hiếm khi họ tìm thấy 33 hài cốt ở một nơi như vậy. 

Các nhà khoa học cho biết, nghi lễ dùng người làm vật tế thần khá phổ biến trong văn hoá Inca – nền văn hoá đã hưng thịnh ngay trước khi các nhà thám hiểm Tây Ban Nha tới khu vực mà ngày nay là một phần của Peru, Chile và Ecuador từ năm 1.400 đến giữa năm 1.500. 

“Hầu hết các bộ hài cốt này là của các thiếu nữ trong độ tuổi 15. Một trong số các xác ướp còn có dấu hiệu đang mang thai do có một xương đòn của một bào thai khoảng 4 tháng tuổi trong bụng”, nhà khảo cổ học Carlos Webster, trưởng nhóm khai quật tại Chotuna-Chornancap, nói. 
“Phần lớn các xác ướp vẫn còn nguyên vẹn – các mô da và tóc được bảo tồn tốt. Các hài cốt được tìm thấy tại một khu vực khô ráo và sâu khoảng 2,1m”, ông Webster nói thêm. 

Nền văn minh Inca vốn nổi tiếng với thành phố cổ Machu Picchu. Những tàn tích của thành phố này là điểm hấp dẫn khu khách hàng đầu của Peru và được xem là một trong 7 kỳ quan mới của thế giới.

Xem thêm:

Categories: Bí ẩn Lịch Sử

Phát hiện thanh kiếm 3.000 năm tuổi

Thanh kiếm cổ bằng đồng được phát hiện ở Trung Quốc có niên đại hơn 3.000 năm tuổi và mang giá trị lớn về lịch sử.
Li Lei, 26 tuổi, sống ở huyện Đan Phượng, tỉnh Thiểm Tây. Li phát hiện thanh kiếm đồng trong các phiến đất sét. Nó có chiều dài 46,5cm, chiều ngang 4cm và nặng khoảng 0,61kg.

Phát hiện thanh kiếm 3.000 năm tuổi


Thanh kiếm cổ bằng đồng được tìm thấy ở tỉnh Thiểm Tây. (Ảnh: news.163.com)

Theo chuyên gia khảo cổ học Lu Qinghe, thanh kiếm có từ cách đây hơn 3.000 năm, thuộc thời nhà Chu. Đồ sắt và việc sử dụng đồ sắt bắt đầu xuất hiện ở Trung Quốc trong thời kỳ này.

Trong số tất cả những thanh kiếm từng được phát hiện, đây là hiện vật nguyên vẹn nhất và có ý nghĩa lịch sử lớn. Nó có thể cung cấp các thông tin nghiên cứu liên quan đến triều đại tồn tại lâu nhất trong lịch sử Trung Quốc.

Shanghaiist dẫn lời Li cho hay một số người đã đưa ra mức giá 100.000 nhân dân tệ (hơn 16.000 USD) để mua thanh kiếm này, tuy nhiên anh đã từ chối và trao lại cho cơ quan di sản văn hóa. Li được trao chứng nhận và khoản tiền thưởng 500 nhân dân tệ (khoảng 80 USD).

Trước đó, một cậu bé 11 tuổi từng phát hiện con dao 3.000 năm tuổi khi đang chơi đùa cùng bạn bên một con sông ở thành phố Cao Bưu, tỉnh Giang Tô.

Xem thêm:

Categories: Bí ẩn Lịch Sử

Xác ướp động vật gần 3.000 năm tuổi

Trong thế giới Ai Cập cổ đại, nhiều loài động vật cũng được ướp xác, bọc trong vải lanh và đưa vào các quan tài nhỏ, và được coi là vật cúng tế trong các nghi lễ tôn giáo hay hiện thân của các vị thần.

Xác ướp động vật gần 3.000 năm tuổi
Theo quan niệm của người Ai Cập cổ đại, các con vật thường được ướp xác và chôn cùng chủ nhân khi họ qua đời, có thể để làm vật hộ mệnh hoặc bạn đồng hành ở thế giới bên kia. Trong ảnh là xác ướp của một con linh dương được chôn cùng trong ngôi mộ của chủ nhân, vào khoảng năm 945 trước Công nguyên.
Xác ướp động vật gần 3.000 năm tuổi
Việc ướp xác động vật mang nhiều yếu tố tâm linh theo quan niệm của người Ai Cập cổ đại. Trong thời đại của các vương triều Ai Cập khi đó, một số loài động vật được ướp xác bởi chúng được coi là hiện thân của các vị thần.
Xác ướp động vật gần 3.000 năm tuổi
Con cừu đực được ướp xác và bọc trong một lớp vỏ sơn vàng. Đây là một trong 7 xác ướp động vật còn nguyên vẹn đang được lưu giữ tại Bảo tàng Ai Cập. Theo các chuyên gia, con cừu là hiện thân cho thần sáng tạo Khnum, được nuôi trong chùa và chăm sóc cho đến khi chết.
Xác ướp động vật gần 3.000 năm tuổi

Các loài động vật còn được ướp xác khi chúng là vật nuôi của một thành viên trong gia đình hoàng gia. Con chó săn sau khi ướp xác (ảnh) được xác định là của một vị pharaoh.
Xác ướp động vật gần 3.000 năm tuổi
Bên trong một chiếc quan tài bằng gỗ có hình một con mèo, cao khoảng 40cm, là xác ướp của một con mèo nhỏ. Xác ướp mèo được bọc vải và lắp một mặt nạ sơn màu nâu bên ngoài là một trong số những xác ướp động vật thường được dùng trong các nghi lễ cúng tế.
Xác ướp động vật gần 3.000 năm tuổi
Hình ảnh chụp bằng tia X cho thấy xác ướp con mèo bên trong.
Xác ướp động vật gần 3.000 năm tuổi
Lớp vỏ bên ngoài xác ướp của một con chim ibis. Các hình trang trí dọc theo lớp vỏ là hình ảnh của các vị thần và các dãy chữ tượng hình.
Xác ướp động vật gần 3.000 năm tuổi
Theo các nhà khoa học, các xác ướp động vật có thể cung cấp nhiều thông tin nghiên cứu về sự sống và cái chết của người Ai Cập cổ đại. Trong ảnh là xác ướp khỉ đầu chó.
Xác ướp động vật gần 3.000 năm tuổi
Một con linh dương được bọc bằng các lớp vải sau khi ướp xác
Xác ướp động vật gần 3.000 năm tuổi


Một số loài động vật được ướp xác để dành cho các nghi lễ cúng tế khi chôn cất người chết. Các phần thịt ngon nhất của một số loài động vật như bò, vịt, ngan, chim bồ câu, sẽ được ướp muối sau đó bọc trong các lớp vải và đưa vào quan tài.

Xem thêm:

Categories: Chuyện Lạ

Hầm mộ 3.000 năm tuổi gây sửng sốt

Một hầm mộ có niên đại 3.000 năm tuổi vừa được tìm thấy ở Ai Cập trong một hiện trạng gây sửng sốt với các nhà khảo cổ.

Các nhà khảo cổ học vừa phát hiện thêm một hầm mộ có niên đại 3.000 năm tuổi ở Ai Cập. Được phát hiện ở gần thành phố Luxor phía nam Ai Cập, hầm mộ vừa được phát hiện thuộc về một người đàn ông quý tộc có tên Amenhotep.

Hầm mộ 3.000 năm tuổi gây sửng sốt
Những bức tranh vẽ trên các thành vách được tìm thấy bên trong hầm mộ vẫn còn ở tình trạng hoàn hảo so với niên đại 3.000 năm tuổi của hầm mộ.

Bộ trưởng Khảo cổ của Ai Cập – ông Mamdouh el-Damaty cho biết hầm mộ vừa được tìm thấy có những bức bích họa và phù điêu rất ấn tượng với màu sắc vẫn còn rất rõ nét. Hiện trạng của hầm mộ được cho là rất lý tưởng so với niên đại 3.000 năm tuổi của nó.

Hầm mộ 3.000 năm tuổi gây sửng sốt
Bên trong hầm mộ của người đàn ông quý tộc có tên Amenhotep.

Những bức tranh được vẽ trên các thành vách của hầm mộ khắc họa lại cuộc đời của Amenhotep lúc sinh thời, với các hoạt động như săn bắn, cúng tế…

Hầm mộ này đã được xây dựng từ triều tại thứ 18 của Đế chế Ai Cập cổ đại (khoảng năm 1543-1292 trước Công nguyên).

Trong các vị thần của người Ai Cập cổ đại, có một vị thần là thần Amun – vị thần tối tượng. Người đàn ông quý tộc Amenhotep là người đã đảm nhiệm sứ mệnh trông coi ngôi đền thờ thần Amun. Đây là một công việc rất đáng kính trọng trong xã hội Ai Cập cổ đại thời bấy giờ, vì vậy, khi Amenhotep qua đời, ông đã được xây dựng lăng mộ tương đối bề thế.

Xem thêm:

Categories: Bí ẩn Lịch Sử

Tại sao Kim tự tháp Giza lại hoàn hảo đến vậy? Bí mật ngàn năm có thể đã được giải đáp

Tại sao Kim tự tháp Giza lại hoàn hảo đến vậy? Bí mật ngàn năm có thể đã được giải đáp

Một trong những câu hỏi khó trả lời nhất về các kim tự tháp Ai Cập, đó là vì sao chúng được xây dựng một cách hoàn hảo đến vậy, trong khi người xưa không có bất kỳ công cụ nào hỗ trợ cả.

Trong hàng thế kỷ, Đại kim tự tháp Giza đã mang đến những dấu hỏi không (hoặc chưa) thể trả lời dành cho giới khoa học. Không chỉ bởi các đường hầm bí ẩn chưa được tìm thấy, mà ngay bản thân quy mô của công trình này cũng đủ để khiến tất cả phải đau đầu, khi người Ai Cập thời đó không có sự trợ giúp của máy móc hiện đại.

Và một trong những câu hỏi lớn nhất nằm ở cấu trúc của kim tự tháp: nó cân đối, ngay ngắn một cách hoàn hảo.

Tại sao Kim tự tháp Giza lại hoàn hảo đến vậy? Bí mật ngàn năm có thể đã được giải đáp - Ảnh 1.

Nói một cách chính xác thì công trình vẫn có một vài đoạn hơi lệch, nhưng về tổng thể, Giza vẫn thẳng thớm một cách kỳ lạ, với các điểm chân được xếp gần như chuẩn 4 hướng Đông – Tây – Nam – Bắc.

“Những người đã xây Đại Kim tự tháp Khufu (tên khác của Giza) đã sắp xếp các đỉnh theo 4 hướng, với độ chính xác chỉ lệch khoảng 1/50 độ,” – trích lời Glen Dash, chuyên gia khảo cổ.

Trên thực tế, cả 3 kim tự tháp lớn nhất Ai Cập – bao gồm 2 cái tại khu tổ hợp Giza và 1 tại Dahshur – đều được căn chỉnh hết sức cân đối theo đúng 4 hướng. Đây là điều khiến giới chuyên mộ phải bất ngờ, bởi thật khó hình dung họ có thể làm được mà không có drone, bản đồ họa thiết kế, hay tối thiểu là một chiếc máy tính.

“Cả 3 kim tự tháp đều có các lỗi giống nhau, nhưng chúng đều được sắp đặt rất hoàn hảo quanh 4 hướng,” – Dash chia sẻ thêm.

Có nhiều giả thuyết đã được đặt ra, chẳng hạn như việc sử các vì sao để tính toán phương hướng, hoặc dựa vào bóng đổ từ Mặt trời.

Tuy nhiên, chưa có kết luận nào được đưa ra cả, cho đến khi nghiên cứu mới đây của Glen Dash ra đời.

Năm 2018, Dash nghĩ về một ý tưởng khác đơn giản hơn.

Ông cho rằng người Ai Cập xưa có thể lợi dụng hiện tượng “thu phân” (autumnal equinox) để sắp xếp mọi thứ một cách thật hoàn hảo.

Dành cho những ai chưa biết, mỗi năm Trái đất có 2 “phân mùa” là “xuân phân” và “thu phân”, nghĩa là thời điểm xích đạo của Trái đất đi ngang qua trung tâm của Mặt trời. Đó là những thời điểm ngày và đêm tại xích đại có thời gian bằng nhau.

Giả thuyết lợi dụng phân mùa để tính toán khoảng cách vốn không được xem trọng, vì nhiều người cho rằng nó không chính xác. Nhưng theo nghiên cứu của Dash, có một cách tận dụng hiện tượng này mà vẫn cho kết quả cực kỳ hợp lý.Phương pháp mà Dash sử dụng00:00:07

Phương pháp mà Dash sử dụng

Để giải quyết, Dash đã thực hiện một thí nghiệm, bắt đầu từ ngày đầu tiên của thu phân 2016 và sử dụng một cây gậy để tạo bóng. Ông theo dõi các điểm bóng tạo ra, hình thành một đường cong hết sức mềm mại. Đến cuối ngày, bằng một sợi dây căng quanh cột, ông tạo ra đường thẳng hết sức hoàn hảo chạy từ Đông sang Tây.

“Ở thời điểm phân mùa, các điểm bóng đổ sẽ tạo thành một đường thẳng gần như hoàn hảo, chạy từ Đông sang Tây,” – Dash cho biết.

Phương pháp này cũng tạo ra một vài điểm lệch ngược chiều kim đồng hồ, và nó trùng khớp với những điểm lệch tại kim tự tháp Khufu và Khafre thuộc khu tổ hợp Giza, và kim tự tháp Đỏ tại Dahshur.

Thí nghiệm của Dash được thực hiện tại Mỹ, nhưng ông cho biết hiện tượng tương tự cũng sẽ xảy ra tại Ai Cập. Tuy nhiên, ông hiện vẫn chưa có bằng chứng xác thực để đưa ra kết luận cuối cùng.

“Người Ai Cập xưa để lại quá ít dữ kiện. Hiện vẫn chưa có bất kỳ tài liệu nào về cho biết cách người Ai Cập cổ xây dựng kim tự tháp như thế nào cả,”

Dù có thể sẽ chẳng ai biết điều gì đã xảy ra, nhưng nghiên cứu của Dash cũng cho thấy một vài điểm thú vị. Thậm chí, đây có thể là lời giải chính xác nhất ở thời điểm hiện tại.

Nghiên cứu được công bố trên tạp chí Ancient Egyptian Architecture.

Tham khảo: Science Alert

Xem thêm:

Categories: Bí ẩn Lịch Sử

12 thuyết âm mưu điên rồ hóa ra lại là sự thật

Không phải ngẫu nhiên mà người ta nói rằng sự thật đôi lúc còn lạ đời hơn cả những điều hư cấu. 

thuyết âm mưu

Có những thuyết âm mưu tưởng như vô lý nhưng lại thật sự xảy ra.

1. Sự kinh dị của “Dự án ánh dương”

âm mưu hạt nhân

Khi tỉnh Hiroshima và Nagasaki bắt đầu vực dậy sau hai quả bom nguyên tử, chính phủ Mỹ cũng kích hoạt một nghiên cứu nhằm đo lường tác động của phóng xạ hạt nhân lên cơ thể người.

Âm mưu: Chính phủ đã đánh cắp tử thi để làm các xét nghiệm phóng xạ.

Sự thật: Chính phủ đánh cắp một phần cơ thể tử thi. Do nhu cầu về các mô trẻ, họ đã xây dựng một mạng lưới toàn cầu nhằm tìm kiếm xác trẻ em mới chết, sau đó tiến hành lấy mẫu, thậm chí là lấy luôn toàn bộ cả chân tay tử thi. Họ thu thập mẫu mà không cần thông báo hay sự cho phép của hơn 1500 gia đình nạn nhân.

Thế giới mới chỉ bừng tỉnh về lịch sử khoa học rùng rợn của dự án có tên “ánh dương” (Project Sunshine) vào nửa sau của thế kỷ này, nhưng cho đến hiện tại vẫn còn đó nhiều bí ẩn chưa thể giải thích được.

2. Rượu độc

đầu độc rượu

Âm mưu: Trong thời kỳ cấm rượu, chính phủ Mỹ đã tiến hành đầu độc nhằm ngăn chặn tiêu thụ rượu.

Sự thật: Các công ty sản xuất rượu công nghiệp thật ra đã trộn sản phẩm với các hóa chất nguy hiểm từ lâu trước khi có lệnh cấm. Tuy nhiên, trong khoảng thời gian từ năm 1926 đến 1933, chính phủ liên bang Mỹ đã thúc đẩy các nhà sản xuất tăng liều lượng độc tố nhằm giảm sức tiêu thụ rượu.

Vậy nhưng điều này vẫn không ngăn cản được cung và cầu rượu lậu, cuối cùng thì, hơn 10.000 người Mỹ đã chết bởi “rượu bẩn”. Phần lớn rượu bất hợp pháp được bán tại các điểm đêm có tên “speakeasies” – nơi mà tại đó, mọi người sẽ phải hoạt động rất khẽ khàng nhằm tránh sự chú ý của cảnh sát và những người xung quanh.

3. Đệ nhất phu nhân đầu tiên lãnh đạo đất nước

nữ tổng thống Mỹ

Âm mưu: Đột quỵ khiến Tổng thống Mỹ Woodrow Wilson mất khả năng điều hành đất nước, và vợ ông đã bí mật đưa ra những quyết định thay chồng.

Sự thật: Wilson đã bị suy nhược vào cuối nhiệm kỳ tổng thống nhưng chính phủ cảm thấy giữ im lặng là điều tốt nhất cho đất nước lúc bấy giờ.

Công chúng trong suốt một thời gian không hề hay biết về sự đột quỵ này. Khi đó, vợ ông, bà Edith Wilson đã thay chồng đưa ra hầu hết các quyết định lãnh đạo.

Mặc dù bà Wilson tuyên bố bà chỉ hành động như một người “quản gia”, nhưng các nhà sử học khi tiến hành phân tích đã xác nhận rằng trong hơn một năm, bà Wilson đã đóng vai trò của tổng thống, một cách hiệu quả. Dù không thông qua bầu cử chính thức, có thể nói, Edith Wilson là nữ tổng thống đầu tiên của nước Mỹ.

4. Kiểm soát tư duy chính phủ

âm mưu ảo giác

Âm mưu: CIA đã thử nghiệm các loại thuốc gây ảo giác (như LSD) đối với công dân Mỹ trong một thí nghiệm tuyệt mật về việc điều chỉnh hành vi nhận thức.

Sự thật: Chương trình này có thật, mang tên MK-ULTRA.

CIA sử dụng các tình nguyện viên để tiến hành thí nghiệm – tiểu thuyết gia nổi tiếng Ken Kesey là một trong số đó. Sau chương trình, do tác dụng của dùng thuốc thiếu kiến thức, nhiều nạn nhân đã phải chịu di chứng suốt đời.

5. Mức lương ấn tượng của Đức Đạt Lai Lạt Ma

Lạt Ma là gián điệp

Âm mưu: Đức Đại Lai Lạt Ma là điệp viên CIA.

Sự thật: Có lẽ lý do khiến Đức Đại Lai Lạt Ma có thể cười tươi trong hầu hết những bức ảnh phần nào liên quan đến mức lương sáu con số mà chính phủ Hoa Kỳ chi trả cho ông trong những năm 1960.

Theo một số tài liệu tình báo, ông đã kiếm được 180.000 đô la, liên quan đến mức tài trợ của CIA cho Kháng chiến Tây Tạng với thỏa thuận 1,7 triệu đô la mỗi năm. Ý tưởng là để phá vỡ và cản trở các cơ sở hạ tầng của chính phủ Trung Quốc.

Đức Đạt Lai Lạt Ma được cho là có năng lực lựa chọn thân xác mà Ngài đầu thai. Ngày nay, hàng triệu người, thuộc nhiều tôn giáo, đều tin vào thuyết đầu thai.

6. John Lennon từng phải chịu sự giám sát của chính phủ

John Lennon bị theo dõi

Âm mưu: FBI từng theo dõi John Lennon, thành viên nhóm nhạc đình đám một thời The Beatles.

Sự thật: Giống như nhiều anh hùng phản văn hóa khác, Lennon bị coi là một mối đe dọa. Thật ra thì nhưng bài hát phản chiến của ông như Give Peace a Chance không hoàn toàn là nguyên nhân khiến cựu thành viên The Beatles bị chính quyền Nixon đưa vào tầm ngắm.

Năm 1971, FBI đưa John Lennon vào danh sách cần theo dõi. Cơ quan Di trú và Nhập tịch đã cố gắng trục xuất ông trong một năm sau đó.

Năm 1957, John Lennon và Paul McCartney gặp nhau tại một bữa tiệc ở Woolton, không xa nơi đó là mộ của Eleanor Rigby. Đây hẳn là một sự trùng hợp khá kỳ lạ.

7. Chính phủ đang theo dõi công dân

theo dõi công dân

Âm mưu: Với sự tiến bộ của khoa học công nghệ, chính phủ Mỹ đang sử dụng các nguồn lực thông tin khổng lồ để theo dõi công dân.

Sự thật: Năm 2016, các cơ quan chính phủ đã gửi 49.868 yêu cầu dữ liệu người dùng tới Facebook, 27.850 cho Google và 9.076 cho Apple. Thông tin được đưa ra bởi Electronic Frontier Foundation (EFF), một tổ chức phi lợi nhuận lớn, bảo vệ quyền tự do dân sự trong thế giới kỹ thuật số và tư vấn cho công chúng về các vấn đề riêng tư internet.

8. Trận đánh giả, chiến tranh thật

sự kiện Vịnh Bắc Bộ

Âm mưu: Sự kiện Vịnh Bắc Bộ ngày 2/8/1964 bị làm giả để kích động sự ủng hộ của Mỹ đối với Chiến tranh Việt Nam.

Sự thật: Vào thời điểm tin tức đến tai người Mỹ, sự thật xung quanh cuộc tấn công của quân Bắc Việt vào tàu Hải quân Mỹ Maddox đã dần mờ nhạt. Các tài liệu tình báo tiết lộ rằng, tàu khu trục Maddox đã cung cấp viện trợ chiến tranh cho quân Nam Việt trên một hòn đảo gần đó. Theo Viện Hải quân Mỹ, quân Bắc Việt sau đó đã có những phản ứng cụ thể.

Sự kiện này cũng mở ra quá trình tham chiến trực tiếp của quân đội Mỹ vào Việt Nam.

9. Các công ty thuốc lá biết rõ thuốc lá là nguyên nhân gây ung thư

âm mưu thuốc lá

Âm mưu: Các công ty thuốc lá đã giấu kín các bằng chứng cho thấy hút thuốc là nguyên nhân gây chết người trong nhiều thập kỷ,

Sự thật: Vào đầu những năm 1950, các nghiên cứu đã chỉ ra mối liên hệ không thể chối cãi giữa hút thuốc và ung thư phổi, nhưng mãi đến cuối những năm 1990, tập đoàn Philip Morris mới thừa nhận rằng hút thuốc có thể gây ung thư.

Lợi ích của việc bỏ hút thuốc là rất lớn: ăn ngon miệng hơn, răng miệng sạch sẽ hơn, và quan trọng nhất là, nguy cơ mắc bệnh liên quan đến thuốc lá sẽ giảm đáng kể.

10. Bằng chứng về người ngoài hành tinh ở Tây Nam Mỹ

âm mưu người ngoài hành tinh

Âm mưu: vật thể lạ ngoài Trái Đất (E.T.) đã bị chôn vùi trong sa mạc New Mexico.

Sự thật: Điều này có thật. Nhưng vật thể lạ ở đây là tên một tựa game video của công ty Atari. Tựa game E.T., the Extra-Terrestrial (Tạm dịch: vật thể lạ ngoài hành tinh) từng thất bại thảm hại đến nỗi công ty đã chôn những hộp băng không bán được của tựa game này trong một bãi rác mãi sa mạc xa xôi.

11. Canada cố gắng phát triển “gaydar”

máy phát hiện đồng tính

Âm mưu: Chính phủ Canada từng có tư tưởng cực đoan đến nỗi phát triển hẳn một cỗ máy phát hiện người đồng tính có tên “gaydar”.

Sự thật: Vào những năm 1960, chính phủ đã thuê một vị giáo sư đại học phát triển cỗ máy nhằm phát hiện ra những người đồng tính luyến ái. Cỗ máy này thực hiện đo độ giãn đồng tử khi bắt gặp các hình ảnh khiêu dâm đồng giới. Chính phủ Canada đã sử dụng nó để sa thải hơn 400 người khỏi lực lượng công chức, quân đội và cảnh sát hoàng gia.

May thay, đến nay đã có nhiều thay đổi.

12. Tổ chức Illuminati có liên kết với chính phủ Mỹ

thống trị thế giới

Âm mưu: Tổ chức bí mật âm mưuthống trị thế giới, The Illuminati, và Cơ qian An ninh Quốc gia Mỹ (NSA) có móc ngoặc với nhau.

Sự thật: Thực sự thì hai tổ chức này có “liên kết” nhưng là loại “liên kết ảo” thông qua đường dẫn ngầm trên website. Nếu bạn gõ ngược lại tên của tổ chức trên trình duyệt web thành Itanimulli.com, bạn sẽ được chuyển tiếp đến trang web của NSA.

Shirley.

Xem thêm :

Categories: Thuyết Âm Mưu

Atlantis: Lục địa bị quên lãng do sự trừng phạt của các vị Thần

Atlantis là vùng đất huyền thoại của nền văn minh tiên tiến và hùng mạnh, nhưng chúng ta đã thực sự biết gì về lục địa này? Atlantis đã được đề cập trong các cuộc đối thoại của Plato “Timaeus” và “Critias” mặc dù khảo cổ học và lịch sử chính thống đã từ chối hầu như mọi lý thuyết về vùng đất thần thoại này cũng như nền văn minh cổ đại từng có tại nơi đây.

Atlantis là chủ đề tranh luận trong hơn 2,500 năm giữa các nhà triết học, sử gia và khảo cổ học. Nó được mô tả như một vương quốc hùng mạnh và tiên tiến nhưng đã bị chìm trong một ngày một đêm để rồi không bao giờ được nhìn thấy hay nghe đến bất kể một lần nữa. Theo Plato, nó biến mất từ khoảng năm 9600 TCN.

Trong suốt nhiều thế kỷ, đã có rất nhiều sự quan tâm đến Atlantis và nhiều địa điểm trên toàn thế giới đã được đề xuất là nơi chính xác nơi vương quốc này chìm xuống. Một số học giả cho rằng Atlantis chính lại địa điểm tại đảo Santorini của Hy Lạp; bị phá hủy bởi một vụ phun trào núi lửa khoảng năm 1.600 TCN. Nhưng triết gia Hy Lạp Plato mô tả Atlantis về kích thước như Libya và Tiểu Á kết hợp với nhau, cho thấy nó nằm ở đâu đó trong Đại Tây Dương.

Một tấm bản đồ Atlentis ở giữa Đại Tây dương được vẽ năm 1969. (Ảnh: freemasonry.network)

Các nhà nghiên cứu và học giả trên toàn thế giới đã thảo luận về Atlantis. Ken Feder, giáo sư khảo cổ học đã gợi ý một số điều về Atlantis trong cuốn sách của ông “Gian lận, thần thoại và bí ẩn: Khoa học và khoa học giả trong Khảo cổ học”. Giáo sư Ken cho rằng những người Atlantis cổ đại là một nền văn hóa cực kỳ tinh vi nhưng ác độc đã cố gắng thống trị thế giới bằng vũ lực. Thực tế, Giáo sư Ken miêu tả nền văn minh của Atlantis như một nền văn minh độc ác và hướng tới chiến tranh, mục tiêu duy nhất của họ là chinh phục.

Người Athen cổ đại là người duy nhất dũng cảm và đủ mạnh để đối đầu với những người Atlantis. Dựa trên vũ khí mạnh nhất của họ là tinh thần mạnh mẽ và tinh khiết, những người Athen đã đánh bại đối thủ mạnh nhất của mình. Nhưng liệu có thể đây chỉ là một cách tuyên truyền cổ xưa? Tuyên truyền mà Plato đã chia sẻ qua những câu chuyện của ông về nền văn minh cổ đại này và cách họ đã bị những người Athen hùng mạnh đánh bại.

Theo Plato, Atlantis đã được bảo vệ bởi thần Poseidon. Đội quân vĩ đại của người Atlantis đã có thể chinh phục châu Phi. Theo một giả thuyết, “lục địa-đảo” này bị chìm trong một ngày đêm là do sự trừng phạt của thần thánh.

Sự biến mất của lục địa Atlantis được cho là sự trừng phạt của cá vị Thần. (Ảnh: alquimiadaalma.com.br)

Tại sao Plato lại tìm hiểu về Atlantis? Theo nhà triết học Hy Lạp này, những câu chuyện về Atlantis đã được ông của ông truyền cho ông, người đã nghe câu chuyện về Atlantis cổ đại từ một người dân Athen tên là Solon, người đã học về sự tồn tại của Atlantis từ một linh mục Ai Cập tuyên bố rằng Atlantis tồn tại chín nghìn năm trước đó.

Plato – triết gia thông thái nhất mọi thời đại người Hy Lạp. (Ảnh: LinkedIn)

Cuốn tiểu thuyết chưa hoành thành được xuất bản bởi Sir Francis Bacon vào năm 1962 giải thích rằng một nền văn minh rất tiên tiến tồn tại trên một hòn đảo không xác định. Cuốn tiểu thuyết có tên “New Atlantis” mô tả một hòn đảo huyền thoại được gọi là Bensalem, được phát hiện bởi các phi hành đoàn của một con tàu châu Âu sau khi họ đã bị lạc ở Thái Bình Dương tới một nơi nào đó trong vùng lân cận của Peru.

Ignatius Loyola Donnelly là một nhà chính trị, nhà khoa học và nhà văn nghiệp dư người Mỹ đã viết về Atlantis trong cuốn sách của ông mang tên “Atlantis: Thế giới Antediluvian”. Ông lập luận rằng những cải tiến công nghệ trong lĩnh vực luyện kim, nông nghiệp, tôn giáo và ngôn ngữ  phải có nguồn gốc ở Atlantis.

Nhiều tác giả khác đã đưa ra ý kiến ​​cá nhân của họ và hình thành lý thuyết của riêng họ về Atlantis. Trong những năm gần đây, hàng ngàn cuốn sách đã được viết về lục địa Atlantis, phim ảnh và phim truyền hình đã lấy cảm hứng từ công trình của Plato. Các nhà nghiên cứu và khảo cổ học đã không ngừng tìm kiếm nền văn minh Atlantis cổ đại. Nhiều chuyên gia về Atlantis đã tuyên bố tìm thấy nền văn minh cổ đại này từ Bolivia, Thổ Nhĩ Kỳ, Caribê, Tây Ban Nha, Nam Cực, Thụy Điển và các nước khác.

Vị trí của lục địa Atlantis theo mô tả của Plato. (Ảnh: Roachnow)

Theo Plato, vùng đất mà Atlantis được định vị bị chi phối bởi ngọn đồi lớn, nó được bao quanh bởi hai vành đai đồng tâm được liên kết với nhau bằng cầu và đường. Nước tách những vành đai ấy tạo thành những bến cảng lớn được nối với nhau bằng các kênh rạch sâu khoảng 45m và rộng hơn 450m. Vùng đất của Atlantis rất phì nhiêu, cho phép người dân ở đó sống hoàn toàn độc lập cho đến khi xảy ra thảm họa.

“Trải qua các trận động đất và lũ lụt dữ dội, trong một ngày và đêm bất hạnh, toàn bộ chủng tộc bị nuốt chửng bởi Trái Đất và đảo Atlantis biến mất vào sâu trong biển.” – Plato.

Plato đã nói Atlantis nằm ở đâu nhưng nó vẫn chưa được tìm thấy hoặc có lẽ các nhà khảo cổ và các nhà nghiên cứu đã không đủ nỗ lực tìm kiếm cho vùng đất thần thoại cổ đại này. Nhưng vẫn còn hy vọng bởi vì hơn 95% thế giới dưới nước vẫn chưa được khám phá, vậy nên rất có thể Atlantis vẫn có thể ở đâu đó dưới nước, ở một nơi mà chúng ta vẫn chưa tìm kiếm. Mặc dù khảo cổ học và địa chất hiện đại tin rằng vùng đất thần thoại này chưa bao giờ tồn tại, nhiều nhà thám hiểm hy vọng rằng một ngày nào đó, họ sẽ khám phá lục địa bị Atlantis bị thất lạc.

Các địa điểm được cho là nơi lục địa Atlantis chìm xuống được đánh dấu bằng một điểm màu vàng trên Bản đồ Thế giới. (Ảnh: Wikipedia)

Một trong những khám phá đáng kinh ngạc nhất đã được thực hiện gần đây có liên quan tới Atlantis là phát hiện của một kim loại được mô tả trong các tác phẩm của Plato. Các thợ lặn từ Bờ biển Ý, Guardia di Finanza và Superintendencia del Mar đã khám phá ra kim loại huyền thoại của Atlantis là “Orichalcum”. Orichalcum là kim loại có giá trị thứ hai trong thành phố thần thoại và chiếm ưu thế ở nhiều vùng của Atlantis.

Cho dù khám phá này có có nói lên điều gì về Atlantis hay không thì nơi đây vẫn là một địa danh bí ẩn, những người tin vào sự tồn tại của Atlantis luôn chào đón tin tức mới, những người hoài nghi thì bác bỏ phát hiện đó chỉ trong nháy mắt. Chúng ta hãy cùng chờ đợi những phát hiện mới của các nhà nghiên cứu trong tương lai để hiểu rõ hơn sự thực về lục địa Atlantis huyền bí này.

Xem thêm:

Categories: Chuyện Lạ

Khuôn mặt tái hiện của một ‘phù thủy’ sống cách đây hơn 300 năm

Lilias Adie được quy kết là một phù thủy xứ Torryburn, Fife, Scotland vào cuối thế kỷ 18 (Ảnh minh họa)

Khuôn mặt của một “phù thủy” người Scotland hiện lên chân thực nhờ bàng nghệ phục dựng 300 năm sau khi chết.

Theo Iflscience, Lilias Adie là một phụ nữ sống ở Torryburn, Fife, Scotland vào cuối thế kỷ 18. Bà bị buộc tội sử dụng phép thuật và mối liên hệ với quỷ dữ. Vào năm 1704, bà qua đời trong phòng giam một cách bí ẩn (một số nói là tự tử) trong khi chờ đợi bị hỏa thiêu.

Để chào đón Halloween, chương trình Time Travels của đài BBC Radio Scotland đã quyết định “đưa bà trở lại từ bài chết” thông qua việc hợp tác với một nhà khoa học tại Trung tâm Giải phẫu Nhân tạo và Đại học Dundee để tái tạo khuôn mặt Adie bằng cách sử dụng hình ảnh của hộp sọ và kỹ thuật phục dựng 3D hiện đại.

Hình ảnh hộp sọ đang được lưu trữ tại Thư viện Quốc gia Scotland (Ảnh: Iflscience)

Bức họa tái hiện khiến cho nhiều người cảm thấy kinh ngạc. Adie trông không có vẻ xấu xa hay khó gần. Thay vào đó, bà trông hiền từ với khuôn mặt của một người đã chịu nhiều truân chuyên trong cuộc sống.

Người dẫn chương trình Susan Morrison nói: “Đây là bộ mặt của một người phụ nữ mà bạn bà thể dễ dàng trò chuyện”.

Khuôn mặt được tái hiện của “phù thủy” Lilias Adie (Ảnh: Iflscience)

Adie được tiết lộ là một phụ nữ lớn tuổi, yếu đuối với thị lực không tốt. Nhưng bất chấp những hạn chế về mặt thể chất, bà dường như có một tinh thần và tình cảm mạnh mẽ.

Những di vật của bà được phát hiện dưới một tấm đá mà theo các sử gia là để để ngăn linh hồn bà không trở về từ cõi chết và ám ảnh người dân địa phương. Vào thế kỷ 19, các nhà khảo bà học đã khai quật ngôi mộ để nghiên cứu và trưng bày những tàn tích. Những tàn tích này đã bị mất tích trong thế kỷ 20, nhưng không phải trước khi hình ảnh của hộp sọ được lấy và lưu trữ trong Thư viện Quốc gia Scotland.

“Không có điều gì trên khuôn mặt Lilias gợi ý cho tôi rằng bà là một người nhẫn tâm và độc ác. Nhiều khả năng bà là nạn nhân của bối cảnh nghi kị khủng khiếp lúc đó.”, Tiến sĩ Christopher Rynn, chuyên gia pháp y tham gia nghiên cứu chia sẻ.

Xem thêm:

Categories: Chuyện Lạ

Những đứa trẻ da xanh làng Woolpit: Truyền thuyết thế kỷ 12 về những vị khách đến từ thế giới khác

Một tấm biển làng ở Woolpit, miêu tả hai đứa trẻ trong truyền thuyết vào thế kỷ thứ 12 (Wikimedia Commons)

Truyền thuyết về những đứa trẻ của làng Woolpit là một câu chuyện bắt nguồn từ thế kỷ 12, kể về hai đứa trẻ xuất hiện ở rìa một cánh đồng làng Woolpit của nước Anh. Cả bé trai và bé gái được kể là có làn da màu xanh lá và nói một ngôn ngữ lạ.

Hai đứa trẻ lâm bệnh và bé trai qua đời, nhưng bé gái bình phục và học được tiếng Anh trong những năm sau đó. Về sau bé gái kể lại câu chuyện về nguồn gốc của cả hai, nói rằng chúng đến từ một nơi gọi là Vùng Đất của Thánh Martin, tồn tại trong môi trường ánh sáng chạng vạng kéo dài vô tận, và ở đó mọi người sống dưới mặt đất.

Trong khi một số người xem đây là một câu chuyện cổ tích mô tả cuộc gặp gỡ tưởng tượng với cư dân của một thế giới khác nằm dưới chân chúng ta, hay thậm chí là thế giới ngoài Trái Đất, thì số khác lại chấp nhận câu chuyện là có thật, nhưng là bản mô tả bị sửa đổi đôi chút của một sự kiện lịch sử đáng được nghiên cứu thêm.


Trong khi một số người xem đây là một câu chuyện cổ tích mô tả cuộc gặp gỡ tưởng tượng với cư dân của một thế giới khác nằm dưới chân chúng ta, hay thậm chí là thế giới ngoài Trái Đất, thì số khác lại chấp nhận câu chuyện là có thật, nhưng là bản mô tả bị sửa đổi đôi chút của một sự kiện lịch sử đáng được nghiên cứu thêm.

Câu chuyện bắt đầu từ ngôi làng Woolpit nằm ở Suffolk, East Anglia (Anh quốc). Vào thời Trung Cổ, ngôi làng nằm trong khu vực có nền nông nghiệp phát triển và có dân cư đông đúc nhất của miền quê nước Anh. Woolpit thuộc về tu viện quyền lực và giàu có của thị trấn Bury St. Edmunds.

Tàn tích của Tu Viện của thị trấn Bury St. Edmunds
Tàn tích của Tu Viện của thị trấn Bury St. Edmunds (Wikipedia)

Câu chuyện được hai nhà viết sử thế kỷ 12 ghi chép lại. Một người tên là Ralph vùng Coggestall (mất năm 1228), trưởng tu viện Cistercian thuộc thị trấn Coggeshall (42km về hướng Nam của làng Woolpit), ông đã ghi chép lại câu chuyện về những đứa trẻ da xanh của mình trong cuốn“Chronicon Anglicanum” (“Biên niên sử nước Anh”). Người kia là William vùng Newburgh (1136–1198), một nhà sử học và giáo sĩ Cơ đốc giáo người Anh tại tu viện Augustinian Newburgh nằm xa về phía bắc Yorkshire, ông gộp câu chuyện về những đứa trẻ da xanh vào tác phẩm chính của mình là “Historia rerum Anglicarum” (“Lịch sử các vụ việc nước Anh”).

Các sự kiện trên được cho là diễn ra dưới thời trị vì của vua Stephen (1135-1154) hoặc vua Henry II (1154-1189), tùy thuộc vào phiên bản mà bạn đọc.

Câu chuyện về những đứa trẻ da xanh

Theo truyền thuyết về những đứa trẻ da xanh, thì một bé trai và em gái được những người thợ gặt làm việc trên cánh đồng vào mùa thu hoạch phát hiện ở gần vài cái mương được đào để bẫy sói, tại làng Woolpit. Da của hai đứa trẻ có màu xanh lá, với quần áo được làm bằng các chất liệu lạ, và lời nói của chúng thì những người thợ gặt không thể hiểu được. Cả hai được đưa về làng, nơi mà chúng cuối cùng được một địa chủ tên là Sir Richard de Caine ở Wikes thu nhận về.

Hai đứa trẻ không ăn bất cứ thức ăn nào được đem đến cho chúng, nhưng trông có vẻ đói. Cuối cùng dân làng đem đến những hạt đậu sống mới được thu hoạch thì cả hai ăn ngấu nghiến. Cả hai chỉ sống bằng những hạt đậu trong nhiều tháng trời cho đến khi chúng bắt đầu thích ăn bánh mì.


Cả hai chỉ sống bằng những hạt đậu trong nhiều tháng trời cho đến khi chúng bắt đầu thích ăn bánh mì.

Bé trai bị ốm và sớm đầu hàng cơn bệnh rồi qua đời, còn bé gái vẫn giữ được sức khỏe tốt và cuối cùng mất đi làn da màu xanh. Cô bé học nói tiếng Anh và sau đó cưới một người đàn ông ở King’s Lynn, một quận láng giềng với Norfolk. Theo một vài truyền thuyết, cô gái lấy tên là Agnes Barre và người đàn ông mà cô cưới là một sứ giả của vua Henry II, mặc dù chi tiết này chưa được xác nhận. Sau khi học nói Tiếng Anh, cô đã kể lại cho mọi người câu chuyện về nguồn gốc của hai anh em mình.

Xứ sở kỳ lạ dưới lòng đất

Cô gái thuật lại rằng cô và anh trai đến từ “Vùng Đất của Thánh Martin”, nơi không có mặt trời nhưng có [một loại] ánh sáng chạng vạng vô tận, và tất cả cư dân nơi đây đều có làn da xanh giống cả hai. Cô đã miêu tả một vùng đất “sáng chói” khác mà có thể được nhìn thấy ở phía bên kia một con sông.

Cô và anh trai đang trông nom đàn gia súc của cha thì cả hai tình cờ gặp một cái hang. Họ đi vào hang và lang thang trong bóng tối một thời gian dài cho đến lúc ra khỏi phía bên kia, đến nơi tràn ngập ánh sáng mặt trời khiến họ sửng sốt. Sau đó họ được những người thợ gặt phát hiện.


Cô và anh trai đang trông nom đàn gia súc của cha thì cả hai tình cờ gặp một cái hang. Họ đi vào hang và lang thang trong bóng tối một thời gian dài cho đến lúc ra khỏi phía bên kia

Những lời giải thích

Qua nhiều thế kỷ, nhiều giả thuyết đã được đưa ra nhằm giải thích câu chuyện lạ thường này. Về làn da màu xanh của hai đứa trẻ, có một đề xuất rằng hai đứa trẻ bị thiếu máu nhược sắc, tên gốc là bệnh xanh lướt (chlorosis – có nguồn gốc từ từ “chloris” trong tiếng Hy Lạp, có nghĩa là màu vàng xanh). Tình trạng này là do chế độ ăn nghèo nàn gây ảnh hưởng đến màu sắc của hồng cầu và dẫn đến sắc thái xanh tối nổi bật của làn da. Một chi tiết ủng hộ giả thuyết này là cô gái được miêu tả có làn da trở lại màu sắc bình thường sau khi chấp nhận chế độ ăn lành mạnh.


Tình trạng này là do chế độ ăn nghèo nàn gây ảnh hưởng đến màu sắc của hồng cầu và dẫn đến sắc thái xanh tối nổi bật của làn da.

Liên quan đến những miêu tả về vùng đất kỳ lạ, Paul Harris đưa ra giả thuyết trong Nghiên cứu Fortean 4 (1998) rằng đây là những trẻ mồ côi người Flanders, có thể từ một nơi gần đó gọi là Fornham St. Martin, nơi ngăn cách với Woolpit bằng Sông Lark.

Nhiều dân nhập cư Flanders đã đến đây trong thế kỷ 12 nhưng bị đàn áp dưới triều vua Henry II. Năm 1173, nhiều người đã bị sát hại gần Bury St. Edmunds. Nếu họ chạy trốn vào Rừng Thetford, thì nơi đây có lẽ giống cảnh chạng vạng vô tận đối với những đứa trẻ hoảng sợ. Chúng có lẽ đã đi vào một trong số nhiều đường hầm mỏ dưới lòng đất trong khu vực mà cuối cùng dẫn chúng đến Woolpit. Mặc trang phục khác lạ của người Flanders và nói một ngôn ngữ khác, những đứa trẻ đã đem đến một bộ dạng rất kỳ lạ đối với dân làng Woolpit.


Mặc trang phục khác lạ của người Flanders và nói một ngôn ngữ khác, những đứa trẻ đã đem đến một bộ dạng rất kỳ lạ đối với dân làng Woolpit.

Một nhà bình luận khác đề ra giả thuyết về nguồn gốc từ thế giới khác của những đứa trẻ. Robert Burton đề xuất trong cuốn sách năm 1621 “The Anatomy of Melancholy” rằng những đứa trẻ da xanh “rớt xuống từ Thiên Đàng”, khiến người khác suy đoán rằng chúng có thể là người ngoài hành tinh.

Trong một bài báo xuất bản năm 1996 trên tạp chí Analog, phi hành gia Duncan Lunan cũng đề xuất giả thuyết rằng những đứa trẻ tình cờ được chuyển tới Woolpit từ hành tinh quê hương của chúng. Hành tinh này có thể bị mắc trong quỹ đạo đồng bộ quay xung quanh mặt trời của mình, tạo ra hoàn cảnh thích hợp cho sự sống chỉ tồn tại ở một vùng ánh sáng chạng vạng hẹp giữa một bề mặt có nhiệt độ rất cao, và mặt kia chìm trong bóng tối băng giá.

Câu chuyện về những đứa trẻ da xanh đã tồn tại hơn tám thế kỷ kể từ khi những truyền thuyết đầu tiên được ghi chép lại. Mặc dù sự thật đằng sau câu truyện có lẽ sẽ mãi là bí ẩn, nó đã truyền cảm hứng cho nhiều bài thơ, tiểu thuyết, vở opera, và kịch trên toàn thế giới, đồng thời thu hút được trí tưởng tượng của nhiều trí óc tò mò.

Theo Ancient Origins.

Xem thêm:

Categories: Chuyện Lạ

Tìm thấy thông điệp trong chai cổ nhất thế giới bên bờ biển Australia

Một gia đình người Australia bất ngờ tìm thấy thông điệp trong chai cổ lâu đời nhất thế giới sau gần 132 năm kể từ khi được một thủy thủ người Đức ném xuống Ấn Độ Dương.

Theo Iflscience, chiếc chai được phát hiện khi nhà Illman đi dạo dọc bãi biển ở phía bắc đảo Wedge, Tây Australia hôm 21/1.

Ông Kym Illman kể rằng, vợ ông thấy nhiều rác nên muốn dọn dẹp và đã tìm thấy một cái chai cổ. Bà nghĩ rằng có lẽ sẽ rất hợp để trang trí giá sách nên đã đưa cái chai cho bạn gái của con trai với suy nghĩ rằng bên trong là một điếu thuốc lá cuộn.

Ông bà Illman nhặt được cái chai trên một bãi biển xa xôi ở Tây Australia (Ảnh: BBC)

“Tonya cố lấy cái dây buộc quanh cuộn giấy ra nhưng sợ đứt. Vì thế chúng tôi mang nó về nhà, đặt trong lò nướng khoảng 5 phút để hong khô. Sau đó, chúng tôi mở cuộn giấy ra và nhìn thấy có chữ bên trên, đề nghị người tìm thấy cái chai liên lạc với lãnh sự quán Đức”, ông Kym nói.

Sau đó, họ đọc được dòng chữ viết tay mờ ghi ngày 12/6/1886 và tên con tàu Paula. Ban đầu, gia đình Illman cho rằng ngày tháng trên tờ giấy “quá xa”, có vẻ không thật, nhưng vẫn quyết định đưa nó tới cho các chuyên gia ở Bảo tàng Tây Australia.

Chiếc chai 132 năm tuổi chứa thông điệp hàng hải bên trong (Ảnh: Iflscience)

Tiến sĩ Ross Anderson, trợ lý giám định hàng hải của bảo tàng, xác thực thông tin trong cái chai sau khi trao đổi với các đồng nghiệp Đức và Hà Lan.

“Thật không thể tin nổi. Họ đã tìm dữ liệu lưu trữ ở Đức về Paula trên Tạp chí khí tượng thủy văn và phát hiện thuyền trưởng ghi chép rằng đã ném đi một cái chai hôm 12/6/1886. Ngày và tọa độ tương ứng với thông điệp viết bên trong”, ông Anderson cho hay.

Thông điệp trong chai (trái) và dữ liệu trên tạp chí khí tượng thủy văn (phải)

Chiếc chai cổ bị vứt xuống vùng biển phía đông nam Ấn Độ Dương khi con tàu đi từ Cardiff ở Wales tới Indonesia và có lẽ đã trôi giạt tới bờ biển Australia trong vòng 12 tháng, và bị vùi dưới cát trong nhiều năm. Hàng nghìn cái chai đã được ném xuống biển trong suốt cuộc thử nghiệm các tuyến vận tải biển của Đài quan sát Hải quân Đức. Cái chai cuối cùng có thông điệp được tìm thấy ở Đan Mạch năm 1934.

Thông điệp lâu đời nhất trong chiếc chai cổ mà tổ chức kỷ lục thế giới Guinness từng ghi nhận là 108 năm. Chiếc chai do một nhà sinh học biển thuộc Hiệp hội sinh học biển Plymouth, Anh quốc thả xuống biển năm 1906 và được một bưu tá đã nghỉ hưu – ông Marianne Winkler cùng vợ là bà Horst tìm thấy trong chuyến du lịch của họ tới đảo Amrum, Đức hồi năm 2016.

Xem thêm:

Categories: Bí ẩn Lịch Sử

Phát hiện những bộ xương khổng lồ ở vùng núi Borjomi

Phát hiện những bộ xương khổng lồ ở vùng núi Borjomi
Ảnh: ĐKN

Channel One, một hãng truyền thông chủ yếu ở Nga, đã có một bản tin dài đưa tin về việc một nhóm các nhà nghiên cứu đã tìm thấy những mảnh xương khổng lồ ở thị trấn Borjomi, Georgia (quốc gia giáp Nga ở phía Nam). Vị học giả tường thuật về bộ xương và tuyên bố rằng chúng thuộc về một người khổng lồ là một nhà khảo cổ học nổi tiếng!

Phát hiện những bộ xương khổng lồ ở vùng núi Borjomi
Thị trấn Borjomi tại Georgie (tại vùng Biển Đen, giáp Nga về phía Bắc), nơi phát hiện những mẩu xương khổng lồ kỳ lạ. Ảnh: Google Maps

Dưới đây là bản dịch báo cáo:

Thung lũng người khổng lồ tại hẻm núi Borjomi:

Các nhà khoa học đã phát hiện một khu định cư được cho là của những sinh vật huyền thoại, bí ẩn trong hẻm núi Borjomi.

Đây là một phát hiện chấn động. Ở vùng núi tại Hẻm Borjomi, họ đã tìm thấy các hài cốt của những sinh vật bí ẩn mà vẫn thường được lưu truyền hàng thế kỷ trong các truyền thuyết của người dân địa phương. Hóa ra; những câu chuyện về người khổng lồ là có thực. Quả là một bí ẩn đã bị che giấu bấy lâu nay trên vùng cao nguyên!

Những mảnh xương này thuộc về những con người … ngoại cỡ. Họ sống 25 nghìn năm trước trong vùng núi của Hẻm Borjomi. Các nhà khoa học cho biết tầm cao của những người khổng lồ này có thể từ 2,5 đến 3 mét. TS Abesalom Vekua tin rằng phát hiện này có thể là một sự chấn động, vì trong cộng đồng khoa học từ lâu đã tồn tại tranh luận về việc liệu có những người khổng lồ sinh sống ở một số khu vực nhất định ở Á-Âu cách đây hàng ngàn năm hay không.

Phát hiện những bộ xương khổng lồ ở vùng núi Borjomi
TS Abesalom Vekua cho xem các mẩu xương tại hẻm núi Borjomi. Ảnh: Channel One

TS Abesalom Vekua, Viện sĩ Viện hàn lâm Khoa học Georgia cho hay:

“Hãy chú ý đến phần xương thắt lưng, nó khác với xương của người hiện đại về kích thước và độ dày. Hộp sọ cũng lớn hơn rất nhiều. Những người này đã sinh sống và phát triển một cách biệt lập với phần còn lại của nền văn minh, họ rất khác biệt so với chúng ta về đặc điểm hình thái và sự sinh trưởng. Trong thư tịch họ được gọi là những người khổng lồ, nhưng từ trước đến nay vẫn chưa có bằng chứng nào ủng hộ giả thuyết này. Vì vậy, với phát hiện mới này, chúng ta đang đối mặt với một sự thật vô cùng chấn kinh. Nhưng vẫn phải xác nhận một cách kỹ càng”.

 Ảnh: museum.geGS TS Abesalom Vekua là nhà nghiên cứu khoa học hàng đầu tại Bảo tàng Quốc gia Georgia. Ông nổi tiếng vì tìm thấy hóa thạch người có niên đại 1,8 triệu năm tuổi tại Dmanisi, Georgia. Ông đã công bố nhiều báo cáo về những phát hiện của mình ở Georgia, và những phát hiện này đã được công nhận rộng rãi.

Truyền thuyết về những người khổng lồ trên vùng cao nguyên của hẻm núi Borjomi đã được truyền thừa từ thế hệ này sang thế hệ khác. Những người chăn cừu và thợ săn địa phương cho biết tổ tiên của họ từng kể về những người khổng lồ siêu khỏe sống ở những ngọn núi này vào thời xa xưa.

Phát hiện những bộ xương khổng lồ ở vùng núi Borjomi
Ảnh: Channel One

Moorman Shirakadze, nhân viên lâm nghiệp cho hay:

“Ông tôi đã kể cho tôi nghe về những sinh vật kỳ lạ từng tung hoành tại mảnh đất này. Bản thân ông cũng từng được nghe ai đó kể về điều này. Ở vùng núi, bạn sẽ tìm thấy những khu vực có điều kiện khắc nghiệt và vùng thiên nhiên hoang sơ, và đây có lẽ là lý do tại sao chỉ có “những siêu nhân” cực khỏe theo nghĩa đen mới có thể tồn tại vào thời kỳ đó”.

Một nhóm gồm 15 người, bao gồm các nhà khảo cổ học, nhà cổ sinh vật học và nhà sử học, đã rời khỏi nhà nghỉ trong rừng và tiến hành một chuyến thám hiểm lên những vùng núi. Họ còn phải đi bao xa để đến được “thung lũng của những người khổng lồ”, không ai có thể lường trước được. Điều chờ đợi họ phía trước là những con suối trên những vùng núi dốc, băng giá và những kẻ săn mồi từ rừng sâu. Thành viên nữ duy nhất của đoàn thám hiểm là Lela Ninua, một nhà báo từ chương trình “Chào buổi sáng” trên kênh truyền hình “Rustavi-2” của Georgia. Cô đã hồi tưởng lại cái tuần cô tách bản thân khỏi nền văn minh và tiến vào một trò chơi sinh tồn khắc nghiệt.

“Chúng tôi phải tự tìm kiếm thức ăn; chúng tôi không thể mang theo tất cả những gì chúng tôi cần. Về cơ bản chúng tôi phải câu cá ở suối trên núi để lấy thức ăn. Thu thập nấm rừng. Vào ban đêm, ai đó trong nhóm sẽ đứng trực, để gấu và chó sói không thể lẻn vào và tấn công chúng tôi. Một lần tôi đã ngã về phía sau và đi lạc. Bạn không thể tưởng tượng được tôi đã khóc nhiều như thế nào. Tôi đã tìm thấy thức ăn sau nửa giờ đồng hồ, nhưng đối với tôi khoảng thời gian đó dường như dài vô tận”.

Phát hiện những bộ xương khổng lồ ở vùng núi Borjomi
Những mẩu xương của một người có kích thước ngoại cỡ 2,5 – 3 m. Ảnh: Channel One
Phát hiện những bộ xương khổng lồ ở vùng núi Borjomi
Ảnh: rephaim23 – WordPress.com

Sự kiên trì của các thành viên đoàn thám hiểm đã được tưởng thưởng xứng đáng. Họ đã tìm thấy nó – nơi ở của những người khổng lồ. Khu định cư của những sinh vật kỳ lạ có những con đường rải đá và những hầm mộ đổ nát. Tại khu vực này trên bề mặt có rải rác những mẩu xương. Những mẩu xương được đưa lên bề mặt bởi những con suối trên núi, vốn thường chảy tràn vào mùa xuân khi tuyết tan.

TS Otar Baghaturia chia sẻ:

“Những gì chúng tôi tìm thấy vượt quá mọi sự mong đợi. Thật không may, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu sơ cấp nên chỉ có thể mang theo mình những hiện vật bề mặt. Những gì có thể phát hiện trong những tảng đá núi lửa hóa thạch này sẽ phải được phân tích khám nghiệm trong một chuyến thám hiểm mới về sau. Có rất nhiều điều thú vị ở đây”.

Hẻm núi không có người ở tại Borjomi này giờ đây có thể được biến thành một thiên đường cho các nhà khoa học. HIện giờ người ta đã biết rằng đây là thung lũng của những người khổng lồ – chứ không phải là một truyền thuyết thuần túy. Chuyến thám hiểm tiếp theo, với quy mô lớn hơn và được trang bị tốt hơn, sẽ tiếp cận khu vực này trong mùa hè tới. Trong khi đó, các nhà khoa học Georgia cùng các đồng nghiệp nước ngoài sẽ tiến hành nghiên cứu chi tiết về các chất liệu đặc thù mà họ đã thu thập được.

Phát hiện này có ý nghĩa đặc biệt gì?

Trên thực tế, không chỉ trong trường hợp này, mà đã từng ghi nhận được rất nhiều, rất nhiều các cuộc khai quật đào được các bộ xương người khổng lồ, trên toàn cầu. Tuy nhiên chúng thường bị giấu nhẹm, không để công chúng biết.

Lấy ví dụ, ở Mỹ, người ta đã đào được rất nhiều bộ xương người khổng lồ, các phát hiện này đã được công bố trên các tờ báo uy tín như New York Times.

Một bài báo loan tin về bộ xương người khổng lồ phát hiện tại bang Wisconsin, Mỹ. Ảnh: New York Times

Nhưng ngày nay, chúng ta không thể tìm thấy một bộ xương khổng lồ nào trong viện bảo tàng, chúng đã bị cố tình che giấu , bởi sự tồn tại của chúng là thách thức rất lớn với thuyết tiến hóa sinh vật.

Thuyết tiến hóa cho rằng con người là do khỉ tiến hóa thành, trong khi những bộ xương người khổng lồ lại có niên đại rất xa xưa và việc tồn tại một giống người to lớn ngoại cỡ với niên đại cổ xưa như vậy hoàn toàn không ăn nhập gì với mốc thời gian tiến hóa của người. Do đó, những phát hiện dạng này có thể được coi là những cái “gót chân Asin” không thể giải thích được đối với các nhà tiến hóa.

Phát hiện những bộ xương khổng lồ ở vùng núi Borjomi
Một trong những Human Evolution Timeline Interactive của thuyết tiến hóa (Ảnh: humanorigins.si.edu)

Xem thêm:

Categories: Bí ẩn Lịch Sử

Bí ẩn tâm linh: Nghiên cứu cho thấy có những người có thể phát sáng, thậm chí phát ánh hào quang rực rỡ

Khi nghe nói về phát quang sinh học, bạn hình dung đó có thể là các sinh vật sống ở tầng sâu dưới nước như loài cá sử dụng hàng triệu vi khuẩn để phát sáng, nhằm chiếu sáng để thu hút con mồi. Còn con người thì sao?

Rất nhiều sinh vật có thể phát sáng, còn con người thì sao?

Theo một nghiên cứu do các nhà khoa học Nhật Bản tiến hành năm 2009, con người cũng phát ra một ánh sáng nhìn thấy được (phát quang sinh học), nhưng rất yếu để nhìn thấy trực tiếp bằng mắt thường. Một số trường hợp đặc biệt thì ánh sáng mạnh hơn, có phát ra các màu sắc đẹp hơn.

Cơ thể con người phát sáng“,  là nhận định của nhóm nghiên cứu Đại học Northeastern khi công bố phát hiện của nhóm trên một tạp chí được nhà sách Science xuất bản. “Cơ thể phát ra ánh sáng với cường độ nhỏ hơn 1.000 lần so với cường độ ánh sáng mà mắt ta cảm nhận được”.

Nhóm nghiên cứu đã theo dõi 5 nam giới khi sử dụng một máy ảnh siêu nhạy cảm trong một căn phòng sáng lờ mờ, kéo dài 20 phút trong mỗi ba tiếng đồng hồ và trong ba ngày (theo dõi cả khi họ ngủ).

Họ phát hiện những người tham gia phát ra một “ánh sáng” vào ban ngày, đạt đỉnh điểm vào buổi chiều và phát sáng tập trung chủ yếu ở trán, cổ và má.

Đây không phải là bức xạ hồng ngoại do nhiệt, trái với những gì mà hình ảnh có thể gợi lên. Phát sáng này đến từ các photon (hạt ánh sáng) chứ không phải là nhiệt.

Phát quang sinh học vào những thời điểm khác nhau trong ngày. C: 10h10. D: 13h10  E: 16h10. F: 19h10.  G: 22h10. H: Những thay đổi về cường độ của các photon đối với 5 người tham gia thời gian. I: hình ảnh nhiệt của người tham gia. (PLoS ONE)

 Tại sao những người tu luyện thiền định lâu năm có thể phát ánh hào quang?

Hào quang xung quanh một người tu luyện Pháp Luân Công

Trong các nghiên cứu của môn vật lý cao năng lượng, các nhà khoa học có nhìn nhận rằng năng lượng chính là các hạt vi tế hơn như neutron, nguyên tử, tử ngoại, siêu âm, hạ âm, tia phóng xạ gamma…

Khi kiểm định khoa học, người ta phát hiện một số người có sở hữu nguồn năng lượng đặc biệt này, nên không những họ có thể phát sáng mà thậm chí còn tự phát điện hay phát lửa…

Một số trắc nghiệm cũng được tiến hành với những người luyện khí công thì thấy mật độ những vật chất này khi đo cao hơn người bình thường rất nhiều lần. Và ánh sáng họ phát ra cũng mạnh mẽ hơn, nhiều màu sắc thay đổi và rất đẹp.

Và khi trắc nghiệm đo bằng các thiết bị dùng để đo hồng ngoại, tử ngoại, siêu âm, hạ âm, điện, từ, tia phóng xạ gamma, nguyên tử, neutron….thì những máy đo này đã phát hiện được rằng nhiều khí công sư, người tu đạo, người thực hành thiền định lâu năm… có phát ra các vật chất này, các vật chất cùng ánh sáng họ phát ra rất phong phú.

Ở người bình thường không luyện khí công hay không thực hành tu tập thiền định cũng có thể có, nhưng ánh sáng nhỏ và yếu hơn nhiều.

Nhóm nghiên cứu hy vọng các thiết bị y tế trong tương lai sẽ cho phép chúng ta quét bề mặt của cơ thể con người, để đo độ sáng nhằm theo dõi  thay đổi chuyển hóa của người đó.

Nếu bạn có thể nhìn thấy ánh sáng phát ra từ cơ thể, bạn sẽ biết toàn bộ tình trạng sức khỏe của người đó“, Masaki Kobayashi, thành viên của nhóm tuyên bố với Scientist News.

Lần tới khi ai đó nói có người phát sáng hay thậm chí tỏa hào quang, bạn sẽ biết đó là sự thật chứ không phải điều huyễn hoặc nữa. 

Xem thêm:

Categories: Chuyện Lạ

Chàng trai nhìn thấy sổ thọ mệnh dưới âm gian

Chàng trai nhìn thấy sổ thọ mệnh dưới âm gian

Tương truyền, dưới âm gian có một thứ gọi là “sổ sinh tử”, tức sổ thọ mệnh. Khi dương thọ của ai đó kết thúc, Diêm Vương sẽ sai quỷ Hắc Bạch Vô Thường hoặc quỷ đầu trâu mặt ngựa đưa hồn phách người chết xuống địa phủ để tiếp nhận thẩm phán.

Một cư sỹ tên là Lý Tử Khoan từng được đưa đến âm gian, tại đây anh vô tình thấy cuốn sổ sinh tử ghi chép chi tiết thọ mệnh của con người. Anh đã viết lại những trải nghiệm kỳ lạ của mình và gọi đó là “Lược thuật nhân duyên học Phật và câu chuyện hộ giáo của tôi”.

Câu chuyện ấy đại thể như sau:

Tôi sinh ra trong gia đình Nho học, từ các cụ cao tằng tổ cho đến cha tôi đều theo nghiệp Nho gia. Hầu hết các thư tịch lưu giữ trong nhà đều là kinh thư, sử sách, tử tập, thí thiếp và thời văn, nhưng không có một cuốn kinh Phật nào. Tuy nhiên, trong điện thờ ở chính đường lại có tượng Quán Thế Âm Bồ Tát.

Thuở nhỏ khi còn học ở trường tư thục, tôi rất thích đọc các loại sách như “Âm chất văn” (sách về tốt – xấu, họa – phúc Thiên định), “Khuyến thiện thư” (sách khuyên hành thiện tích đức) và các loại tiểu thuyết kinh điển, đặc biệt là cuốn “Tây du ký”. Tôi cũng thường tụng niệm câu châm ngôn sáu chữ “Án ma ni bát di hồng” mà pháp sư Huyền Trang thường niệm, bởi tôi cho rằng câu chú ngữ ấy có thể hàng phục yêu ma quỷ quái. Mỗi khi Đường Huyền Trang gặp nạn, Quán Thế Âm Bồ Tát đều lập tức đến cứu hộ, do đó khi trong lòng thấy kinh sợ, tôi đều niệm Thánh hiệu của Bồ Tát để nỗi sợ hãi tiêu tan.

Một hôm trên đường đến thăm một người cô ở Hà Tây, lúc qua cầu tôi đã bất cẩn ngã xuống sông, may mắn có người cứu vớt nên tôi mới tránh khỏi chết đuối. Tuy nhiên khi trở về nhà tôi lại đổ bệnh, sốt cao nhiều ngày liền, dẫu uống bao nhiêu thuốc cũng không thuyên giảm. Cha mẹ tôi buồn rầu lo lắng, bèn mời thầy phù thủy về làm lễ cúng tế, tục gọi là chiêu hồn.

Tôi nằm mê man trên giường, trong lúc hôn mê tôi thấy có mấy người phu khuân vác vừa đen vừa xấu, khiêng kiệu tre đến và kéo tôi vào trong kiệu, rồi họ chạy như bay không biết về phương nào. Tôi niệm Thánh hiệu của Quán Thế Âm Bồ Tát, quả nhiên thấy Bồ Tát hiện thân đi theo bảo hộ. Chiếc kiệu được đưa đến trước một cung điện, rồi lách qua cửa bên mà vào. Khi qua mấy hành lang quanh co tôi nhìn thấy bên trong có rất nhiều người đang chịu cực hình như dao cưa, vạc dầu, lửa thiêu, đánh gậy… chỉ cần liếc nhìn qua là đã thấy kinh sợ. Cuối cùng cũng đến hậu cung, tại đó có một vị vương gia đang ngồi trên bảo tọa, diện mạo nghiêm trang, bên cạnh là viên thủ thư quản lý sổ sách. Tôi được lệnh quỳ dưới điện.

Vương gia hỏi thủ thư rằng: “Người này đã hết thọ mệnh chưa?”. Viên thủ thư mở sổ sách ra tra cứu, lúc đó tôi nhìn thấy bên trong cuốn sổ có một trang ghi tên cha tôi, ghi rõ ngày 15 tháng 9 năm nay sẽ chết, còn trang ghi tên tôi thì dường như số mệnh là 49 tuổi. Viên thủ thư nói với vương gia rằng: “Người này chưa hết thọ mệnh, xin vương gia cho anh ta trở về”.

Tôi khấu đầu lạy tạ, rồi tha thiết cầu xin được giảm 10 năm tuổi thọ để tăng cho cha tôi. Nhưng vương gia nhất quyết từ chối, chỉ phất tay ra lệnh cho quỷ sai đưa tôi đi. Tôi vẫn ngồi trên chiếc kiệu tre, bay vun vút trong không trung, nhìn thấy rõ ràng phía trước vẫn là Quán Thế Âm Bồ Tát đang bảo hộ theo kiệu. Đến khi chiếc kiệu đâm vào mái hiên nhà tôi, chỉ thấy có ánh lửa lóe lên rồi tôi liền tỉnh dậy.

Lúc ấy cả cha và mẹ đang ngồi trước giường, thấy tôi mở mắt thì ai nấy đều vỡ òa trong hạnh phúc. Tôi xin một bát trà nóng, uống vào thì thấy bệnh đã hoàn toàn khỏi hẳn. Những sự tình tôi trông thấy lúc hôn mê vẫn hiện lên sống động trong đầu, nhưng tôi không dám tiết lộ cho cha mẹ biết. Một ngày sau khi tôi khỏi bệnh, tức ngày mồng 1 tháng 9, thì cha tôi cũng liền phát bệnh, đến ngày 15 thì ông nhắm mắt từ trần…

Người ta nói: “Sinh tử hữu mệnh, phú quý tại Thiên”, đời người thành hay bại, vinh hay nhục, giàu sang hay nghèo hèn, sống thọ hay yểu mệnh… hết thảy đều đã được an bài. Con người không thay đổi được vận số, nhưng lại có thể làm chủ được đức hạnh của mình. Người cư sỹ Lý Tử Khoan kia dẫu muốn giảm 10 năm của bản thân để kéo dài tuổi thọ cho cha thì cũng không thể được. Một người thường sao có thể thay đổi mệnh Trời được đây?

Theo Secretchina

Xem thêm:

Categories: Chuyện Lạ

Dấu tích người khổng lồ (P.1): Những ghi chép về sự tồn tại của người khổng lồ

20 năm trước, sự hiện diện của người khổng lồ vẫn được coi là hoang đường, nhưng càng ngày càng có nhiều thông tin về người khổng lồ đã từng tồn tại trong lịch sử của nhân loại. Trong các văn tự  từ thời cổ đại cho đến hiện đại đều có ghi chép về việc này.

Hơn 60 năm trước, một cuộc khai quật tại hang động Qumran đã tìm thấy hơn 900 bản thảo cổ tiết lộ nhiều bí ẩn về quá khứ của nhân loại. Nó trùng với những gì mà các nhà khảo cổ tìm thấy ngày hôm nay.

Các nhà khảo cổ đã vô cùng bối rối khi tìm thấy một văn bản bất thường trong số này, một cuộn cung cấp những manh mối về sự sụp đổ của Nephilim – Người Khổng Lồ trong Kinh Thánh đã nói. Nó được gọi là The Book of Giants.

Cuốn sách bí ẩn bất thường: Cuốn sách về sự sụp đổ của người khổng lồ Nephilim. Họ gọi nó là The Book of Giants (Cuốn sách về những người khổng lồ).

Sau đó, năm 1956, những cuộc khảo cổ với quy mô lớn đã phát hiện ra tới 900 bản thảo trên giấy da, bản thảo bằng đồng, một ít được viết bằng giấy cói có niên đại trước Công nguyên. Từ đó, cung cấp cho chúng ta những cái nhìn quan trọng về quá khứ mà nhân loại trải qua.

Một trang sách bằng đồng

Hang động Qumran nằm ở phía Tây Bắc biển Chết là một địa điểm khảo cổ nổi tiếng và ẩn chứa nhiều bí ẩn chưa có lời giải. Tại nơi đây, năm 1947, một người chăn cừu Bedouin tình cờ phát hiện ra những cuốn bản thảo cổ xưa.Một phần cuốn sách làm bằng đồng được tìm thấy trong hơn 900 cuốn cổ được khai quật

Cuốn “Sách Enoch” cổ được tìm thấy ở Ethiopia ghi chép rằng những người khổng lồ là con của các vị Thần, đã xuống Trái đất và mang hình hài vật chất.

Về chuyện các thiên thần có kích thước khổng lồ có tồn tại hay không, các phi công Liên Xô đã khẳng định nhìn thấy vào năm 1985 những hình dáng khổng lồ của các thiên thần tươi cười trên bầu trời. Họ có đôi cánh lớn và có vầng hào quang chói lòa quanh đầu. Những thiên thần này đã đi theo con tàu vũ trụ Salut – 7 và theo dõi bảy thành viên phi hành đoàn trong vòng mười phút rồi biến mất không để lại dấu vết.

Các phi công vũ trụ Liên Xô đã khẳng định nhìn thấy vào năm 1985 những hình dáng khổng lồ của các thiên thần tươi cười trên bầu trời. Họ có đôi cánh lớn và có vầng hào quang chói lòa. (Ảnh minh họa: Mtgthuduc.net)

Trong “Bộ luật Vaticanus” một tác phẩm của người Aztec được lưu giữ trong thư viện Vatican có ghi chép về việc trên Trái Đất đã tồn tại 4 thế hệ người khổng lồ. Thế hệ đầu tiên đã nhanh chóng bị tiêu diệt vì nạn đói. Thế hệ thứ hai bị tiêu diệt trong đám cháy khủng khiếp. Thế hệ thứ ba bị tiêu diệt trong bão tố. Và thế hệ thứ tư, sống vào kỷ “mặt trời – nước” đã bị nhấn chìm trong một trận lụt. Và chỉ sau đó mới xuất hiện con người có hình thức và dáng vóc như hiện nay.

Nhà khoa học người Đức Alexandr von Humboldt, khi nghiên cứu bản thảo của mục sư Pedro de Los Rios người Dominica đã chỉ ra thêm một bằng chứng nữa về trận hồng thủy đã hủy diệt những người khổng lồ. Chỉ có 7 người khổng lồ kịp trốn vào hang động. Khi nước tràn lên, một trong số họ có biệt hiệu Selhui đã tới Cholollan xây dựng ngọn núi nhân tạo có hình Kim tự tháp để tưởng nhớ về ngọn núi Tlaloc đã che chở cho ông ta và những người anh em.

Trên Trái Đất đã từng tồn tại nhiều thế hệ người khổng lồ. (Ảnh: Soha)

Nhà châu Phi học B. Davidson đã miêu tả sinh động cuộc sống của những người khổng lồ dựa vào những nghiên cứu của ông trong một cuộc khai quật tại lưu vực sông Okovango, Tây Nam châu Phi:

“Những người khổng lồ này có một sức mạnh kinh khủng. Chỉ một tay của họ có thể ngăn được dòng chảy của con sông. Còn giọng nói của họ to đến mức vang từ làng này qua làn khác. Khi có một người khổng lồ ho, chim chóc dạt xa như thể bị gió cuốn. Khi săn bắn, họ đi một ngày được hàng trăm km, và họ vác trên bai đi về nhà một cách dễ dàng những con voi hay hà mã săn được”.

Khi nhà ngoại giao người Ả Rập Ahmed Ibn – Fadlan cùng với sứ giả của Khan Bagdat vào thế kỷ XII tới thăm vua của những người Bulgar tại Volga, người ta đã chỉ cho ông xem một tên khổng lồ. Nhà ngoại giao đã ghi lại trong nhật ký: “Tôi thấy đầu hắn ta giống như một chiếc thùng lớn, còn xương sườn của hắn giống như những cành cọ lớn nhất”. Gã khổng lồ này bị tóm tại phía Bắc của đất nước Visu (hiện nay là vùng Pechory) và được đưa đến đất nước người Bulga. Người ta phải giam hắn ở ngoại ô thành phố, buộc vào thân cây bằng những sợi xích khổng lồ bởi hắn rất độc ác và dữ tợn.

Cả Magenllan cũng đã từng gặp người khổng lồ vào năm 1520, khi tàu của ông buông neo tại vịnh San – Juan bên bờ Patagonia. Trong nhật ký thám hiểu có ghi những dòng như sau:

“Bỗng nhiên chúng tôi thấy trên bờ một người khổng lồ gần như lõa lồ. Thậm chí những người cao nhất trong số chúng tôi cũng chỉ cao đến thắt lưng hắn, ngoài ra hắn khá cân đối, có khuôn mặt rất to được vẽ màu đỏ”.

Chúng ta nên biết rằng Magenllan cũng như những thủy thủ châu Âu khác đều giống những người châu Âu nói chung, có thể hình khá lớn.

Ferdinand Magellan, nhà thám hiểm hàng hải người Bồ Đào Nha, là người đầu tiên thực hiện chuyến du hành vòng quanh thế giới, cũng từng bắt gặp người khổng lồ. (Ảnh: wiki)

Gần đây nhất là câu chuyện của nhà nghiên cứu người Anh Gerald Alston. Vào năm 1919 ông đã bị những người khổng lồ sống trong vùng núi dốc đứng Guiana phía Đông Nam của Venezuela bắt làm tù binh. Họ là những người da nâu sáng giống dân Mông Cổ, có chiều cao trung bình khoảng 3m và một cậu bé con của những người khổng lồ này trong lúc nô đùa còn vô ý bẻ gãy tay Alston khiến ông phải đau đớn hàng tháng trời. Nửa năm sau, Alston và người da đỏ nữa đã trốn thoát được ra ngoài và ghi lại câu chuyện này.

Như vậy rất nhiều ghi chép từ xa xưa cho đến thời cận đại đều có nói về sự hiện diện của người khổng lồ, họ tồn tại song hành với nhân loại chúng ta. Tuy nhiên họ có số lượng ít ỏi, và sống ở những nơi hiểm trở hoặc núi sâu rừng già nên rất ít người bắt gặp, nhất là họ lại thường tỏ ra khá hung dữ nên cũng không có một ai đủ tò mò và dũng cảm để đến gần họ.

Vậy phải chăng những người khổng lồ đã từng tồn tại và có lẽ vẫn đang tồn tại với số lượng ít ỏi ở những nơi mà con người chưa từng đặt chân tới?

Nam Minh

Đọc thêm:

Categories: Bí ẩn Lịch Sử

Dấu chân 290 triệu năm tuổi và 3 phát hiện công nghệ thách thức học thuyết Darwin

Nhiều bằng chứng khảo cổ phát hiện tại nhiều nơi trên khắp thế giới cho thấy trong quá khứ đã tồn tại các nền văn minh tiền sử, họ phát triển không kém gì văn minh hiện đại của chúng ta – thậm chí còn tiên tiến hơn. Những bằng chứng này có thể đảo ngược những gì mà chúng ta luôn tin tưởng rằng con người hiện đại là chủ nhân duy nhất có trí tuệ cao cấp từng tồn tại trên Trái đất.

1. Dấu chân 290 triệu năm tuổi

Một tảng đá thuộc kỉ Permi cách đây khoảng 290 triệu năm trước có một chi tiết gây tò mò trên bề mặt của nó. Được phát hiện ở New Mexico, tảng đá này có dấu chân người. Nhưng, con người không tồn tại trên Trái đất cách đây 290 triệu năm, vậy làm sao có thể như vậy?

Thật kỳ lạ, kỉ Permi đã kết thúc bằng sự kiện tuyệt chủng hàng loạt lớn nhất trong lịch sử Trái đất, trong đó gần 90% các loài sinh vật biển và 70% các loài sống trên cạn đã chết. Sự phục hồi từ sự kiện tuyệt chủng Permi-Triassic bị kéo dài; Trên đất liền, các hệ sinh thái phải mất 30 triệu năm để phục hồi.

dấu chân 290 triệu năm
Dấu chân 290 triệu năm tuổi trên tảng đá có từ kỉ Permi (Ảnh: Ancient code)

Theo ghi nhận của Tiến sĩ Don Patton, dấu chân là chân thực. Nếu đúng như vậy, điều đó có nghĩa là hàng trăm triệu năm trước, một loại người khác đã tồn tại trên Trái đất, cùng lúc với thời khủng long tồn tại?

2. Khối cầu Klerksdorp

Những khối cầu kỳ lạ này được tìm thấy ở Nam Phi. Michael Cremo, nhà nghiên cứu văn hóa thời tiền sử từng cho rằng khối cầu này có niên đại lên tới 2,8 tỷ năm tuổi. Nó có bề mặt rất cứng và cấu trúc dạng sợi bên trong. Marx cảm thấy chúng khá kỳ lạ và khó hiểu.

Klerksdorp
Khối cầu Klerksdorp (Ảnh: Top5LaKy)

“Chúng được tìm thấy trong mỏ đá cao lanh pyrophyllite, gần thị trấn nhỏ Ottosdal ở phía tây Transvaal. Loại đá cao lanh này hình thành từ trầm tích khoảng 2,8 tỷ năm trước đây. Đây là loại khoáng sản khá mềm với chỉ số 3 trong thang đo Mohs (thang đo từ 1 đến 10 để phân loại độ cứng của khoáng vật, trong đó đá talc mềm nhất, kim cương cứng nhất). Các khối cầu có cấu trúc dạng sợi bên trong, và một lớp vỏ bọc bên ngoài cứng như thép, không thể bị trầy xước”, nhà nghiên cứu Cremo cho biết.

Theo Cremo, khối cầu này là bằng chứng cho thấy sự sống thông minh đã tồn tại trên Trái Đất từ lâu, trước thời điểm mà chúng ta vẫn thường nhận định.

3. Chiếc bu lông 300 triệu năm tuổi

Những năm 1990, một nhóm nghiên cứu người Nga đã phát hiện trên một cánh đồng hoang phía Tây Nam tỉnh Kaluzka một viên đá. Viên đá này không có gì đáng nói nếu như nó không chứa trong mình một bí ẩn chấn động: bên trong khối đá có chứa một cái bu lông mà theo đo đạc thì có tuổi lên tới hàng trăm triệu năm.

Hóa thạch ốc vít 300 triệu năm tuổi tại Nga (Ảnh: ancient code)

Rất nhiều các viện nghiên cứu đã tiến hành khảo cứu khối đá này như: viện cổ sinh vật học, kỹ thuật vật lý, kỹ thuật hàng không, các bảo tàng cổ sinh vật học và bảo tàng sinh vật học, các phòng thí nghiệm của “Salut”, “Zikh”, “Hóa địa chất”, của các trường MAI, NGU,… cũng như hàng chục chuyên gia thuộc các lĩnh vực kiến thức khác nhau đã nghiên cứu và đi đến kết luận: chiếc bu lông rơi vào khoảng 300 – 320 triệu năm tuổi.

Một phát hiện tương tự cũng được tìm thấy ở Lan Châu, Trung Quốc vào năm 2002.

4. Chiếc búa có từ kỉ Phấn Trắng

Bà Emma Hahn đã phát hiện ra chiếc búa này vào tháng 6/1934 trong một mỏ đá gần thị trấn Mỹ, bang Texas. Phần kim loại của chiếc búa có chiều dài 15cm và đường kính khoảng 3 inches. Nó đã bị chìm trong đá vôi có niên đại 140 triệu năm, cùng với những mảnh đá khác.

Một số ý kiến cho rằng đó là một trò chơi khăm, nhưng những nghiên cứu sau này với các cuộc điều tra hàn lâm khác nhau đã bác bỏ điều này. Đầu tiên, tay cầm bằng gỗ đã hóa đá, và bên trong biến thành than qua hàng triệu năm. Thứ hai, các chuyên gia ở Học viện Metallurgical, Columbus (Ohio) rất kinh ngạc với thành phần hóa học của đầu búa bị chìm trong đất gồm: 96.6% sắt, 2.6% Clo và 0.74% sulfur, và không có một tạp chất nào. Trong khi, sắt nguyên chất chưa từng được phát hiện trong lịch sử các kim loại trên trái đất.

Trong phần kim loại không tìm thấy các kim loại sử dụng trong ngành công nghiệp sản xuất thép (như mangan, coban, niken, vonfram, vanadi hay molypden). Không có tạp chất, và tỷ lệ % của clo lớn bất thường. Đáng ngạc nhiên là không thấy dấu vết của carbon, trong khi quặng sắt từ từ trường Trái đất luôn luôn chứa carbon và các tạp chất khác.

búa 140 triệu năm
Chiếc búa 140 triệu năm tuổi tìm thấy tại một khu mỏ ở Mỹ (Ảnh: Ancient code)

Nhìn chung, theo những quan sát hiện đại, phần sắt của chiếc búa không phải là loại chất lượng cao. Nhưng phần đặc sắc là: Sắt của chiếc búa này không bị rỉ sét! Không có dấu hiệu của sự ăn mòn.

Tiến sĩ K.E.Bafa, giám đốc Bảo tàng Cổ vật khoáng sản, cho biết chiếc búa này ước tính được tạo ra từ đầu thời kỳ kỷ Phấn trắng, tức là từ 140 đến 65 triệu năm trước. Trong khi đó, trình độ khoa học của con người có thể làm công cụ này chỉ có thể cách đây tối đa 10.000 năm.

Cuối cùng, sự thật về nguồn gốc của chúng ta có vẻ hoàn toàn khác xa với những điều được giải thích thông thường qua các bộ sách giáo khoa, rằng chúng ta là loài người văn minh hiện đại duy nhất từ trước tới nay trên địa cầu này và chúng ta vốn tiến hóa từ người vượn. Chỉ những ai dám vượt lên những nhận thức thiên kiến, đón nhận và suy xét một cách lý trí những phát kiến và thành tựu khảo cổ mới có thể nhận thức được những điều thực sự chân chính.

Hoài Anh

Đọc thêm:

Categories: Chuyện Lạ

5 người may mắn thoát chết nhiều lần tới mức không thể tin nổi, thần hộ mệnh là có thực?

Mỗi lần chúng ta bước vào xe hơi hay lên cầu thang máy bay, chúng ta đều có chút lo sợ rằng không biết có rủi ro giao thông hay những điều gì trục trặc xảy ra trên độ cao 10 km trên trời. Nếu có đến một lần, là cũng… xong rồi. Tuy nhiên có những người 5 lần 7 lượt thoát chết một cách quá khó tin. Điều gì xảy đến với họ vậy?

Mỗi lần chúng ta bước vào xe hơi hay lên cầu thang máy bay, chúng ta đều có chút lo sợ rằng không biết có rủi ro giao thông hay những điều gì trục trặc xảy ra trên độ cao 10 km trên trời….Phần lớn chúng ta đều hy vọng sẽ không có gì xảy đến với mình, tuy nhiên… hy vọng thì vẫn chỉ là hy vọng thôi…

Song, kỳ lạ vô cùng là có những người đã sống sót qua không chỉ 1, 2 tai nạn chết người, mà thậm chí vượt qua bình an cả 7 tai nạn chắc chết…?
Có điều gì quá kỳ lạ ở đây? Sét đánh nhiều lần không chết, bạn có tin nổi không? Hay là rơi từ trên máy bay cả chục km xuống dưới đất mà vẫn…thoát chết?

Ai biết được số phận bí ẩn nào đã dẫn dắt họ tới nhiều tai nạn chết người như thế rồi lại dẫn dắt họ ra khỏi những tai nạn chết người đó mà vẫn sống sót, vẫn tồn tại một cách quá đỗi kỳ diệu…?

Một số người gọi đó là may mắn, một số khác nói rằng người ấy chắc chắn có một vị Thần hộ mệnh luôn theo sát… Dù là cách nào đi nữa, vẫn có thực tế là một số người đã thoát chết nhiều lần một cách không thể tin nổi.

Sau đây là một vài người trong số các trường hợp may mắn đã trải qua điều “không thể”:

1. Người đàn ông đã sống sót kỳ diệu qua… 7 tai nạn chết người

Năm 1962 Frane Selak người Croatia đi du lịch bằng tàu hỏa thì con tàu bị rơi xuống một dòng sông băng giá. Tai nạn đã giết chết 17 người. Ông đã sống sót.

Ngay năm sau,  Frane lại có mặt tại một vụ tai nạn máy báy khi cánh cửa máy bay bị tung ra, nhưng ông đã sống sót sau khi rơi xuống một đống cỏ khô. Nhưng 19 người khác đã thiệt mạng.

Frane Selak (Ảnh chụp màn hình youtube)

Tiếp tục lại ba năm trôi qua, cho đến khi ông may mắn thoát chết ở một tai nạn xe buýt đã giết chết 4 người.

Sau đó, vào năm 1970, chính chiếc xe của ông phát nổ, và ông đã may mắn nhảy ra kịp và thoát chết lần nữa.

Ba năm sau, chiếc xe hơi của ông (một chiếc xe khác) đã bốc cháy và, lại một lần nữa, ông lại thoát khỏi vòng tay của Thần chết một cách hy hữu.

Sau đó, vào năm 1995, ông bị lao vào một chiếc xe buýt trong khi đi bộ, nhưng, kỳ diệu thay, ông vẫn sống sót.

Một năm sau đó, khi đang lái xe, ông phải ngoặt xe đột ngột để tránh một tai nạn nghiêm trọng, xe hơi của ông đã rơi xuống một vách đá và phát nổ. May mắn thay cho Frane, ông bị ném tung ra khỏi xe và “hạ cánh” an toàn trên một cái cây!

Một cách thoát chết vô cùng may mắn và hy hữu.

Số phận của ông đã thay đổi vào năm 2003 khi ông giành giải nhất xổ số 1 triệu $. Ông đã đem cho phần lớn số tiền cho bạn bè và gia đình.

2. Người đàn ông đã sống sót qua 7 lần sét đánh

Roy Sullivan, người được mệnh danh là Lightning Man (Ảnh chụp màn hình youtube)

Ông được mệnh danh là Lightning Man, người đàn ông Ánh sáng, Roy Sullivan ở Virginia, người bị sét đánh tới bảy lần.

Lần đầu tiên ông bị sét đánh, da chân của ông bị đốt cháy và móng chân của ngón chân cái rơi ra. Sét đã xé thủng một lỗ trong giày của ông và máu đã chảy ra rất nhiều. Nhưng đó chỉ là lần bị sét đánh đầu tiên, sau đó ông còn bị sáu lần nữa. Đòn sét đánh nặng nhất của ông là vào năm 1972, ông đã phải nhập viện vì bỏng trong bụng và ngực.

Tên của ông đã xuất hiện trong Sách kỷ lục Guinness vì đã sống sót sau nhiều lần sét đánh nhất.

3. Người đàn ông bị cắt làm đôi bởi một con tàu và sống sót để đi kể câu chuyện của mình. 

Tai nạn khủng khiếp nhất đã xảy ra với Truman Duncan người Texas, khi ông làm việc trong ngành đường sắt với vai trò một giám lộ viên. Ông đã bị ngã từ con tàu đang chạy và rơi vào bánh tàu, chịu một trọng tải của tàu là hơn 9000 kg.

Nhưng ông vẫn có thể gọi điện thoại của mình và nói: “Tôi cần 911, dịch vụ cấp cứu Flite. Tôi nghĩ rằng tôi đã bị cắt làm đôi rồi”.

Phải mất tới 45 phút trước khi có người giúp đỡ đến, nhưng bằng cách nào đó ông vẫn cố gắng duy trì được trạng thái ý thức được mọi sự.

Truman Duncan

Khi Truman được chở bằng bằng máy bay tới Bệnh viện bệnh viện Harris Methodist Fort Worth, người bác sĩ làm nhiệm vụ cấp cứu đã hỏi tại sao Truman không bị chảy máu tới mức tử vong.

“Chắc chắn Thiên Chúa đã đóng một vai trò trong việc này, tôi chắc chắn”, bác sĩ David Smith nói. “Sinh lý của ông thật xuất sắc, có thể trọng lượng của tàu đè lên đã tự giúp giữ một số áp lực nào đó lên động mạch.”

4. Người phụ nữ bị kẹt trong dòng sông băng trong 80 phút mà vẫn không chết. 

Anna Elisabeth Johansson Bågenholm người Thụy Điển đã bị mất kiểm soát khi cô trượt tuyết và đã bị ném xuống dòng sông đóng băng. Nửa trên của cơ thể cô đã rơi vào một cái hố đông lạnh nơi băng đã dày hơn 20 cm.

Anna đã bị mắc kẹt trong băng trong 80 phút đồng hồ và nhiệt độ cơ thể của cô giảm xuống còn 13,7 độ C (56,7 ° F) – nhiệt độ cơ thể thấp nhất được biết đến mà một người vẫn còn có thể đã sống sót. Phải mất hơn 100 nhân viên y tế làm việc không mệt mỏi trong suốt chín giờ để hồi sinh cô.

5. Người phụ nữ sống sót sau một tai nạn máy bay từ độ cao trên 10.000 m (được cho là bất khả thi)

Năm 1972, tiếp viên người Serbia, Vesna Vulovic đã sống sót trong một tai nạn máy bay đã cướp đi sinh mạng của toàn bộ 27 thành viên của phi hành đoàn và hành khách trên máy bay.

Một vụ nổ xảy ra vào giữa chuyến bay và khi ấy máy bay đang bay ở độ cao khoảng 10.000 m. Người ta cho rằng có một quả bom là nguyên nhân. Sau tai nạn, Vesna đã được tìm thấy bị mắc kẹt vào phía sau của máy bay gần một xe đẩy thức ăn. Cô bị thương nặng với một hộp sọ bị vỡ và ba đốt sống bị gãy, khiến cô tạm thời bị liệt.

Vesna Vulovic

Năm 2008, cô nói với tờ New York Times:

“Vào thời điểm đó cơ thể của tôi đã ở trong tình trạng rất tệ, và các bác sĩ đã tích cực sửa chữa cỗ máy hỏng hóc ấy. Không ai tin nổi rằng tôi có thể sống sót.
Đáng ngạc nhiên, cô ấy vẫn không sợ bay sau đó: “Mọi người luôn muốn ngồi cạnh tôi trên máy bay“, cô nói. Những trường hợp này thật diệu kỳ và hy hữu.

Rất khó để hiểu làm thế nào một số người đã cận kề cái chết đến thế, rất nhiều lần, mà vẫn còn sống sót. Chắc chắn họ phải cảm thấy một sự kết nối với một sinh mệnh cao cấp đã che chở họ trong trò chơi vui tính (hay không vui tính đây) của số phận. Bạn nghĩ gì? Bạn có tin vào định mệnh không? Đằng sau những câu chuyện sống sót đáng ngạc nhiên này, có thể chỉ là một điều rất đơn giản…đó là họ được bảo hộ chặt chẽ bởi Thần hộ mệnh.

Hà Phương Linh (biên dịch từ Epoch Times France)

Đọc thêm:

Categories: Chuyện Lạ

Vải liệm Turin: Tấm vải liệm thi thể Chúa Giê-su gây tranh cãi khi chứa ADN từ khắp thế giới

Tấm vải liệm Turin: hình ảnh khuôn mặt trên tấm vải đã được xử lý kỹ thuật số [bên trái] và hình ảnh toàn thân được nhìn thấy trên tấm vải liệm [bên phải]

Tấm vải Turin vốn được rất nhiều người cho là tấm vải khâm liệm thi thể chúa Giê-su, nhưng những người theo chủ nghĩa hoài nghi lại chỉ coi nó là một hiện vật tôn giáo có ý nghĩa lịch sử to lớn. Tấm vải liệm Turin đã thu hút được sự quan tâm của các học giả lẫn các nhà khoa học nhờ vào bản chất bí ẩn của nó. Các kết quả xét nghiệm ADN được bổ sung vào hồ sơ nghiên cứu gần đây chỉ có thể làm tăng thêm phần kỳ bí, huyền ảo cho nguồn gốc của tấm vải liệm này.

Tấm vải liệm Turin, một mảnh vải dệt nhạt màu có chiều dài khoảng 4,5 m, có thể được xem như một món đồ vật tầm thường với những vết ố màu nâu đỏ đặc thù ở cả hai mặt trước và sau. Hình ảnh một người đàn ông nằm sấp với đôi tay bắt chéo có thể được nhìn thấy trên tấm vải này, với cả hai mặt trước và mặt sau của cái đầu được chập lại chính xác ở giữa tấm vải, cho thấy tấm vải này đã được dùng để chùm lên mặt trước và mặt sau của một xác chết để trần. Vô số vết thương khủng khiếp trên cơ thể đã được hé lộ thông qua những hình ảnh trên tấm vải, từ những vết cắt cho đến những vết đục, vết móc và vết lằn roi. Những hình ảnh này đã cho thấy một cách rõ ràng bằng chứng của việc bị đóng đinh lên cây thập tự giá như trong miêu tả của Kinh thánh về cái chết của chúa Giê-su.

The full length of the Shroud of Turin. Scientists and scholars cannot resolve the mystery of the shroud. (Public Domain) Chiều dài toàn khổ của Tấm vải liệm Turin. Các nhà khoa học và các học giả chưa thể giải mã bí ẩn đằng sau tấm vải liệm này. (Ảnh: Wikimedia)
Chiều dài toàn khổ của Tấm vải liệm Turin. Các nhà khoa học và các học giả chưa thể giải mã bí ẩn đằng sau tấm vải liệm này. (Ảnh: Wikimedia)

Lịch sử bị che giấu của Tấm vải liệm

Dựa trên các tư liệu lịch sử, niên đại ước định của tấm vải liệm này là vào khoảng cuối những năm 1.300, hay vào khoảng cuối thế kỷ 14. Các học giả tranh luận rằng tấm vải liệm này đã có từ trước năm 1.390, và miêu tả thời kỳ trước đó là một “giai đoạn vô cùng tăm tối”. Ngay cả vào thời kỳ trung cổ cũng đã có những quan điểm bất đồng về tính xác thực của tấm vải liệm, những văn bản trao đổi trong cộng đồng chức sắc nhà thờ vào thời kỳ đó gợi ý rằng đây có thể là một món đồ giả mạo. Tuy nhiên, các nhà sử học cũng đưa ra giả thuyết cho rằng trong quá khứ đã tồn tại nhiều “tấm vải liệm” như vậy, và những cáo buộc giả mạo có thể không liên quan đến tấm vải được tìm thấy ngày nay trong nhà thờ thành Turin, nước Ý.

Kể từ thế kỷ 15, sự tồn tại của tấm vải liệm này đã được ghi chép chi tiết trong các tài liệu. Tấm vải này đã được chuyển nhượng cho Gia tộc Savoy ở Ý vào năm 1453, và đã bị thiệt hại trong một trận hoả hoạn. Việc đắp vá và phục chế hiện vật này đã được tiến hành nhiều lần sau đó. Tấm vải này đã được đặt bên trong một nhà nguyện vào thế kỷ 17, nhưng phải đến 200 năm sau nó mới được đem ra trưng bày cho công chúng, và được chụp ảnh lần đầu.

Full length negatives of the Shroud of Turin. (Public Domain) Toàn khổ ảnh chụp âm bản của Tấm vải liệm Turin. (Ảnh: Wikimedia)
Toàn khổ ảnh chụp âm bản của Tấm vải liệm Turin. (Ảnh: Wikimedia)

Chính những bức ảnh chụp này đã biến tấm vải từ chỗ một di vật bình thường lên thành một hiện tượng ăn khách. Những bức ảnh này tự bản thân chúng không quá đặc biệt, cho đến khi được quan sát dưới dạng ảnh chụp âm bản, khi hình ảnh chi tiết của một người đàn ông để râu, bị trọng thương hiện lên một cách rõ nét. Trước đó đã có giả thuyết cho rằng những vết ố và hình người này đã được một nghệ sĩ vẽ lên tấm vải lanh vào một thời điểm nào đó trong lịch sử, nhưng việc phát hiện được một hình ảnh thân thể chi tiết được in hình lên tấm vải đã nhanh chóng làm xóa tan những sự ngờ vực và thuyết phục rất nhiều người tin rằng các hình ảnh nói trên đã hình thành do tiếp xúc với một thân xác người thật. Một số tín đồ Công giáo tin rằng hình ảnh này được truyền tải từ thân thể Chúa Giê-su sang tấm vải nhờ sự phát xuất của một “luồng ánh sáng thần thánh” hay năng lượng khi Ngài phục sinh.

A poster advertising the 1898 exhibition of the shroud in Turin. Secondo Pia's photograph was taken a few weeks too late to be included in the poster. The image on the poster includes a painted face, not obtained from Pia's photograph. (Public Domain) Một áp-phích quảng cáo trong cuộc triển lãm tấm vải liệm Turin vào năm 1898. Bức ảnh được Secondo Pia chụp vài tuần sau đó đã không được đưa vào áp-phích do quá hạn định. Hình ảnh trên tấm áp-phích có in một hình mặt người đã được vẽ, chứ không phải được lấy từ bức ảnh chụp của Pia. (Ảnh: Wikimedia)
Một áp-phích quảng cáo trong cuộc triển lãm tấm vải liệm Turin vào năm 1898. Bức ảnh được Secondo Pia chụp vài tuần sau đó đã không được đưa vào áp-phích do quá hạn định. Hình ảnh trên tấm áp-phích có in một hình mặt người đã được vẽ, chứ không phải được lấy từ bức ảnh chụp của Pia. (Ảnh: Wikimedia)

Nếu đây thực sự là tấm vải liệm bọc thi thể Chúa Giê-su, thì nó phải có niên đại từ năm 30 SCN, niên đại ứng với cái chết của Chúa Giê-su theo ghi chép trong kinh Thánh. Tuy nhiên, niên đại này lại mâu thuẫn với những tư liệu lịch sử về sau, cũng như các kết quả nghiên cứu khoa học hiện đại đươc tiến hành trên hiện vật.

Những phân tích khoa học và các tiết lộ gây chấn động

Một loạt các thí nghiệm đã được tiến hành trên tấm vải liệm kể từ khi các nhà khoa học lần đầu tiên được cho phép khám nghiệm nó vào năm 1969, bao gồm các thí nghiệm vật lý, các phân tích hoá học và việc định tuổi bằng đồng vị phóng xạ cacbon. Những phân tích ban đầu đã dẫn tới việc thành lập một Uỷ ban Turin bao gồm 11 thành viên là các nhà khoa học, cố vấn, và vào năm 1977 Dự án Nghiên cứu Tấm vải liệm Turin (STURP) đã được ra đời.

Những phát hiện của họ, dựa trên một loạt các thí nghiệm khắt khe, đã được công bố trong một báo cáo tổng kết vào năm 1981, trong đó có đoạn:

“Giờ đây chúng tôi có thể kết luận rằng hình ảnh trên Tấm vải liệm là hình dạng thực của một người đàn ông khốn khổ đã bị đóng đinh lên cây thập tự giá. Đây không phải là tác phẩm của một nghệ sĩ. Các vết máu khô có chứa trong thành phần của nó hồng cầu (hemoglobin), đồng thời cho kết quả dương tính đối với thử nghiệm huyết thanh albumin. Hình ảnh này vẫn tiếp tục là một ẩn đố và cho đến khi có thêm nhiều các nghiên cứu hoá học nữa được tiến hành, có lẽ bởi nhóm các nhà khoa học này, hoặc có lẽ bởi các nhà khoa học khác trong tương lai, thì vấn đề này sẽ vẫn là một bí ẩn chưa có lời giải”.

Các nhà nghiên cứu không tìm thấy dấu vết của phẩm màu nhân tạo, có nghĩa là hình ảnh nói trên được tạo ra bởi một thi thể người thật, nhưng cách thức điều này xảy ra vẫn là một câu hỏi chưa có lời giải đáp.

Kết quả định tuổi tấm vải bằng đồng vị phóng xạ carbon 14 cho thấy chất liệu của tấm vải liệm này có niên đại trong khoảng giai đoạn 1260-1390 SCN, một phát hiện gây chấn động, mâu thuẫn với thời điểm qua đời của Chúa Giê-su. Nhưng những người theo chủ nghĩa phê phán cho rằng mẫu vải được xét nghiệm đã được lấy từ những miếng vá gần đây hơn, chứ không phải từ tấm vải gốc.

Bổ sung thêm vào hồ sơ các phát hiện kỳ lạ về tấm vải liệm bí ẩn này, các nhà nghiên cứu người Ý hiện đã phát hiện thấy tấm vải này có thể đã được dệt tại Ấn Độ, và chứa ADN từ khắp nơi trên thế giới. Thông qua việc xác định trình tự (giải trình tự) ADN từ bụi và phấn hoa trên tấm vải liệm, người ta có thể biết được nguồn gốc của những chủng người và các hoàn cảnh môi trường mà tấm vải này từng tiếp xúc.

Kết quả phân tích DNA cho thấy tấm vải có thể đã được sản xuất ở Ấn Độ, và đã đi qua nhiều nơi trên thế giới trước khi đến nước Ý vào thời trung cổ, làm dấy lên nhiều giả thuyết tiềm năng về một nguồn gốc châu Âu thời trung cổ của tấm vải.

Một số loài cây thực vật đã được xác định thông qua quá trình giải trình tự DNA bao gồm cây đuôi ngựa (horsetail), cỏ ba lá, cỏ dại (ryegrass), cây riếp xoăn (chicory), những loại cây có nguồn gốc ở châu Á, Trung Đông hay châu Mỹ.

(Ảnh: Anja Disseldorp/Flickr)
(Ảnh: Anja Disseldorp/Flickr)

Thi thể bọc bên trong

Các vết ố có thể là những vết thương và máu của một người đàn ông đã chết. Những hình ảnh trên tấm vải đã cho thấy một thi thể bị huỷ hoại bởi các vết cắt trên hầu khắp bề mặt; những vết thương do đâm xuyên, khoét lỗ và vết cắt thẳng có thể được nhìn thấy. Có thể nhìn thấy một vết đâm lớn hình tròn trên bàn tay, cũng như các vết thương lớn do đâm xuyên trên bàn chân.

The renowned Shroud of Turin, religious relic and mysterious artifact. (Public Domain) Tấm vải liệm Turin nổi tiếng, một thánh tích tôn giáo bí ẩn. (Ảnh: Wikimedia)
Tấm vải liệm Turin nổi tiếng, một thánh tích tôn giáo bí ẩn. (Ảnh: Wikimedia)

Khuôn mặt để râu của người đàn ông đã bị sưng tấy và biến dạng do bị đánh đập tàn bạo. Các vết máu ố dường như có mặt ở khắp mọi nơi, đặc biệt ở gần vùng mặt và ở cả hai cánh tay.

Câu hỏi trong các câu hỏi – bằng cách nào?

Dù đã tiến hành nhiều thử nghiệm khoa học, nhưng không một câu trả lời thoả đáng nào có thể được đưa ra về cách thức hình ảnh xuất hiện và lưu giữ trên trên tấm vải liệm, ngoại trừ việc đây hẳn là một phép màu, chí ít theo quan điểm của một số người sùng đạo. Các nhà nghiên cứu đã khẳng định rằng những hình ảnh này không phải được vẽ lên, mà đã được thẩm thấu vào bên trong sợi vải.

Đã vô số nỗ lực nhằm tái tạo những hình ảnh này, và lặp lại quá trình thẩm thấu khác thường của màu sắc vào bên trong sợi vải, nhưng đều không thành công. Nhà vật lý học Paolo Di Lazzaro, một chuyên gia đầu ngành về hiện tượng tấm vải liệm, đã gọi đây là “câu hỏi trong các câu hỏi”: hình ảnh này đã được tạo ra bằng cách nào?

Ông Di Lazzaro và các đồng nghiệp đã sử dụng công nghệ laze tiên tiến nhất để bắn các chùm tia cực tím ngắn, có cường độ mạnh vào một tấm vải thô để thử tái tạo các hình ảnh trên tấm vải liệm. Rốt cuộc họ đã không thành công trong việc tạo ra một sản phẩm có chất lượng tương tự bản gốc, thậm chí họ còn không thể tái tạo hoàn chỉnh một cơ thể người. Bất kể tấm vải có niên đại từ bao lâu, khoa học cũng không thể tạo ra một bản sao tương tự. Vậy hiện vật này đã được tạo ra như thế nào vào rất nhiều năm về trước?

“Ít có khả năng khoa học sẽ cung cấp một cách giải thích toàn diện cho rất nhiều ẩn đố của tấm vải liệm này. Một “cú nhảy của đức tin” là điều cần thiết để đối mặt với các câu hỏi không có câu trả lời rõ ràng như thế – dù cho đó là ‘niềm tin’ của những người theo chủ nghĩa hoài nghi hay niềm tin của những người theo đạo”, ông Di Lazarro nói trong một cuộc trao đổi gần đây với tạp chí Địa lý Quốc gia Hoa Kỳ (National Geographic).

Tính chân thực của tấm vải chưa từng được Giáo hội Công giáo Rôma xác nhận một cách chính thức. Tấm vải này chỉ được Giáo hoàng John Paul II miêu tả là một “sự phản ảnh của kinh phúc âm”, và thậm chí là một “thánh tích đặc biệt”. Tuy nhiên, Giáo hội đã khuyến khích việc tỏ lòng thành kính đối với hiện vật này, và tấm vải đã được bảo vệ và tỏ lòng thành kính bởi các tín đồ sùng đạo qua nhiều thế kỷ.

Tấm vải này hiện đang được trưng bày bên dưới lớp kính chống đạn bên trong một cái tủ kính kín khí, có lắp điều hòa để duy trì tình trạng nhiệt độ tốt nhất cho việc bảo quả tại thành phố Turin ở miền bắc nước Ý, và được bảo vệ bằng các máy quay camera, các thiết bị bay không người lái cùng lực lượng cảnh sát.

5ea7caa2-4145-47ca-b9d9-a763adfed0a5-2060x1236
Giáo hoàng Francis chạm vào tấm vải liệm Turin trong một chuyến thăm vào ngày 21/6/2015. (Ảnh: Giorgio Perottino/Reuters)

Khoa học có thể tiến gần hơn đến nguồn gốc của tấm vải liệm, cũng như hành trình của nó kể từ thời Trung cổ, nhưng các nhà nghiên cứu dường như không thể tiếp cận gần hơn đến việc giải mã bản chất chân thực của thánh tích này. Philip Ball, cựu biên tập viên của tạp chí khoa học Tự nhiên (Nature) đã từng nói bóng gió về thách thức trường kỳ của tấm vải liệm: “Công bằng mà nói, bất chấp các thí nghiệm dường như đã đi đến kết luận cuối cùng vào năm 1988, hiểu biết về Tấm vải liệm Turin vẫn còn rất mờ mịt. Chí ít, bản chất của hình ảnh và cách thức nó được “in” lên tấm vải vẫn còn là một ẩn đố vô cùng khó giải”. Ẩn đố này vẫn chưa được giải đáp sau hàng thập kỷ đã qua, khiến Tấm vải liệm Turin giữ nguyên danh hiệu của nó là một trong những thánh tích gây nhiều tranh cãi và khó hiểu nhất nhất trong lịch sử.

Tác giả: Liz Leafloor, Ancient Origins.

Đọc thêm:

Categories: Bí ẩn Lịch Sử

Đảo thiêng cấm phụ nữ ở Nhật Bản được UNESCO công nhận là di tích văn hóa thế giới

Một hòn đảo linh thiêng tại Nhật Bản vừa được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới. Nơi đây cấm phụ nữ, còn đàn ông phải khỏa thân mới có thể đặt chân đến.

Ngôi đền Okitsu tọa lạc trên đảo Okinoshima từ thế kỷ 17, mọi  người thường đến đây cầu an lành cho vùng ven biển. Hòn đảo rộng 700 mét vuông, nằm ở phía tây nam Nhật Bản này sẽ là một trong 20 khu di tích văn hóa và thiên nhiên của quốc gia được công nhận bởi hội văn hóa Liên Hợp Quốc (UN). Okinoshima cùng với ba rạn san hô và bốn khu di tích gần đó cũng được công nhận là di sản thế giới tại hội nghị thường niên của UN ở Krakow, Ba Lan.

Hòn đảo nhỏ xa xôi này là kho tàng cống phẩm cho thần biển Shinto, từ chuỗi hạt ngọc cho đến thanh gươm quý giá. Nơi đây cũng góp phần thúc đẩy giao dịch công thương giữa Hàn Quốc và Trung Quốc từ thế kỷ IV đến thế kỷ IX.

Đảo thiêng cấm phụ nữ của Nhật Bản được UNESCO công nhận là di tích văn hóa thế giới - Ảnh 1.

Đảo Okinoshima, khung cảnh từ đằng sau đảo Kashiwajima Creative Commons

Ngày nay, chỉ nam linh mục từ Munakata Taisha, một nhóm thuộc đền Shinto, mới được phép lên đảo để thờ cúng tại đền Okitsu. Ngoài ra có khoảng 200 người đàn ông được tham quan đảo mỗi năm một lần vào ngày 27/5. 

Tuân theo luật lệ nghiêm ngặt, những du khách ghé thăm phải khỏa thân và thực hiện nghi thức gột rửa trước khi đặt chân lên hòn đảo. Khi rời đi, họ không được phép mang theo bất kỳ thứ gì và không được tiết lộ gì về chuyến viếng thăm. Nữ giới bị cấm không được đặt chân lên đảo vì truyền thống Shinto, dù chưa ai rõ mục đích của việc cấm phụ nữ này là gì.

Một vài người cho rằng lý do là bởi Shinto có niềm tin rằng máu kinh của phụ nữ là thứ dơ bẩn. Một số khác thì nghĩ do hành trình đến Đảo rất nguy hiểm, và đàn ông sẽ không muốn những người phụ nữ phải trải qua điều đó.

Đọc thêm:

Categories: Chuyện Lạ

Kỳ lạ: 3 thị trấn không cho phép chôn cất người chết: Địa điểm đầu tiên từng được UNESCO công nhận là di sản văn hoá thế giới

Dù ở bất cứ quốc gia hay dân tộc nào, việc chôn cất người chết luôn là một trong những tập quán quan trọng. Ấy vậy mà nhiều địa điểm “kỳ lạ” trên thế giới, tục lệ này lại bị cấm tuyệt đối. Chúng ta hãy tới 3 thị trấn nổi tiếng dưới đây để tìm hiểu lý do đằng sau quy định này là gì nhé.

Đảo Itsukushima (Nhật Bản)

Là một hòn đảo nằm dưới sự quản lý của thành phố Hatsukaichi, huyện Hiroshima, Nhật Bản, Itsukushima còn được biết đến nhờ vào ngôi đền thiêng nổi tiếng cùng tên, được xây dựng nổi hoàn toàn trên mặt nước. Ngôi đền này cũng được chính UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới vào năm 1996.

3 thị trấn không cho phép chôn cất người chết: Địa điểm đầu tiên từng được UNESCO công nhận là di sản văn hoá thế giới - Ảnh 1.

Ngôi đền trên đảo Itsukushima được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới vào năm 1996.

Nhưng không chỉ có địa danh nổi tiếng, Itsukushima còn được biết đến với tập quán có phần kỳ quặc: cấm chôn người chết trên đảo. Những người theo đạo Shinto – một trong hai tôn giáo chính ở Nhật Bản bên cạnh Phật giáo – lý giải, đối với người dân Nhật, hòn đảo là một vùng đất vô cùng thiêng liêng, cần bảo tồn được sự “thuần khiết” trước bất cứ thứ vẩn đục nào. Vì vậy, để giữ gìn sự trong sạch ấy, các thầy tu Shinto quyết định không cho phép bất cứ ca sinh nở hay ma chay nào diễn ra trên đảo.

Kể từ năm 1878, chưa hề có một em bé nào ra đời xung quanh khu vực dân cư sinh sống gần ngôi đền Itsukushima. Điều tương tự cũng được ghi nhận đối với những trường hợp không may tử vong, khi thống kê cho thấy không có bất cứ ai được ghi nhận là qua đời trên hòn đảo, kể từ đó tới nay. Phụ nữ mang bầu, khi đến kỳ sinh nở, sẽ phải vượt biển vào đất liền để đến những bệnh viện lớn, thay vì ở nhà hoặc đến trạm xá địa phương. Còn đối với người già hay người mắc phải căn bệnh hiểm nghèo, theo truyền thống thì họ được yêu cầu phải rời khỏi hòn đảo càng sớm càng tốt nhằm tránh tuyệt đối việc gây “ô uế” môi trường sống xung quanh đảo.

3 thị trấn không cho phép chôn cất người chết: Địa điểm đầu tiên từng được UNESCO công nhận là di sản văn hoá thế giới - Ảnh 2.

Kể từ năm 1878, chưa hề có một em bé nào ra đời xung quanh khu vực dân cư sinh sống gần ngôi đền Itsukushima. Điều tương tự cũng được ghi nhận đối với những trường hợp không may tử vong.

Lịch sử từng ghi nhận vào năm 1555, một trận chiến ác liệt với tên gọi “Tử chiến Miyajima” đã diễn ra trên hòn đảo, với vô số thương vong được ghi nhận. Đây cũng là trận chiến duy nhất trong lịch sử từng diễn ra trên hòn đảo thiêng này. Ngay sau khi ngừng chiến, tướng quân thắng trận Mori Motonari yêu cầu binh sĩ khẩn trương khiêng tất cả xác người lên đất liền và chuyển ra khỏi khu vực hòn đảo nhanh nhất có thể. Số lượng xác chết ước tính có thể lên đến 4.700 – một con số khổng lồ.

Sau đó, họ tiến hành rửa trôi các lớp máu bám trên nền đất, thậm chí còn cạo bỏ toàn bộ lớp bùn đất đã nhiễm máu người chết. Những công trình xung quanh, nếu bị vấy máu, đều được tháo dỡ và thay mới. Kể từ đó tới nay, hành động chôn cất người qua đời hoàn toàn bị cấm kỵ trên hòn đảo Itsukushima xinh đẹp này.

2. Thị trấn Longyearbyen (Na Uy)

Là một trong những vùng lãnh thổ đầu tiên ở cực Bắc mà con người định cư tới, thị trấn Longyearbyen nằm lọt thỏm giữa hòn đảo Spitsbergen lạnh giá thuộc Na Uy. Tại đây, người ta từ lâu đã cho đóng cửa nghĩa trang thị trấn, với lý do hết sức đơn giản: việc ma chay bị coi là điều cấm kỵ trên đảo. “Nếu bạn có dấu hiệu sắp “không còn được thấy ánh sáng mặt trời” nữa, đừng lo vì người ta sẽ cố gắng hết sức để đưa bạn vào đất liền”, đó là chia sẻ của ông Jan Christian Meyer, một kĩ sư lâu năm và hiện là phó giáo sư kiêm nhiệm tại Đại học Công nghệ và Kĩ thuật Quốc gia tại Trondheim, Na Uy.

Với dân số vào khoảng 2.000 người, nơi đây chứng kiến nhiều cảnh tượng kỳ vĩ, chẳng hạn như Cực quang phương Bắc (Aurora Borealis) sáng rọi vào buổi tối, hòa quyện cùng với lớp băng tuyết để tạo thành một buổi trình diễn ánh sáng tuyệt hảo trên bầu trời đêm. Người dân ở đây cũng nổi tiếng với món bánh mỳ kebab trứ danh. Nhưng, ẩn chứa sau vẻ đẹp đầy “kì ảo” ấy là một tập quán có phần “hủ tục”.

3 thị trấn không cho phép chôn cất người chết: Địa điểm đầu tiên từng được UNESCO công nhận là di sản văn hoá thế giới - Ảnh 3.

Cực quang phương Bắc phản chiếu lên bầu trời thị trấn Longyearbyen khi đêm về

Nhiệt độ tại Longyearbyen thường xuyên tụt xuống dưới mức 0 độ C, điều đó khiến cho băng giá có cơ hội bao phủ toàn bộ diện tích của thị trấn trong nhiều tháng liên tiếp. Rất nhiều thảm thực vật hay động vật đều bị chôn vùi dưới làn tuyết lạnh cóng, ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống. Một trong số đó liên quan mật thiết đến người chết. Vào những năm 1950 của thế kỷ trước, người dân địa phương nhận thấy rằng, lớp băng giá trên mặt đất gây cản trở không nhỏ và làm chậm quá trình phân hủy xác chết. Nhiều thi thể người chết, sau khi được an táng tại nghĩa trang, đều bị băng tuyết dồn ứ và đẩy lên khỏi phần mộ trong tình trạng hoàn toàn lành lặn.

Thêm nữa, cách đây vài thập kỉ, một cơn đại dịch cúm có nguồn gốc từ Tây Ban Nha bỗng bùng phát và lan rộng ra khắp thế giới, tiêu diệt gần 5% dân số toàn cầu chỉ trong vòng 3 năm. Số người dính phải mầm bệnh thậm chí còn cao hơn gấp 5 lần và không ít trong số đó đã di chuyển đến thị trấn Longyearbyen để định cư. Trong số đó, khoảng hơn chục người đã ngã bệnh mà chết, trước khi được chôn cất tại chính nghĩa trang thị trấn trong khoảng thời gian từ năm 1918 đến 1920.

3 thị trấn không cho phép chôn cất người chết: Địa điểm đầu tiên từng được UNESCO công nhận là di sản văn hoá thế giới - Ảnh 4.

Quang cảnh thị trấn Longyearbyen vào năm 1908.

Chính bởi hai lý do trên, chính quyền thị trấn quyết định tuyên bố cấm tuyệt đối việc tổ chức ma chay cho người chết ở trên hòn đảo, nhằm tránh nguy cơ lây lan các căn bệnh truyền nhiễm. Ông Mayer, trong một lần trả lời câu hỏi của tờ báo Daily Mail, đã giải thích rằng: “Mặt đất băng giá khiến thi thể người chết không thể phân hủy được trước khi bị trồi lên mặt đất. Thêm vào đó, nó còn giúp duy trì và ủ mầm bệnh mà người đã khuất mắc phải, từ đó khiến việc lây lan ra cộng đồng dân cư trở nên dễ dàng hơn”. 

Kể từ đó, khu vực nghĩa trang bị đóng cửa hoàn toàn, một đạo luật cũng được ban bố nhằm ngăn chặn bất kỳ công tác chôn cất thi thể người chết diễn ra trong tương lai. Để tránh gây hoang mang, chính quyền cũng cho phép một thông cáo bằng văn bản, rằng người bình thường hoàn toàn được chào đón đến thăm và sinh sống tại hòn đảo, chỉ ngoại trừ người chết mà thôi.

3 thị trấn không cho phép chôn cất người chết: Địa điểm đầu tiên từng được UNESCO công nhận là di sản văn hoá thế giới - Ảnh 5.

Thị trấn Longyearbyen ngày nay

Cũng kể từ đó, những người có dấu hiệu sắp không qua khỏi sẽ được đưa lên đất liền và chính phủ Na Uy sẽ tạo mọi điều kiện hỗ trợ để cái chết đến với họ được nhẹ nhàng nhất. Trong trường hợp việc qua đời trên đảo là điều không thể tránh khỏi, thi thể dĩ nhiên sẽ không được phép chôn cất mà thay vào đó sẽ được hỏa táng thành tro cốt trước khi đem chôn xuống đất. Tuy vậy, điều này cần phải được chính quyền chấp thuận. 

Quy trình thực hiện hỏa táng cũng sẽ trở nên phức tạp hơn, do điều kiện khí hậu trên đảo vô cùng khắc nghiệt và nhiệt độ có thể tụt xuống mức thấp nhất vào mùa đông là -17 độ C. Lúc này, khi số lượng gấu Bắc Cực trở nên đặc biệt lớn, việc hỏa táng cần phải được tiến hành khẩn trương với sự cẩn trọng cao độ.

Hiện tại, du khách vẫn có thể đến thăm thú hòn đảo Na Uy xinh đẹp này, cùng ngắm cực quang phương Bắc đầy ma mị và thưởng thức món kebab đã trở thành đặc sản. Nhưng trong số những việc mà họ được phép làm, chết là điều tuyệt đối nên tránh.

3. Ngôi làng Sellia, vùng Calabria (Ý)

Từng là một vùng đất trù phú với dân cư đông đúc lên tới gần 2.000 người vào những năm 60 của thế kỷ trước, hiện tại thị trấn được thành lập từ thời trung cổ này chỉ còn khoảng 577 người sinh sống. Đa phần cư dân tại ngôi làng nhỏ này đều đã bước sang tuổi 65, trong số đó phổ biến là những phụ nữ trung niên đã góa chồng. Và để tránh tình trạng già hóa dân số đang ngày một trở nên nghiêm trọng cũng như nâng cao nhận thức của người dân về việc chăm sóc sức khỏe, chính quyền thị trấn này đã quyết định đưa ra một quyết sách vô cùng độc đáo.

Năm 2015, thị trưởng thị trấn là ông Davide Zicchinella đã ký đạo luật Ordinanza 11, trong đó ghi rõ “cấm tuyệt đối người ốm xuất hiện trong khu vực thị trấn”. Cái chết bị coi là điều đặc biệt cấm kỵ. Người dân buộc phải tham gia các dịch vụ khám và chăm sóc sức khỏe thường niên. Những ai không tuân thủ hoặc cố ý làm trái đạo luật này sẽ bị đánh thuế thu nhập cao hơn thông thường, đồng thời sẽ phải chịu mức phạt tương đương 10 euro một năm (khoảng 280 nghìn đồng).

3 thị trấn không cho phép chôn cất người chết: Địa điểm đầu tiên từng được UNESCO công nhận là di sản văn hoá thế giới - Ảnh 6.

Hiện tại, thị trấn Sellia chỉ còn khoảng 577 người sinh sống.

Tuy nghe thì có vẻ khôi hài, nhưng thực chất ý định của chính quyền thị trấn Sellia lại hoàn toàn có cơ sở. Thị trưởng Davide lên tiếng trấn an người dân: “Chúng tôi thực hiện quy định này không phải với thái độ đùa cợt, mà thực sự đây là một vấn đề nghiêm trọng, đe dọa đến an ninh của thị trấn. Sellia và những đô thị khác ở phía Nam nước Ý đang chịu cảnh suy giảm dân số vô cùng nan giải và biện pháp này sẽ thúc đẩy người dân có ý thức giữ gìn sức khỏe của mình hơn. Từ đó, họ sẽ có trách nhiệm sống tốt hơn để phục vụ cộng đồng”.

“Những ai có thái độ bất hợp tác hoặc phớt lờ những mối nguy hại đến sức khỏe bản thân sẽ bị yêu cầu đóng thêm thuế thu nhập và chịu những mức phạt cần thiết”, Zicchinella nói. Ông cũng tuyên bố rằng, chính quyền thị trấn sẽ có biện pháp để theo dõi xem liệu người dân có đăng ký khám sức khỏe định kỳ đầy đủ hay không. Bên cạnh đó, hệ thống giao thông công cộng cũng như mạng lưới các bệnh viện, phòng khám cũng được cam kết sẽ nâng cấp sớm về cả chất lượng lẫn quy mô trong thời gian tới, nhằm đáp ứng yêu cầu của quy định mới do chính quyền ban hành.

Có lẽ với lý do hoàn toàn liên quan mật thiết đến y tế công như trên, việc cấm đoán người chết trở nên dễ dàng được chấp nhận hơn, đặc biệt là với những khách du lịch khi đến thăm thị trấn xinh đẹp này.

3 thị trấn không cho phép chôn cất người chết: Địa điểm đầu tiên từng được UNESCO công nhận là di sản văn hoá thế giới - Ảnh 7.

Năm 2015, thị trưởng thị trấn là ông Davide Zicchinella đã ký đạo luật Ordinanza 11, trong đó ghi rõ “cấm tuyệt đối người ốm xuất hiện trong khu vực thị trấn”.

Nguồn: The Vintage News, Oddity Central, The Guardian, TeleSUR

Đọc thêm:

Categories: Chuyện Lạ