Tác giả: Thien Nam

Cơ thể con người là một tiểu vũ trụ kỳ diệu của tạo hóa?

Các trường phái triết học phương Đông nhìn nhận rằng cơ thể người là một tiều vũ trụ, là một bộ phận hữu cơ, đối xứng và đồng nhất với vũ trụ; có cùng bản thể vật lý – tâm linh, tương đồng, liên thông, hoà điệu với vũ trụ.

cơ thể người là một tiểu vũ trụ

Truyện Tam Quốc Diễn Nghĩa, Hồi thứ 103kể:

Đang đêm, Khổng Minh – quân sư nước Thục đang ốm, vẫn ra khỏi lều, ngẩng đầu quan sát thiên văn, ông vô cùng kinh hãi liền vào lều bảo với Khương Duy rằng: “Mệnh ta nội trong sớm tối nay mà thôi!” Duy nói: “Thừa tướng sao lại nói những lời như vậy?”. Khổng Minh nói: “Ta thấy trong sao Tam Đài, sao khách sáng lạn gấp bội, sao chủ u tối, các chòm sao tương phụ nhau, ánh sáng của nó đã mờ tối: thiên tượng như vậy, mệnh ta có thể tự rõ được!”

Cùng lúc đó, Tư Mã Ý—quân sư nước Ngụy đang cố thủ trong một doanh trại khác—bỗng một đêm ngẩng đầu quan sát thiên văn, vô cùng mừng rỡ nói với Hạ Hầu Bá rằng: “Ta thấy sao Tương mất vị trí, Khổng Minh ắt đang mắc bệnh nặng, không lâu sẽ chết.”… Quả nhiên mấy hôm sau Gia Cát Lượng quy tiên.

Không chỉ ở Tam Quốc Diễn Nghĩa, mà trong nhiều cuốn truyện khác đều kể rằng người Trung Hoa cổ đại thường xuyên quan sát thiên văn và các hiện tượng tự nhiên để dự đoán chính xác những biến cố, những vấn đề xảy ra đối với mỗi cá nhân hay của cả đất nước.

Tại sao người Trung Hoa cổ đại có thể làm như vậy? Câu trả lời là giữa con người và vũ trụ có một mối liên hệ hết sức gần gũi.Trong văn hóa truyền thống phương Đông thì cơ thể người được coi là một “tiểu vũ trụ”, có sự kết nối, tương thông với vũ trụ lớn.

Con người đối xứng với vũ trụ

Phát hiện của Leibniz 300 năm trước về phép tích phân đã cho phép nhà vật lý người Hungary Dennis Gabor phát minh ra toàn ảnh (ảnh ba chiều – hologram) vào năm 1948, khám phá này sau đó đã giúp Dennis đoạt giải Nobel. [1]

Thực chất, hologram là một ảnh hai chiều (2D), khi được nhìn dưới những điều kiện chiếu sáng nhất định thì tạo nên một hình ảnh ba chiều (3D) trọn vẹn. Mọi thông tin mô tả vật thể 3D đều được mã hoá trong mặt biên 2D. Như vậy chúng ta có hai thực tại hai chiều và ba chiều tương đương với nhau về mặt thông tin. [2]

Tính chất quan trọng nhất của toàn ảnh (hologram) là nếu chỉ lấy một phần bất kỳ nào của nó, người ta cũng có thể khôi phục được toàn bộ hình ảnh ba chiều của vật. Nghĩa là, theo một khía cạnh nào đó, mỗi phần của toàn ảnh có chứa sự toàn thể.

Sau nhiều năm không hài lòng với cách giải thích các hiện tượng vi mô theo thuyết lượng tử, David Bohm, một trong những nhà vật lý lý thuyết quan trọng nhất của thế ký 20 đi đến kết luận rằng: vũ trụ dường như là một bức toàn ảnh vĩ đại, với mỗi phần trong một toàn thể và một toàn thể lại ở trong mỗi phần. [2]

cơ thể người là một tiểu vũ trụ
(ảnh: phys.org)

Giáo sư khoa học thần kinh Karl Pribram tại Đại học Stanford, Mỹ, tác giả cuốn sách nổi tiếng Các ngôn ngữ của não bộ (Languages of the Brain) đã có các nghiên cứu dẫn đến kết luận quan trọng: trí nhớ không được lưu trữ tại bất kỳ nơi nào trong não bộ, mà bằng một cách nào đó lan truyền và phân bố trong toàn não bộ. Trí nhớ được xem như là những xung lượng thần kinh đan chéo chằng chịt trong não bộ tương tự như những hình ảnh giao thoa tia laser trên một diện tích của toàn ảnh. Nếu như một phần của toàn ảnh có khả năng tái tạo toàn ảnh của một vật, thì mỗi phần của não bộ cũng chứa tất cả thông tin để phục hồi toàn bộ trí nhớ.

Các lý thuyết của Bohm và Pribram đã tạo nên một quan điểm sâu sắc về nhận thức luận đối với thế giới khách quan: toàn bộ vũ trụ là một toàn ảnh, bộ não là một toàn ảnh cuộn vào, trong vũ trụ toàn ảnh (the brain is a hologram enfolded in a holographic universe). [3]

Rộng hơn, mọi thành phần của vũ trụ ở một mức sâu đều liên thông với nhau (interconnectedness) và ngược lại, toàn vũ trụ hiện hữu trong mỗi bộ phận (“whole in every part”). [3]

cơ thể người là một tiểu vũ trụ
GS. Nguyễn Hoàng Phương (ảnh: Internet)

Giáo sư Nguyễn Hoàng Phương (1927-2004), người được coi là “cánh chim đầu đàn” của ngành Vật lý Việt Nam, là người duy nhất và đầu tiên ở Việt Nam sử dụng Đại số tập mờ để nghiên cứu, giải mã và sắp xếp lại Kinh dịch. Trong bộ sách “Tích hợp văn hóa Đông – Tây cho một chiến lược giáo dục tương lai” gồm 5 cuốn sách, dày trên 800 trang, Giáo sư Phương đã luôn khẳng định sự thống nhất, không thể tách rời giữa con người và vũ trụ. Ông cho rằng vũ trụ và con người có sự đối xứng:

“Con người trên hành tinh chúng ta, hay là những “anh em” ở nhiều nơi trong Vũ trụ, theo quan điểm cổ Đông phương, đều là những Vũ trụ con (Tiểu Vũ trụ). Thuật ngữ Tiểu vũ trụ này trong con người không chỉ bao hàm tính phức tạp về cấu trúc, chức năng và quan hệ, mà – trong một chừng mực nào đó – bao hàm tính đối xứng giữa con người chính mình với Vũ trụ. Về cơ bản, con người mang trong lòng nó tất cả các đặc tính cơ bản của Vũ trụ. Một lần nữa, chúng ta thấy thêm một biểu hiện nữa của hiện tượng toàn đồ (toàn ảnh – hologram) là quan điểm của cái bộ phận mang trong lòng nó các đặc tính của cái toàn bộ, như trong quan điểm đơn thể và hợp thể của Lão Tử.” [4]

Quan điểm Thiên – Địa – Nhân hợp nhất

Lão Tử
(Hình minh họa: Qua chuanme)

Lão Tử từng giảng: “Người thuận theo Đất, Đất thuận theo Trời, Trời thuận theo Đạo, Đạo thuận theo Tự nhiên”

Giáo sư Nguyễn Hoàng Phương cho rằng:

“Theo Lão Tử, sự tích hợp giữa con người và vũ trụ là biểu hiện cao nhất của nguyên lý xem mọi bộ phận đều đồng nhất với toàn bộ, cái đơn thể đồng nhất với cái hợp thể, cái đơn thể là hợp thể, cái hợp thể là đơn thể. Tất cả mọi thứ, đến mức tột cùng, đều thành MỘT (người viết: tạm hiểu là khái niệm Thái cực trong lý thuyết Đạo gia), và cái Tôi của chúng ta sẽ là một cái Tôi, chỉ khi nào nó hòa đồng vào tất cả cái Tôi khác. Sự hòa đồng đó của cái Tôi, sự xâm nhập vào nhau giữa tất cả các đơn thể khác nhau đó sẽ tạo nên cái hài hòa của Vũ trụ. Trong Vũ trụ hài hòa đó, mỗi vật đêu chứa đựng mọi vật khác.

Với triết học Lão Tử, con người thuần nhất là con người nào hòa đồng được với Vũ trụ hài hòa, tham gia được vào cái Vũ trụ hài hòa đó. Người đó sẽ tìm thấy cái đơn giản sơ khai, cái nguyên thủy của bản thân mình.” [4]

Ngày nay, các nhà nghiên cứu về trường sinh học của cả phương Tây lẫn phương Đông cho rằng vũ trụ cũng như con người là đồng cấu – giống nhau về cấu tạo và quy luật vận hành, dù ở dạng vật chất hữu hình hay vật chất vô hình, năng lượng hay thông tin, vật lý hay tâm linh. Con người sinh ra từ vũ trụ, trong môi trường vũ trụ, chịu ảnh hưởng cũa vũ trụ không chỉ ở mặt hữu hình, vật lý, mà còn ở dạng năng lượng, thông tin, vật chất vô hình, mang tính tâm linh. [4]

Tiến sỹ Babara Ann Brenna, nguyên chuyên viên khoa học Trung tâm bay thuộc Cơ quan Hàng không Vũ trụ Hoa Kỳ (NASA), chuyên gia trong lĩnh vực trường năng lượng sinh học của con người. Trong cuốn sách “Những bàn tay ánh sáng” (Hands of Light) được giới khoa học nghiên cứu nhân thể và tâm linh đánh giá rất cao, Tiến sỹ Babara qua quan sát hào quang cơ thể người, cho rằng, con người có 7 cơ thể vô hình tương ứng với 7 vầng hào quang và 7 luân xa chính – là những điểm đặc biệt trên cơ thể, khi chúng được khai mở, con người có khả năng thu nhận nguồn năng lượng vô tận từ vũ trụ. [6] 7 cơ thể vô hình bao gồm:

  1. Cơ thể Etheric (liên quan đến hoạt động bản năng, phản xạ và điều khiển tự động của các cơ quan nội tạng)
  2. Cơ thể Cảm xúc (liên quan đến cảm giác như khoái lạc, sợ hãi buồn, giận, lo, vui, tình yêu…)
  3. Cơ thể Tâm thần (liên quan đến tư duy lý tính, phân tích giản đơn)
  4. Cơ thể Tinh tú (liên quan đến cảm xúc yêu thương, không chỉ có vợ chồng mà có cả nhân loại nói chung)
  5. Cơ thể Etheric mẫu (liên quan đến tâm thức biểu hiện dạng ý thức cao cấp về sự vật xuyên qua bề ngoài của chúng)
  6. Cơ thể Thiên (liên quan đến cảm xúc cao cấp như tình thương bao la trùm lên mọi sự sống trong vũ trụ)
  7. Cơ thể Ketheric (liên quan đến các quan điểm cao cấp về tri thức (tổng hợp) và hệ thống đức tin)
Bảy cơ thể vô hình tương ứng với bảy vầng hào quang Babara Anna Brenna nhìn thấy (ảnh: Internet)

Không chỉ có Babara Anna Brenna, một số nhà nghiên cứu và thực hành năng lượng sinh học của con người cũng có nhận định tương tự về các cơ thể vô hình của con người, sự kết nối của năng lượng cơ thể với vũ trụ, như Jack Schwarz trong cuốn sách “Các Hệ Thống Năng Lượng Con Người”; và Rosalyn Bruyère thuộc Trung Tâm Chữa Trị Bằng Ánh Sáng, Glendale, California trong cuốn sách nhan đề “Bánh Xe Ánh Sáng, Công Trình Nghiên Cứu Về Luân Xa.” [6]

Vầng hào quang của cơ thể người mà Babara Anna Brenna nhìn thấy (ảnh: Internet)
Vị trí 7 luân xa chính và 21 luân xa phụ trong cơ thể người, nơi có thể hấp thụ năng lượng từ vũ trụ (ảnh: Internet)

Quỹ đạo chuyển động của vật thể và cấu trúc xoắn của vũ trụ

Khoa học đã phát hiện ra sự tương đồng giữa quỹ đạo chuyển động của các hành tinh và quỹ đạo chuyển động của các vi hạt. Chẳng phải cách mà các hành tinh quay quanh Mặt Trời cũng giống hệt như cách các electron trong cơ thể con người chuyển động quanh hạt nhân nguyên tử hay sao? Những mô thức này tồn tại ở cả vũ trụ vĩ mô và thế giới vi mô.

Câu hỏi đặt ra là ai đã gia lực cho các hành tinh và các electron để chúng có thể tự chuyển động mãi không dừng? Liệu có phải cùng một tác giả đã tạo ra cả thế giới vĩ mô và vi mô theo cùng một cơ chế?

Ngoài ra, ta còn thấy các thiên hà trong vũ trụ đều có mô hình xoắn ốc, các cơn bão, cơn lốc, vòi rồng hay các dòng hải lưu cũng tồn tại dưới hình xoắn ốc.

Các nhà nghiên cứu nhân thể học cũng phát hiện rằng ở con người, tồn tại rất nhiều đường xoắn ốc, như đường xoắn ốc trong bào thai, đường xoắn ốc của tai, đường xoắn ốc của chuỗi phân tử AND…

(ảnh qua Meinbezirk.at)

Nhận xét về chuyển động xoắn ốc của vũ trụ, Giáo sư Nguyễn Hoàng Phương cho rằng vũ trụ như một dòng nước đang cuồn cuộn chảy, ở đây có hàng triệu cơn xoắn lốc. Mỗi vật thể, kể cả con người, không có cái nào vĩnh hằng, mọi thứ đều đang thay đổi, tạo nên những quá trình xoắn lốc tán rồi tụ, tụ rồi tán…[4]

Ngũ hành cấu tạo nên vạn vật và cũng cấu tạo nên cơ thể người

Khoa học cổ đại Trung Quốc cho rằng ngũ hành (Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ) cấu tạo nên vạn sự vạn vật.

Sơ đồ tương sinh tương khắc của ngũ hành
Ngũ hành và ngũ tạng

Các thầy thuốc Đông y ngày xưa tin vẫn dựa vào cơ chế ngũ hành tương sinh, tương khắc để điều trị rất nhiều căn bệnh và các triệu chứng phức tạp mà Tây y không không thể giải tích, ví dụ:

Ứng dụng trong Triệu chứng học: Căn cứ vào Bảng quy loại của Ngũ hành (Bảng 1), người ta phân loại triệu chứng bệnh để xem xét mối quan hệ của các triệu chứng ấy theo qui luật của Ngũ hành. Thí dụ: Can (gan) có quan hệ với Đởm (mật), chịu trách nhiệm hoạt động của gân cơ (chủ cân), tình trạng công năng của can thể hiện ra mắt (khai khiếu ra mắt), móng tay móng chân (vinh nhuận ra móng), có liên quan đến tính khí giận dữ… Do đó, các triệu chứng co giật, mắt đỏ, móng khô, nóng tính bất thường,… là triệu chứng của Can, vì Đởm, gân cơ, mắt, móng, tính khí giận dữ… tất cả đều cùng thuộc Hành Mộc.

Ứng dụng vào việc điều trị bệnh: Điều trị bệnh chủ yếu dựa vào nguyên tắc: “Con hư bổ mẹ, mẹ thực tả con”. Thí dụ: Phế yếu (Phế Hư) phải làm mạnh Tỳ Vị lên (Kiện Tỳ) gọi là nguyên tắc Bồi Thổ sinh Kim. Nguyên tắc này được ứng dụng nhiều nhất trong lĩnh vực Châm cứu…

Nguồn gốc vũ trụ của con người?

Không chỉ ở phương Đông, ở phương Tây, các nhà chiêm tich học trong lịch sử cũng quan sát thiên văn để dự đoán về các biến đổi ở nhân gian.

Điều này chứng tỏ, văn hóa cả phương Tây và phương Đông đều cho rằng giữa con người và vũ trụ có một mối liên hệ đặc biệt. Vậy mối liên hệ ấy do đâu mà có?

Trong cuốn sách có tựa đề “Con người không đến từ Trái Đất: Sự đánh giá của khoa học về chứng cứ”, Tiến sĩ Ellis Silver, đã đưa ra giả thuyết rằng nguồn gốc của con người không phải là ở địa cầu mà thuộc về những nơi xa xôi nào đó trong vũ trụ. [7]

Cuốn sách “Con người không đến từ Trái Đất: Sự đánh giá của khoa học về chứng cứ” của Ellis Silver (ảnh: amazon.com)

Trả lời phỏng vấn, Ellis Silver cho biết, những nhược điểm sinh học của loài người “tố cáo” rằng họ vốn không phải được sinh ra trên Trái Đất này. “Nhân loại là giống loài tiến hóa nhất trên hành tinh xanh, nhưng bất ngờ là họ không thích hợp và yếu ớt trước môi trường Trái Đất: dễ bị ánh nắng tổn hại, đặc biệt không thích những thực phẩm mọc hoang, có tỷ lệ mắc bệnh kinh niên cao và nhiều thứ khác nữa.”

Trong cuốn sách, Tiến sĩ Silver cũng đề cập đến một điểm đặc biệt: nhiều người thường nghĩ rằng họ không thuộc về Trái Đất, và Trái Đất dường như không phải là nhà của họ.

Theo một nghiên cứu được công bố trên Kỷ yếu của Viện hàn lâm Khoa học Quốc Gia, Hoa Kỳ, các nhà khoa học đã phát hiện 19 đoạn ADN, tương đương 8% số ADN của chúng ta không có nguồn gốc của con người. Những đoạn mã gen kỳ lạ này không được mã hóa, không thuộc nguồn gốc nào trên Trái Đất, hơn nữa chúng cũng không có sơ đồ tiến hóa thường thấy như ở ADN người. Khi các nhà khoa học cố định lại, các đoạn mã ADN ngoại lai này giữ nguyên tình trạng, không hề thay đổi. Những mã gen này được gọi là ADN ngoài hành tinh. [8]

Nhóm chuyên gia ở Đại học Cardiff (Anh) do giáo sư Chandra Wickramasinghe đứng đầu trong quá trình nghiên cứu đã đi đến kết luận rằng loài người có nguồn gốc ngoài Trái đất và thuộc về một nhánh của các sinh mệnh ngoài hành tinh. Báo cáo của ông và các đồng sự được viết trong cuốn sách: “Our Cosmic Ancestry in the Stars – Tổ tiên vũ trụ của chúng ta trong các ngôi sao”. [9]

Đổng Trọng Thư (179 TCN – 104 TCN) một đại diện tiêu biểu của Nho học Trung Quốc cho rằng Trời sinh ra người, Trời dựa theo cấu tạo của bản thân mà sáng tạo ra người. Điều này cũng tương hợp với các truyền thuyết dân gian của các dân tộc trên thế giới, hay các điển tích của tín ngưỡng và tôn giáo (Do Thái Giáo, Thiên Chúa Giáo, tín ngưỡng Nữ Oa thần, kinh Vệ Đà) với thuyết cho rằng các vị thần đã tạo ra thân thể con người dựa trên hình dáng bản thân mình và truyền cấp cho con người ý thức/linh hồn/nguyên thần để làm chủ cái thân thể đó. [7]

Đây có lẽ là nguyên nhân vì sao mà con người và vũ trụ có một mối liên hệ hết sức hữu cơ.

Tìm hiểu nghệ thuật Phục Hưng kỳ I: Nhà nguyện Sistine và bức "Chúa trời tạo ra Adam"
Bức “Chúa trời tạo ra Adam” (Ảnh: Wikipedia)

Liệu con người có thể quay về với vũ trụ?

Quan điểm “con người là một tiểu vũ trụ” là một quan niệm sâu sắc, ở đó con người và vũ trụ có sự đối ứng, con người là một bộ phận của vũ trụ, tương thông, hòa điệu cùng với vũ trụ và có nguồn gốc từ vũ trụ. Vậy, câu hỏi đặt ra ở đây là, nếu con người là một tiểu vũ trụ, thì tiểu vũ trụ ấy được tạo ra vì mục đích gì?

Theo tiến sĩ Silver, có thể Trái Đất là một hành tinh đóng vai trò như “nhà tù”, do con người dường như là loài có khuynh hướng bạo lực một cách tự phát, nên phải bị đày đến đây để học cách cư xử đúng đắn hơn.

Hầu hết các tín ngưỡng, tôn giáo đều cho rằng con người luân hồi trong thế giới này là sống trong mê (bị mất đi ký ức xa xưa, quên mất mình là ai) và phải chịu khổ.

Một môn khí công trường phái Phật gia cho rằng con người thuần khiết, lương thiện vốn được sinh ra trong vũ trụ, nhưng do họ biến chất trở nên xấu nên mới bị rớt xuống trái đất này để chịu tội khổ, và việc thực hành tu luyện “phản bổn quy chân” sẽ giúp cho họ khai mở trí huệ, được giải thoát, có thể trở về với “thiên quốc” – nơi họ đã sinh ra trong vũ trụ, đây chính là mục đích tồn tại chân chính của sinh mệnh con người. [10]

(ảnh: Shutterstock)

Thời cổ đại có không ít cao nhân, kỳ nhân có khả năng tiên đoán chính xác được sự tình sắp xảy ra trong tương lai. Họ trên tinh thông thiên văn dưới tường địa lý, liệu sự như thần. Những cao nhân, kỳ nhân ấy lại không phải những chuyên gia, học giả nơi thế gian con người mà hầu hết họ đều là những ẩn sĩ, thế ngoại cao nhân đã trải qua quá trình tu luyện lâu dài. Quân sư Gia Cát Lượng được đề cập đến trong phần đầu của bài viết cũng chính là một người tu Đạo. [11]

Tu luyện chính là nâng cao đạo đức, loại bỏ những tư tưởng xấu trong tâm con người, khi tâm của một người thực sự đạt đến mức độ thuần tịnh (sạch sẽ, không bị hỗn tạp) thì trí huệ của họ sẽ được khai sáng. Kỳ thực, tu luyện cũng chính là khoa học siêu thường, vượt trên khoa học thực chứng hiện đại. Đây là nền khoa học dựa trên tiêu chuẩn đạo đức cao thượng, nghiên cứu trực tiếp vào nhân thể, sinh mệnh và vũ trụ, có thể mang đến những thành tựu vượt bậc cho xã hội con người và cũng khiến cho con người có thể câu thông với vũ trụ và trở về thế giới ban đầu của mình trong vũ trụ bao la. [10]

Kết luận

Các trường phái triết học phương Đông nhìn nhận rằng cơ thể người là một tiều vũ trụ, là một bộ phận hữu cơ, đối xứng vàđồng nhất với vũ trụ; có cùng bản thể vật lý – tâm linh, tương đồng, liên thông, hoà điệu với vũ trụ. Những nghiên cứu về toàn ảnh, thuyết Thiên – Địa – Nhân hợp nhất, cấu trúc xoắn của vũ trụ và thuyết ngũ hành bên trên đã làm sáng tỏ luận điểm này.

Khi nhìn nhận con người là một tiểu vũ trụ, ta có thể có được giải thích về nguồn gốc vũ trụ của con người đồng thời cũng có được lý giải về mục đích tồn tại của con người – vốn vẫn là ẩn đố nhân sinh lớn nhất của nhân loại.

Chỉ khi nào con người không coi mình là tâm điểm của vũ trụ, không bằng mọi giá để chiến thắng và cải tạo thiên nhiên, mà hòa mình vào với thiên nhiên, đồng thời cải biến bản thân thì con người mới có được hiểu biết minh triết về bản thân mình và vũ trụ.

Thiện Tâm tổng hợp

Tài liệu tham khảo:

  • [1] N. Rescher,”G. W. Leibniz’s Monadology,” University of Pittsburgh Press, 1991.
  • [2] Quantum questions: “Mystical Writings of the World’s Great Physicists”, edited by Ken Wilber, 2001.
  • [3] GS-TS. Cao Chi, “Thi sĩ William Blake và vũ trụ toàn ảnh”
  • [4] Nguyễn Hoàng Phương, “Tích hợp văn hóa Đông Tây cho một chiến lược giáo dục tương lai”, NXB GD 1995
  • [6] Babara Ann Brenna, “Những bàn tay ánh sáng“
  • [7] Nguồn gốc của con người không phải từ trái đất – TTVN, 10/07/2018
  • [8] Julia Halo Wildschuttea, Zachary H. Williamsb, Meagan Montesionb , Ravi P. Subramanianb , Jeffrey M. Kidda,c, and John M. Coffinb: “Discovery of unfixed endogenous retrovirus insertions in diverse human populations”,https://www.pnas.org
  • [9] Ph.D., Chandra Wickramasinghe (Author), Kamala Wickramasinghe (Author), & 1 more,”Our Cosmic Ancestry in the Stars: The Panspermia Revolution and the Origins of Humanity”
  • [10] Sách Chuyển Pháp Luân,http://vi.falundafa.org
  • [11] “Nhân loại và văn hóa Tu luyện”, TTVN, 25/1/2019

Xem thêm :

Categories: Vũ Trụ Kỳ Ảo

Một nền văn minh vượt bật Trái đất đã từng tồn tại trên Sao Hỏa ?

Nền văn minh tồn tại trên Sao Hỏa đã là chủ đề tranh cãi nhiều thập kỷ qua, bởi đã xuất hiện nhiều hình ảnh về các phế tích, các kiến trúc có hình dáng kim tự tháp, cho đến số lượng lớn những người có danh tiếng đã bước ra tiết lộ thông tin, thậm chí cho rằng từng tồn tại các nền văn minh trên hành tinh đỏ.

Vì sao người ta cho rằng có thể đã từng tồn tại nền văn minh trên sao Hỏa?
(ảnh: NASA/JPL/Corby Waste)

Trong những năm qua, sao Hỏa đã hé lộ nhiều bí mật khiến chúng ta phải chú ý tới hành tinh này. Có vô số khám phá đã được thực hiện trên bề mặt của sao Hỏa, nhưng lại mang đến cho chúng ta nhiều câu hỏi hơn về hành tinh láng giềng của Trái Đất.

Những vệ tinh kỳ lạ của sao Hỏa

“Một ngày” trên sao Hỏa dài 24 giờ và 37 phút. Sao Hỏa có 2 vệ tinh mà một số nhà khoa học tuyên bố chúng là sản phẩm nhân tạo được phóng lên từ xa xưa và được một nền văn minh tiên tiến ngoài Trái Đất sử dụng như là các trạm không gian.

Một trong những lập luận chính ủng hộ giả thuyết “điên rồ” này là: một trong những vệ tinh của sao Hỏa có tên Phobos đang chuyển động nhanh gấp 4 lần bản thân hành tinh này.

Vì sao người ta cho rằng có thể đã từng tồn tại nền văn minh trên sao Hỏa?
Phobos, vệ tinh hình củ khoai tây chuyển động hơn 3 vòng quanh sao Hỏa mỗi ngày (ảnh: Wikipedia.org)

Điều này rất kỳ lạ bởi vì không có một vệ tinh tự nhiên mà chúng ta đã từng biết có vận tốc cao hơn hành tinh mẹ.

Một yếu tố khác mà các nhà nghiên cứu không thể giải thích là hiện tượng một vệ tinh của sao Hỏa lại giảm vận tốc khi di chuyển ra xa khỏi sao Hỏa.

Thật thú vị, theo Tiến sĩ S. Fred Singer, cố vấn đặc biệt cho cựu Tổng thống Hoa Kỳ Eisenhower, Phobos có thể là một vệ tinh nhân tạo phóng lên quỹ đạo một thời gian dài trước đây bởi một nền văn minh sao Hỏa tiên tiến.

Tuy nhiên, ông Singer không phải là người đầu tiên thấy những biểu hiện lạ của các mặt trăng sao Hỏa. Những tuyên bố đầu tiên được đưa ra bởi nhà vật lý thiên văn người Xô Viết Iosif Samuilovich Shklovsky, ông tin rằng có thiết kế thông minh hiện diện trên Phobos.

(ảnh: ancient-code.com)

Những công trình đáng ngờ

Buzz Aldrin, người thứ hai đặt chân lên mặt trăng, đã làm ngạc nhiên nhiều người qua tuyên bố: “Chúng ta nên đến thăm mặt trăng của sao Hỏa, có một khối cự thạch ở đó, một kiến trúc rất bất thường trên vật thể hình củ khoai tây xoay quanh sao Hỏa với chu kỳ 7 giờ/vòng. Khi người ta nhìn thấy nó, họ sẽ hỏi, ‘Ai đã đặt nó ở đó? Ai đã đặt nó ở đó?” Vâng, vũ trụ đặt nó ở đó, hoặc bạn cũng có thể nói Chúa đặt nó ở đó.”

Vì sao người ta cho rằng có thể đã từng tồn tại nền văn minh trên sao Hỏa?
(ảnh: ancient-code.com)

Những bí ẩn xung quanh sao Hỏa và vệ tinh của nó là rất nhiều, nhưng những phát hiện kỳ ​​lạ nhất lại nằm trên bề mặt hành tinh này.

Một số hình ảnh của NASA chụp trên bề mặt sao Hỏa, đã gây tranh cãi lớn. Nhiều nhà nghiên cứu và tìm kiếm người ngoài hành tinh đã tuyên bố tìm thấy bằng chứng về cây cối, nước, kim tự tháp, đường ống, các tòa nhà bí ẩn và vật thể, vô số những điều dị thường mà đáng lẽ không nên ở đó.

Vì sao người ta cho rằng có thể đã từng tồn tại nền văn minh trên sao Hỏa?
(ảnh: ancient-code.com)
Vì sao người ta cho rằng có thể đã từng tồn tại nền văn minh trên sao Hỏa?
(ảnh: ufosightingsdaily.com)
Vì sao người ta cho rằng có thể đã từng tồn tại nền văn minh trên sao Hỏa?
(ảnh: ufosightingsdaily.com)

Những nhà nghiên cứu người ngoài hành tinh tuyên bố rằng NASA đã thay đổi màu trong ảnh sao Hỏa để che giấu bầu trời của nó và các điều kiện khí quyển giống như Trái Đất.

Nhiều người tin rằng chúng ta không được cung cấp đầy đủ thông tin về sao Hỏa, và sự thật đã bị giấu kín.

Nam tước William Cooper và John Lear đã cáo buộc NASA che giấu thông tin về sao Hỏa trong một văn kiện được ký kết vào năm 1989 với Tổng thống Bush.

Một nhân vật nổi bật khác đã có những tuyên bố đáng kinh ngạc là Gordon Novel, cựu thành viên của bộ quốc phòng Hoa Kỳ. Ông nói rằng cả NASA và chính phủ Hoa Kỳ đã đưa con người đến sao Hỏa trong nhiều năm trước.

Video về những tàn tích của các bức tường trên sao Hỏa:

Theo những tin rò rỉ “nội bộ”, NASA đang sử dụng tàu vũ trụ hình nón, chúng chỉ mất 33 giờ để tới được sao Hỏa và con người đã khai thác được năng lượng vĩnh cửu trong hơn 60 năm.

Tiến sĩ O’Leary, người đã trở thành giáo sư Vật lý danh tiếng tại Đại học Princeton sau khi rời khỏi NASA, đã từng nói: “Có nhiều bằng chứng cho thấy chúng ta đang được người ngoài hành tinh liên lạc. Các nền văn minh đã theo dõi chúng ta trong một thời gian rất dài và sự xuất hiện của họ là kỳ quặc khi xét từ quan điểm duy vật truyền thống của phương Tây.”

(ảnh qua: ancient-code.com)

“Có những cấu trúc trên bề mặt sao Hỏa. Tôi sẽ cho bạn biết rằng có ghi nhận được những cấu trúc bên dưới bề mặt của sao Hỏa mà các máy quay trên tàu Voyager năm 1976 không thể nhìn thấy. Tôi cũng sẽ nói với bạn rằng có những cỗ máy trên bề mặt của sao Hỏa và có những cỗ máy bên dưới bề mặt mà bạn có thể thấy, bạn có thể tìm hiểu chi tiết, bạn có thể nhìn thấy chúng là gì, chúng ở đâu, chúng là ai và rất nhiều chi tiết về chúng.” (Dolan, Richard. Sách “UFOs và Tình hình An ninh Quốc gia”, NXB Richard Dolan)

Theo ancient-code,
Thiện Tâm tổng hợp

Xem thêm :

Rùa khổng lồ tưởng tuyệt chủng 100 năm trước nay “tái xuất giang hồ” trong sự ngỡ ngàng của khoa học

Rùa khổng lồ tưởng tuyệt chủng 100 năm trước nay "tái xuất giang hồ" trong sự ngỡ ngàng của khoa học

Lần cuối cùng loài rùa này xuất hiện là vào năm 1906. Vậy mà nay, chúng lại một lần nữa hiện ra trước mắt các nhà khoa học.

Nhiều sinh vật đã biến mất trong hành trình phát triển của loài người. Tuy nhiên, đâu đó vẫn còn điều kỳ diệu có thể xảy ra. Như trường hợp của rùa khổng lồ trên đảo Fernandina chẳng hạn.

Loài rùa này vốn được cho là đã tuyệt chủng từ hơn 100 năm trước, với trường hợp cuối cùng được nhìn thấy vào năm 1906. Nhưng chỉ vài ngày trước, một cá thể rùa Fernandina đã xuất hiện trên ngay chính hòn đảo này, tại công viên bảo tồn quốc gia Galápagos thuộc quần đảo Galápagos Thái Bình Dương, trong sự ngỡ ngàng của khoa học.

Rùa khổng lồ tưởng tuyệt chủng 100 năm trước nay tái xuất giang hồ trong sự ngỡ ngàng của khoa học - Ảnh 1.

Trên thực tế thì năm 2009, đã từng có thông tin về sự xuất hiện của rùa khổng lồ, nhưng khoa học vẫn còn chần chừ. Còn nay, các đội nghiên cứu đã tìm thấy bằng chứng – bao gồm phân, vết cắn … để chứng minh rằng có nhiều hơn một con rùa khổng lồ đang sống trên đảo này.

“Việc bảo tồn rùa Fernandina đã là công việc của tôi trong 29 năm qua, và tôi đã tham gia rất nhiều sự kiện hấp dẫn, bao gồm việc tìm ra loài rùa mới. Nhưng tất cả đều không thể so với cảm giác vào lúc này,” – Wacho Tapia, giám đốc chương trình Khôi phục rùa khổng lồ tại khu bảo tồn Galápagos cho biết.

“Tìm ra một con rùa khổng lồ Fernandina thực sự là phát hiện lớn nhất thế kỷ. Cá thể cuối cùng được tìm thấy trước kia đã từ 112 năm trước rồi.” – ông cho biết.

“Giờ chúng ta chỉ cần xác nhận nốt mẫu gene của cụ rùa cái này là xong. Cụ già rồi, nhưng vẫn khỏe.”

Rùa khổng lồ tưởng tuyệt chủng 100 năm trước nay tái xuất giang hồ trong sự ngỡ ngàng của khoa học - Ảnh 2.

Đảo Galápagos trước kia cũng rất nổi tiếng vì sự tồn tại của rùa khổng lồ. Ngay cả từ “Galápagos” cũng bắt nguồn là một từ tiếng Tây Ban Nha cổ có nghĩa là “rùa”. Tuy nhiên, thực ra thì trên đảo vốn có tới 15 loài rùa khổng lồ khác nhau.

Tuỳ theo địa điểm sinh sống mà các loài rùa này sẽ có hình dáng khác nhau. Những loài sống trên các vùng đất cao và ẩm sẽ có một bộ mai cứng, cong vòm, cổ ngắn và chủ yếu ăn thực vật mọc thấp dưới đất. Còn các loài sống tại vùng khô, bằng phẳng thì có mai phẳng hơn, cổ dài hơn để ăn thực vật mọc trên cao.

Đảo Galápagos trước kia cũng là một nguồn tư liệu quý giá để Charles Darwin viết ra cuốn sách về chọn lọc tự nhiên. Đơn giản là vì hòn đảo này có một hệ sinh thái hết sức đặc biệt, với nhiều loài vật chỉ tồn tại được ở đây thôi.

Tham khảo: IFL Science

Xem thêm:

12 thuyết âm mưu điên rồ hóa ra lại là sự thật

Không phải ngẫu nhiên mà người ta nói rằng sự thật đôi lúc còn lạ đời hơn cả những điều hư cấu. 

thuyết âm mưu

Có những thuyết âm mưu tưởng như vô lý nhưng lại thật sự xảy ra.

1. Sự kinh dị của “Dự án ánh dương”

âm mưu hạt nhân

Khi tỉnh Hiroshima và Nagasaki bắt đầu vực dậy sau hai quả bom nguyên tử, chính phủ Mỹ cũng kích hoạt một nghiên cứu nhằm đo lường tác động của phóng xạ hạt nhân lên cơ thể người.

Âm mưu: Chính phủ đã đánh cắp tử thi để làm các xét nghiệm phóng xạ.

Sự thật: Chính phủ đánh cắp một phần cơ thể tử thi. Do nhu cầu về các mô trẻ, họ đã xây dựng một mạng lưới toàn cầu nhằm tìm kiếm xác trẻ em mới chết, sau đó tiến hành lấy mẫu, thậm chí là lấy luôn toàn bộ cả chân tay tử thi. Họ thu thập mẫu mà không cần thông báo hay sự cho phép của hơn 1500 gia đình nạn nhân.

Thế giới mới chỉ bừng tỉnh về lịch sử khoa học rùng rợn của dự án có tên “ánh dương” (Project Sunshine) vào nửa sau của thế kỷ này, nhưng cho đến hiện tại vẫn còn đó nhiều bí ẩn chưa thể giải thích được.

2. Rượu độc

đầu độc rượu

Âm mưu: Trong thời kỳ cấm rượu, chính phủ Mỹ đã tiến hành đầu độc nhằm ngăn chặn tiêu thụ rượu.

Sự thật: Các công ty sản xuất rượu công nghiệp thật ra đã trộn sản phẩm với các hóa chất nguy hiểm từ lâu trước khi có lệnh cấm. Tuy nhiên, trong khoảng thời gian từ năm 1926 đến 1933, chính phủ liên bang Mỹ đã thúc đẩy các nhà sản xuất tăng liều lượng độc tố nhằm giảm sức tiêu thụ rượu.

Vậy nhưng điều này vẫn không ngăn cản được cung và cầu rượu lậu, cuối cùng thì, hơn 10.000 người Mỹ đã chết bởi “rượu bẩn”. Phần lớn rượu bất hợp pháp được bán tại các điểm đêm có tên “speakeasies” – nơi mà tại đó, mọi người sẽ phải hoạt động rất khẽ khàng nhằm tránh sự chú ý của cảnh sát và những người xung quanh.

3. Đệ nhất phu nhân đầu tiên lãnh đạo đất nước

nữ tổng thống Mỹ

Âm mưu: Đột quỵ khiến Tổng thống Mỹ Woodrow Wilson mất khả năng điều hành đất nước, và vợ ông đã bí mật đưa ra những quyết định thay chồng.

Sự thật: Wilson đã bị suy nhược vào cuối nhiệm kỳ tổng thống nhưng chính phủ cảm thấy giữ im lặng là điều tốt nhất cho đất nước lúc bấy giờ.

Công chúng trong suốt một thời gian không hề hay biết về sự đột quỵ này. Khi đó, vợ ông, bà Edith Wilson đã thay chồng đưa ra hầu hết các quyết định lãnh đạo.

Mặc dù bà Wilson tuyên bố bà chỉ hành động như một người “quản gia”, nhưng các nhà sử học khi tiến hành phân tích đã xác nhận rằng trong hơn một năm, bà Wilson đã đóng vai trò của tổng thống, một cách hiệu quả. Dù không thông qua bầu cử chính thức, có thể nói, Edith Wilson là nữ tổng thống đầu tiên của nước Mỹ.

4. Kiểm soát tư duy chính phủ

âm mưu ảo giác

Âm mưu: CIA đã thử nghiệm các loại thuốc gây ảo giác (như LSD) đối với công dân Mỹ trong một thí nghiệm tuyệt mật về việc điều chỉnh hành vi nhận thức.

Sự thật: Chương trình này có thật, mang tên MK-ULTRA.

CIA sử dụng các tình nguyện viên để tiến hành thí nghiệm – tiểu thuyết gia nổi tiếng Ken Kesey là một trong số đó. Sau chương trình, do tác dụng của dùng thuốc thiếu kiến thức, nhiều nạn nhân đã phải chịu di chứng suốt đời.

5. Mức lương ấn tượng của Đức Đạt Lai Lạt Ma

Lạt Ma là gián điệp

Âm mưu: Đức Đại Lai Lạt Ma là điệp viên CIA.

Sự thật: Có lẽ lý do khiến Đức Đại Lai Lạt Ma có thể cười tươi trong hầu hết những bức ảnh phần nào liên quan đến mức lương sáu con số mà chính phủ Hoa Kỳ chi trả cho ông trong những năm 1960.

Theo một số tài liệu tình báo, ông đã kiếm được 180.000 đô la, liên quan đến mức tài trợ của CIA cho Kháng chiến Tây Tạng với thỏa thuận 1,7 triệu đô la mỗi năm. Ý tưởng là để phá vỡ và cản trở các cơ sở hạ tầng của chính phủ Trung Quốc.

Đức Đạt Lai Lạt Ma được cho là có năng lực lựa chọn thân xác mà Ngài đầu thai. Ngày nay, hàng triệu người, thuộc nhiều tôn giáo, đều tin vào thuyết đầu thai.

6. John Lennon từng phải chịu sự giám sát của chính phủ

John Lennon bị theo dõi

Âm mưu: FBI từng theo dõi John Lennon, thành viên nhóm nhạc đình đám một thời The Beatles.

Sự thật: Giống như nhiều anh hùng phản văn hóa khác, Lennon bị coi là một mối đe dọa. Thật ra thì nhưng bài hát phản chiến của ông như Give Peace a Chance không hoàn toàn là nguyên nhân khiến cựu thành viên The Beatles bị chính quyền Nixon đưa vào tầm ngắm.

Năm 1971, FBI đưa John Lennon vào danh sách cần theo dõi. Cơ quan Di trú và Nhập tịch đã cố gắng trục xuất ông trong một năm sau đó.

Năm 1957, John Lennon và Paul McCartney gặp nhau tại một bữa tiệc ở Woolton, không xa nơi đó là mộ của Eleanor Rigby. Đây hẳn là một sự trùng hợp khá kỳ lạ.

7. Chính phủ đang theo dõi công dân

theo dõi công dân

Âm mưu: Với sự tiến bộ của khoa học công nghệ, chính phủ Mỹ đang sử dụng các nguồn lực thông tin khổng lồ để theo dõi công dân.

Sự thật: Năm 2016, các cơ quan chính phủ đã gửi 49.868 yêu cầu dữ liệu người dùng tới Facebook, 27.850 cho Google và 9.076 cho Apple. Thông tin được đưa ra bởi Electronic Frontier Foundation (EFF), một tổ chức phi lợi nhuận lớn, bảo vệ quyền tự do dân sự trong thế giới kỹ thuật số và tư vấn cho công chúng về các vấn đề riêng tư internet.

8. Trận đánh giả, chiến tranh thật

sự kiện Vịnh Bắc Bộ

Âm mưu: Sự kiện Vịnh Bắc Bộ ngày 2/8/1964 bị làm giả để kích động sự ủng hộ của Mỹ đối với Chiến tranh Việt Nam.

Sự thật: Vào thời điểm tin tức đến tai người Mỹ, sự thật xung quanh cuộc tấn công của quân Bắc Việt vào tàu Hải quân Mỹ Maddox đã dần mờ nhạt. Các tài liệu tình báo tiết lộ rằng, tàu khu trục Maddox đã cung cấp viện trợ chiến tranh cho quân Nam Việt trên một hòn đảo gần đó. Theo Viện Hải quân Mỹ, quân Bắc Việt sau đó đã có những phản ứng cụ thể.

Sự kiện này cũng mở ra quá trình tham chiến trực tiếp của quân đội Mỹ vào Việt Nam.

9. Các công ty thuốc lá biết rõ thuốc lá là nguyên nhân gây ung thư

âm mưu thuốc lá

Âm mưu: Các công ty thuốc lá đã giấu kín các bằng chứng cho thấy hút thuốc là nguyên nhân gây chết người trong nhiều thập kỷ,

Sự thật: Vào đầu những năm 1950, các nghiên cứu đã chỉ ra mối liên hệ không thể chối cãi giữa hút thuốc và ung thư phổi, nhưng mãi đến cuối những năm 1990, tập đoàn Philip Morris mới thừa nhận rằng hút thuốc có thể gây ung thư.

Lợi ích của việc bỏ hút thuốc là rất lớn: ăn ngon miệng hơn, răng miệng sạch sẽ hơn, và quan trọng nhất là, nguy cơ mắc bệnh liên quan đến thuốc lá sẽ giảm đáng kể.

10. Bằng chứng về người ngoài hành tinh ở Tây Nam Mỹ

âm mưu người ngoài hành tinh

Âm mưu: vật thể lạ ngoài Trái Đất (E.T.) đã bị chôn vùi trong sa mạc New Mexico.

Sự thật: Điều này có thật. Nhưng vật thể lạ ở đây là tên một tựa game video của công ty Atari. Tựa game E.T., the Extra-Terrestrial (Tạm dịch: vật thể lạ ngoài hành tinh) từng thất bại thảm hại đến nỗi công ty đã chôn những hộp băng không bán được của tựa game này trong một bãi rác mãi sa mạc xa xôi.

11. Canada cố gắng phát triển “gaydar”

máy phát hiện đồng tính

Âm mưu: Chính phủ Canada từng có tư tưởng cực đoan đến nỗi phát triển hẳn một cỗ máy phát hiện người đồng tính có tên “gaydar”.

Sự thật: Vào những năm 1960, chính phủ đã thuê một vị giáo sư đại học phát triển cỗ máy nhằm phát hiện ra những người đồng tính luyến ái. Cỗ máy này thực hiện đo độ giãn đồng tử khi bắt gặp các hình ảnh khiêu dâm đồng giới. Chính phủ Canada đã sử dụng nó để sa thải hơn 400 người khỏi lực lượng công chức, quân đội và cảnh sát hoàng gia.

May thay, đến nay đã có nhiều thay đổi.

12. Tổ chức Illuminati có liên kết với chính phủ Mỹ

thống trị thế giới

Âm mưu: Tổ chức bí mật âm mưuthống trị thế giới, The Illuminati, và Cơ qian An ninh Quốc gia Mỹ (NSA) có móc ngoặc với nhau.

Sự thật: Thực sự thì hai tổ chức này có “liên kết” nhưng là loại “liên kết ảo” thông qua đường dẫn ngầm trên website. Nếu bạn gõ ngược lại tên của tổ chức trên trình duyệt web thành Itanimulli.com, bạn sẽ được chuyển tiếp đến trang web của NSA.

Shirley.

Xem thêm :

Categories: Thuyết Âm Mưu

Những đứa trẻ da xanh làng Woolpit: Truyền thuyết thế kỷ 12 về những vị khách đến từ thế giới khác

Một tấm biển làng ở Woolpit, miêu tả hai đứa trẻ trong truyền thuyết vào thế kỷ thứ 12 (Wikimedia Commons)

Truyền thuyết về những đứa trẻ của làng Woolpit là một câu chuyện bắt nguồn từ thế kỷ 12, kể về hai đứa trẻ xuất hiện ở rìa một cánh đồng làng Woolpit của nước Anh. Cả bé trai và bé gái được kể là có làn da màu xanh lá và nói một ngôn ngữ lạ.

Hai đứa trẻ lâm bệnh và bé trai qua đời, nhưng bé gái bình phục và học được tiếng Anh trong những năm sau đó. Về sau bé gái kể lại câu chuyện về nguồn gốc của cả hai, nói rằng chúng đến từ một nơi gọi là Vùng Đất của Thánh Martin, tồn tại trong môi trường ánh sáng chạng vạng kéo dài vô tận, và ở đó mọi người sống dưới mặt đất.

Trong khi một số người xem đây là một câu chuyện cổ tích mô tả cuộc gặp gỡ tưởng tượng với cư dân của một thế giới khác nằm dưới chân chúng ta, hay thậm chí là thế giới ngoài Trái Đất, thì số khác lại chấp nhận câu chuyện là có thật, nhưng là bản mô tả bị sửa đổi đôi chút của một sự kiện lịch sử đáng được nghiên cứu thêm.


Trong khi một số người xem đây là một câu chuyện cổ tích mô tả cuộc gặp gỡ tưởng tượng với cư dân của một thế giới khác nằm dưới chân chúng ta, hay thậm chí là thế giới ngoài Trái Đất, thì số khác lại chấp nhận câu chuyện là có thật, nhưng là bản mô tả bị sửa đổi đôi chút của một sự kiện lịch sử đáng được nghiên cứu thêm.

Câu chuyện bắt đầu từ ngôi làng Woolpit nằm ở Suffolk, East Anglia (Anh quốc). Vào thời Trung Cổ, ngôi làng nằm trong khu vực có nền nông nghiệp phát triển và có dân cư đông đúc nhất của miền quê nước Anh. Woolpit thuộc về tu viện quyền lực và giàu có của thị trấn Bury St. Edmunds.

Tàn tích của Tu Viện của thị trấn Bury St. Edmunds
Tàn tích của Tu Viện của thị trấn Bury St. Edmunds (Wikipedia)

Câu chuyện được hai nhà viết sử thế kỷ 12 ghi chép lại. Một người tên là Ralph vùng Coggestall (mất năm 1228), trưởng tu viện Cistercian thuộc thị trấn Coggeshall (42km về hướng Nam của làng Woolpit), ông đã ghi chép lại câu chuyện về những đứa trẻ da xanh của mình trong cuốn“Chronicon Anglicanum” (“Biên niên sử nước Anh”). Người kia là William vùng Newburgh (1136–1198), một nhà sử học và giáo sĩ Cơ đốc giáo người Anh tại tu viện Augustinian Newburgh nằm xa về phía bắc Yorkshire, ông gộp câu chuyện về những đứa trẻ da xanh vào tác phẩm chính của mình là “Historia rerum Anglicarum” (“Lịch sử các vụ việc nước Anh”).

Các sự kiện trên được cho là diễn ra dưới thời trị vì của vua Stephen (1135-1154) hoặc vua Henry II (1154-1189), tùy thuộc vào phiên bản mà bạn đọc.

Câu chuyện về những đứa trẻ da xanh

Theo truyền thuyết về những đứa trẻ da xanh, thì một bé trai và em gái được những người thợ gặt làm việc trên cánh đồng vào mùa thu hoạch phát hiện ở gần vài cái mương được đào để bẫy sói, tại làng Woolpit. Da của hai đứa trẻ có màu xanh lá, với quần áo được làm bằng các chất liệu lạ, và lời nói của chúng thì những người thợ gặt không thể hiểu được. Cả hai được đưa về làng, nơi mà chúng cuối cùng được một địa chủ tên là Sir Richard de Caine ở Wikes thu nhận về.

Hai đứa trẻ không ăn bất cứ thức ăn nào được đem đến cho chúng, nhưng trông có vẻ đói. Cuối cùng dân làng đem đến những hạt đậu sống mới được thu hoạch thì cả hai ăn ngấu nghiến. Cả hai chỉ sống bằng những hạt đậu trong nhiều tháng trời cho đến khi chúng bắt đầu thích ăn bánh mì.


Cả hai chỉ sống bằng những hạt đậu trong nhiều tháng trời cho đến khi chúng bắt đầu thích ăn bánh mì.

Bé trai bị ốm và sớm đầu hàng cơn bệnh rồi qua đời, còn bé gái vẫn giữ được sức khỏe tốt và cuối cùng mất đi làn da màu xanh. Cô bé học nói tiếng Anh và sau đó cưới một người đàn ông ở King’s Lynn, một quận láng giềng với Norfolk. Theo một vài truyền thuyết, cô gái lấy tên là Agnes Barre và người đàn ông mà cô cưới là một sứ giả của vua Henry II, mặc dù chi tiết này chưa được xác nhận. Sau khi học nói Tiếng Anh, cô đã kể lại cho mọi người câu chuyện về nguồn gốc của hai anh em mình.

Xứ sở kỳ lạ dưới lòng đất

Cô gái thuật lại rằng cô và anh trai đến từ “Vùng Đất của Thánh Martin”, nơi không có mặt trời nhưng có [một loại] ánh sáng chạng vạng vô tận, và tất cả cư dân nơi đây đều có làn da xanh giống cả hai. Cô đã miêu tả một vùng đất “sáng chói” khác mà có thể được nhìn thấy ở phía bên kia một con sông.

Cô và anh trai đang trông nom đàn gia súc của cha thì cả hai tình cờ gặp một cái hang. Họ đi vào hang và lang thang trong bóng tối một thời gian dài cho đến lúc ra khỏi phía bên kia, đến nơi tràn ngập ánh sáng mặt trời khiến họ sửng sốt. Sau đó họ được những người thợ gặt phát hiện.


Cô và anh trai đang trông nom đàn gia súc của cha thì cả hai tình cờ gặp một cái hang. Họ đi vào hang và lang thang trong bóng tối một thời gian dài cho đến lúc ra khỏi phía bên kia

Những lời giải thích

Qua nhiều thế kỷ, nhiều giả thuyết đã được đưa ra nhằm giải thích câu chuyện lạ thường này. Về làn da màu xanh của hai đứa trẻ, có một đề xuất rằng hai đứa trẻ bị thiếu máu nhược sắc, tên gốc là bệnh xanh lướt (chlorosis – có nguồn gốc từ từ “chloris” trong tiếng Hy Lạp, có nghĩa là màu vàng xanh). Tình trạng này là do chế độ ăn nghèo nàn gây ảnh hưởng đến màu sắc của hồng cầu và dẫn đến sắc thái xanh tối nổi bật của làn da. Một chi tiết ủng hộ giả thuyết này là cô gái được miêu tả có làn da trở lại màu sắc bình thường sau khi chấp nhận chế độ ăn lành mạnh.


Tình trạng này là do chế độ ăn nghèo nàn gây ảnh hưởng đến màu sắc của hồng cầu và dẫn đến sắc thái xanh tối nổi bật của làn da.

Liên quan đến những miêu tả về vùng đất kỳ lạ, Paul Harris đưa ra giả thuyết trong Nghiên cứu Fortean 4 (1998) rằng đây là những trẻ mồ côi người Flanders, có thể từ một nơi gần đó gọi là Fornham St. Martin, nơi ngăn cách với Woolpit bằng Sông Lark.

Nhiều dân nhập cư Flanders đã đến đây trong thế kỷ 12 nhưng bị đàn áp dưới triều vua Henry II. Năm 1173, nhiều người đã bị sát hại gần Bury St. Edmunds. Nếu họ chạy trốn vào Rừng Thetford, thì nơi đây có lẽ giống cảnh chạng vạng vô tận đối với những đứa trẻ hoảng sợ. Chúng có lẽ đã đi vào một trong số nhiều đường hầm mỏ dưới lòng đất trong khu vực mà cuối cùng dẫn chúng đến Woolpit. Mặc trang phục khác lạ của người Flanders và nói một ngôn ngữ khác, những đứa trẻ đã đem đến một bộ dạng rất kỳ lạ đối với dân làng Woolpit.


Mặc trang phục khác lạ của người Flanders và nói một ngôn ngữ khác, những đứa trẻ đã đem đến một bộ dạng rất kỳ lạ đối với dân làng Woolpit.

Một nhà bình luận khác đề ra giả thuyết về nguồn gốc từ thế giới khác của những đứa trẻ. Robert Burton đề xuất trong cuốn sách năm 1621 “The Anatomy of Melancholy” rằng những đứa trẻ da xanh “rớt xuống từ Thiên Đàng”, khiến người khác suy đoán rằng chúng có thể là người ngoài hành tinh.

Trong một bài báo xuất bản năm 1996 trên tạp chí Analog, phi hành gia Duncan Lunan cũng đề xuất giả thuyết rằng những đứa trẻ tình cờ được chuyển tới Woolpit từ hành tinh quê hương của chúng. Hành tinh này có thể bị mắc trong quỹ đạo đồng bộ quay xung quanh mặt trời của mình, tạo ra hoàn cảnh thích hợp cho sự sống chỉ tồn tại ở một vùng ánh sáng chạng vạng hẹp giữa một bề mặt có nhiệt độ rất cao, và mặt kia chìm trong bóng tối băng giá.

Câu chuyện về những đứa trẻ da xanh đã tồn tại hơn tám thế kỷ kể từ khi những truyền thuyết đầu tiên được ghi chép lại. Mặc dù sự thật đằng sau câu truyện có lẽ sẽ mãi là bí ẩn, nó đã truyền cảm hứng cho nhiều bài thơ, tiểu thuyết, vở opera, và kịch trên toàn thế giới, đồng thời thu hút được trí tưởng tượng của nhiều trí óc tò mò.

Theo Ancient Origins.

Xem thêm:

Categories: Chuyện Lạ

Lần đầu tiên quan sát được sự va chạm của các lỗ đen khổng lồ trong quá trình sáp nhập thiên hà

Các nhà thiên văn học lần đầu tiên quan sát được giai đoạn cuối cùng của một vụ sáp nhập thiên hà, nhìn qua các bức tường khí và bụi dày để thấy các cặp hố đen khổng lồ kéo lại gần nhau hơn và nở lớn nhanh chóng.

Theo Space.com, tại các trung tâm của hầu hết các thiên hà là những hố đen siêu lớn với khối lượng gấp hàng triệu đến hàng tỷ lần Mặt trời. Ví dụ, ở trung tâm dải ngân hà của chúng ta là Sagittarius A * lớn gấp khoảng 4,5 triệu khối lượng mặt trời.

Công trình trước đây cho thấy việc sáp nhập các thiên hà có thể giúp thúc đẩy sự tăng trưởng của các lỗ đen siêu lớn. Nghiên cứu đó gợi ý rằng các lỗ đen ở khu vực trung tâm thiên hà va chạm có thể kết hợp để trở thành những hố đen lớn hơn. 

Vụ sáp nhập của các thiên hà có khả năng mang lại cho các lỗ đen siêu lớn nhiều cơ hội để tách rời các ngôi sao và nuốt chửng vật chất . Sự hủy diệt như vậy giải phóng lượng ánh sáng phi thường và có khả năng đóng vai trò là động lực đằng sau các chuẩn tinh (quasar) , một trong số những vật thể sáng nhất trong vũ trụ.

Một số ảnh chụp các thiên hà đang hợp nhất (Ảnh: NASA)

Trong khi một số nghiên cứu đã chỉ ra mối liên hệ giữa các quasar và việc  sáp nhập của các thiên hà, một số nghiên cứu khác đã không tìm thấy mối liên hệ nào như vậy.

Một giải thích khả dĩ cho sự thiếu liên kết rõ ràng giữa các quasar và các thiên hà hợp nhất là khí và bụi xoáy quanh các thiên hà này có khả năng làm che khuất các hố đen. Điều này sẽ đúng ngay cả trong giai đoạn đầu của vụ sáp nhập, khi các thiên hà được phân cách bởi hơn 16.000 năm ánh sáng. 

Bây giờ, các nhà nghiên cứu đã quan sát thấy một vài thiên hà trong các giai đoạn cuối của quá trình sáp nhập, các lỗ đen siêu lớn của chúng kéo gần hơn. Những phát hiện này đã làm sáng tỏ những lỗ đen lớn hơn có thể xảy ra như thế nào.

Các nhà khoa học đầu tiên tìm kiếm các lỗ đen ẩn bằng cách chọn lọc thông qua dữ liệu X-quang 10 năm từ Đài quan sát nhanh Neil Gehrels của NASA. Khi lỗ đen nuốt chửng vật chất chúng sẽ tạo ra tia X năng lượng cao có thể nhìn thấy được ngay cả qua những đám mây và bụi dày.

hố đen
Các nhà thiên văn học đã xác thực sự tồn tại của các hố đen cực lớn ở trung tâm dải ngân hà (Ảnh minh họa)

Tiếp theo, các nhà nghiên cứu tìm kiếm các thiên hà phù hợp với các phát hiện tia X này bằng cách phân tích dữ liệu từ Kính viễn vọng Không gian Hubble của NASA và Đài quan sát Keck ở Hawaii. Gương biến dạng được điều khiển bằng máy tính, một công nghệ được gọi là quang học thích ứng tại Đài quan sát Keck giúp làm sắc nét hình ảnh của các ngôi sao, dẫn đến sự gia tăng lớn về độ phân giải, tác giả chính của nghiên cứu Michael Koss nói với Space.com. Koss là nhà vật lý thiên văn tại công ty nghiên cứu khoa học Eureka Scientific ở Oakland, California.

“Nó sẽ giống như đi từ tầm nhìn 20/200, nơi mắt bạn rơi vào điểm mù, đến tầm nhìn 20/20, giúp chúng ta thấy các thiên hà chi tiết đáng kinh ngạc”, ông nói.

Sau tất cả, các nhà khoa học đã phân tích 96 thiên hà quan sát được với Đài thiên văn Keck và 385 thiên hà từ kho lưu trữ của Hubble. Tất cả các thiên hà này đều nằm cách Trái đất trung bình 330 triệu năm ánh sáng, tương đối gần bằng các thuật ngữ vũ trụ, với nhiều kích thước tương tự như Dải Ngân Hà.

Các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng hơn 17% các thiên hà này đã có một cặp lỗ đen ở trung tâm của họ, dấu hiệu của các giai đoạn cuối của một cuộc sáp nhập thiên hà. Những phát hiện này phù hợp với các mô hình máy tính của các nhà nghiên cứu, cho thấy các hố đen bị che khuất cao nhưng bị che khuất trong các thiên hà giàu khí và bụi có liên hệ với nhiều vụ sáp nhập các lỗ đen siêu lớn.

Koss cho biết: “Việc sáp nhập thiên hà có thể là một cách chính để phát triển các hố đen”.

andromeda
Thiên hà nơi chúng ta đang sống sẽ sáp nhập với thiên hà Andromeda sau 6 tỷ năm nữa (Ảnh: Youtube)

Thiên hà Milky Way của chúng ta hiện đang trải qua một cuộc sáp nhập với thiên hà Andromeda lân cận, và các lỗ đen siêu lớn ở hai lõi thiên hà cuối cùng sẽ sáp nhập với nhau, Koss nói.

“Hiện tại, các thiên hà được phân cách bởi hàng triệu năm ánh sáng, nhưng chúng ta đang tiến về phía Andromeda ở mức 250.000 dặm / giờ [400.000 km / h],” Koss nói. “Trong 6 tỉ năm nữa, sẽ không có thiên hà Milky Way hay thiên hà Andromeda – chỉ là một thiên hà lớn.”

Một cái nhìn tốt hơn về các vụ sáp nhập trong các thiên hà bị che khuất, bụi bặm có thể đến từ Kính viễn vọng Không gian James Webb của NASA , dự kiến ​​ra mắt vào năm 2021. Các hình ảnh được cải thiện cũng có thể đến từ các hệ thống quang học thích nghi thế hệ mới, như Kính thiên văn Thirty Meter, Kính thiên văn cực lớn của châu Âu và Kính thiên văn khổng lồ Magellan, Koss nói. 

Xem thêm:

Categories: Vũ Trụ Kỳ Ảo