Tác giả: Thanh Phong

Những nền văn minh cổ đại ‘kỳ lạ’ khác biệt hoàn toàn với dòng lịch sử chính thống

Trong tác phẩm nổi tiếng “Dấu vân tay của Thượng đế”, Graham Hancock nói rằng một số nền văn minh trên Trái đất đã cho thấy dấu hiệu của trí tuệ cao cấp kì lạ trong các hệ thống kiến trúc, khoa học và chữ viết. Nền văn minh của nhân loại phát triển cao hơn rất nhiều so với nhận thức ban đầu của chúng ta.

Ảnh tái hiện một tòa kim tự tháp của văn minh Sumer (ảnh qua elishean.fr)
Ảnh tái hiện một tòa kim tự tháp của văn minh Sumer (ảnh qua elishean.fr)

Những nền văn minh “kỳ lạ”

Bài viết này đưa ra một số khía cạnh kỳ lạ đã bị lãng quên từ lâu về nhân loại, đồng thời nhắc nhở rằng tổ tiên chúng ta để lại nhiều cổ vật, các công trình và kiến trúc đáng kinh ngạc mà chúng ta có trách nhiệm phải giải mã. Nếu lịch sử của nhân loại còn đang được khám phá, các di tích này sẽ trở thành những điểm mốc quan trọng giúp chúng ta nhìn nhận lại dòng lịch sử.

Đa số các nhà khảo cổ, vốn chịu ảnh hưởng của thuyết tiến hóa Darwin, nhìn nhận rằng sự tiến bộ của nhân loại và khoa học kỹ thuật là tuân theo đường thẳng hướng lên trên; rằng mỗi nền văn minh mới sẽ tiến bộ hơn và thông minh hơn nền văn minh cũ, cũng giống như sự tiến hóa giữa các loài.

Theo họ, nền văn minh của loài người phát triển từ thuở hoang dã cho đến ngày nay, có thể ước chừng 10.000 năm. Còn trước đó thì chỉ là con người nguyên thủy, hoang dã.

Tuy nhiên, nhiều khám phá khảo cổ đã phát hiện một số nền văn minh chưa rõ nguồn gốc, nhưng lại có tiến bộ vượt bậc trong khoa học và không phù hợp cái khung 10.000 năm phát triển nói trên. Một vài nền văn minh cổ đại trên khắp thế giới cho thấy một trình độ hiểu biết cao về thiên văn học và toán học.

Những nền văn minh rực rỡ từ hàng nghìn năm trước

Khi vương quốc Babylon xuất hiện 2500 năm trước, một trong những nhà thiên văn học hàng đầu của họ, Kidinnu, đã có thể lập bản đồ quỹ đạo chuyển động hàng năm của mặt trời và mặt trăng. Tấm bản đồ này không có đối thủ cho tới năm 1857, khi nhà thiên văn học Peter Andreas Hansen lập biểu đồ vòng cung của các thiên thể này với biên độ sai sót trong phạm vi chỉ 9 giây góc.

Một cuốn niên giám Babylon, đề cập đến vị trí của các hành tinh trong tương lai (Ảnh: Bảo tàng Anh)
Một cuốn niên giám Babylon, đề cập đến vị trí của các hành tinh trong tương lai (Ảnh: Bảo tàng Anh)

Vào triều đại nhà Thương ở Trung Quốc, trải dài từ giai đoạn 1700-1100 trước Công nguyên, một loại dương lịch đã xuất hiện. Được gọi là Ssu-Ten, loại lịch này bao gồm các tháng, có mức độ chính xác tới 29,53055106 ngày, nghĩa là năm nhuận đã được bao hàm trong đó. Một văn bản thậm chí còn cổ hơn nữa của Trung Quốc, được biết đến là Hoàng Đế Bình Túc Vương, đã ghi nhận Trái đất là một thực thể trôi nổi trong không gian.

Tương tự, hai học giả Hy Lạp Parmenides và Empedocles, vốn được trích dẫn một cách riêng biệt, đã cho rằng “mặt trăng soi sáng bầu trời đêm nhờ ánh sáng thu mượn”. Trong 10.000 năm trước hoặc tương đương, con người hiện đại đã biết về khả năng tồn tại trí tuệ ngoài hành tinh [i].

Cái gì đã thúc đẩy xã hội loài người sơ khai bước qua ranh giới và thu thập các kiến thức đáng kinh ngạc ở giai đoạn sớm như vậy?

Những ví dụ đã nêu không phải chỉ là một trường hợp riêng biệt, không phải chỉ một khu vực trên Trái đất phát triển được một trình độ khoa học cao đến thế, mà là rất phổ biến. Qua đó, chúng ta dần dần thấy một bức tranh rất sôi động về lịch sử nhân loại.

oracle-bones nha Thuong


Hai mảnh xương tiên tri từ triều đại nhà Thương, Trung Quốc (giai đoạn 1800 -. 1200 TCN). Những dòng chữ khắc trên mảnh xương tiên tri thời nhà Thương cho thấy ít nhất cho đến vào thế kỷ 14 TCN, nhà Thương đã thiết lập được năm mặt trời với 365¼ ngày và tháng âm lịch với 29½ ngày. (Ảnh: CalendarsThroughTheAges)

Nền văn minh Sumer

Nền văn minh Sumer được xem là một trong những cái nôi khởi thủy của nhân loại hiện đại. Nền văn minh này xuất hiện khoảng 3800 năm trước Công nguyên, tọa lạc tại khu vực phía nam Iraq ngày nay, văn minh Sumer đã bùng nổ với những thành tựu văn hóa đáng kinh ngạc.

Sumer cũng được gọi là Shinar, và khu vực này nằm giữa hai con sông Tigris và Eughrates. Vì thế khu vực này cũng được gọi là Lưỡng Hà. Hai dòng sông này đóng vai trò quan trọng giúp nền văn minh Sumer phát triển rực rỡ, tạo điều kiện cho giao thương và buôn bán.

Thành phố Sumer. (Ảnh: thecultureconcept.com)
Thành phố Sumer. (Ảnh: thecultureconcept.com)

Lưỡng Hà nằm trong khu vực Trăng lưỡi liềm Màu mỡ (Fertile Crescent), nơi có vị trí địa lý, khí hậu và nguồn nước phù hợp để phát triển nông nghiệp. Trước khi nền văn minh Sumer xuất hiện có tồn tại một nền văn minh trước đó tên là Ubaid. Nền văn minh Ubaid có nguồn gốc chưa rõ ràng, rất có thể bao gồm các bộ tộc nằm rải rác xung quanh hai con sông lớn.

Văn minh Sumer phân nhánh thành một số lĩnh vực với trình độ phát triển đáng kinh ngạc. Chiêm tinh học, thực vật học, động vật học, toán học và luật học đã tạo nên những thành tựu vĩ đại của Sumer. Y học và dược học đã được ứng dụng rộng rãi. Những ngôi nhà đầu tiên bằng gạch đã được tìm thấy trong vùng.

Sumer thậm chí còn có một hệ thống truyện thần thoại, cùng với một nền lịch sử đầy đủ trong văn hóa của riêng mình  [ii]. Vào một thời kỳ khi săn bắn hái lượm là hình thức sinh sống phổ biến tại nhiều khu vực, thì người Sumer đã có thể xây dựng các bộ luật cao cấp và tính toán thiên văn học ở trình độ trung bình. Một trong những văn bản viết tay đầu tiên trên thế giới cũng cũng được tìm thấy tại khu vực này.

Bản tái hiện thành phố Sumer của thành Ur. (Ảnh: Kings Academy)
Bản tái hiện thành phố Sumer của thành Ur. (Ảnh: Kings Academy)

Nền văn minh Sumer sử dụng chữ hình nêm để ghi chép lại kiến thức của mình, bao gồm các hình tam giác hẹp xếp theo mô thức khác nhau. Bảng chữ cái của người Sumer bao gồm các chữ tượng hình – tương tự như các loại ngôn ngữ phương Đông (Trung Quốc, Nhật Bản…). Cách này khác với việc sử dụng ngữ âm kết hợp với nhau để tạo thành các từ, như trong tiếng Anh.

Văn bản được khắc lên các tấm đất sét ướt rồi và sau đó sẽ được đem đi nung và bảo quản. Phương pháp này có lẽ đã ra đời trước cuộc cách mạng in ấn Gutenberg khoảng 2500 năm. Hơn 500.000 những tấm đất sét như vậy đã được phát hiện, cho thấy hơi thở của tri thức mà nền văn minh này sở hữu và thời gian họ dự định sẽ bảo quản chúng.

Một trong hàng ngàn tấm bảng có chữ hình nêm được phát hiện tại Iraq. (Ảnh: Wikipedia)
Một trong hàng ngàn tấm bảng có chữ hình nêm được phát hiện tại Iraq. (Ảnh: Wikipedia)

Nền văn minh Sumer cũng phát triển các công trình kiến trúc độc đáo gọi là ziggurats (bệ núi). Đây là những cấu trúc hình kim tự tháp, cao hàng chục mét.

Nền văn minh này trải dài qua 3 triều đại riêng biệt, triều đại cuối cùng bắt đầu vào khoảng 2100 năm trước Công nguyên. Nền văn minh này cũng đã tạo ra hai trong số các thành phố đầu tiên trên thế giới, Uruk và Eridu. Trong những thành phố này, đây là lần đầu tiên trong lịch sử các thợ thủ công, nhà văn, bác sĩ, nhà toán học và luật sư có thể trao đổi buôn bán các sản phẩm của họ. Các thành phố nhỏ của Sumer cuối cùng cũng hợp nhất với nhau, trở thành một phần của nền văn minh Babylon trải rộng trên toàn bộ khu vực Lưỡng Hà.

Ngoài nông nghiệp, y tế và thương mại, người Babylon cũng có một sự hiểu biết sâu sắc trong lĩnh vực thiên văn. Kiến thức của họ về các ngôi sao và thiên thể đã được sưu tầm vào các tấm đất sét, trên đó mô tả sự chuyển động của các chòm sao và chuyển động của Mặt trời trong mối liên hệ với Mặt trăng.

Những hiện tượng quan trọng như điểm xuân phân, điểm thu phân, nhật thực và nguyệt thực cũng đã được ghi chép. Một nhóm các nhà khoa học Babylon biên soạn các kiến thức của họ về sự chuyển động của các ngôi sao, các chuyển động của chúng và các chòm sao thành một công trình gọi là MUL.APIN, có nghĩa là “chòm sao Đại Hùng”, đó là tên được đặt cho chòm sao đầu tiên trong tài liệu. Tài liệu này có niên đại từ năm 1370 TCN.

Hình ảnh tái hiện Ziggarut (bệ núi) 3D  của thành Ur. (Ảnh: Wikipedia)
Hình ảnh tái hiện Ziggarut (bệ núi) 3D  của thành Ur. (Ảnh: Wikipedia)

Một tài liệu ấn tượng không kém có tên là Enuma Anu Enlil, bao gồm một số bảng chiêm tinh, không chỉ đề cập đến nhật thực, nguyệt thực và các hiện tượng thiên văn, mà còn được sử dụng như một hệ thống tiên tri.

Mặc dù phương pháp của họ có thể chứa một số yếu tố siêu thường, nhưng các phương pháp tính toán này đã đi vượt quá xa tính chất nguyên thủy của nhân loại.

Lĩnh vực thiên văn học và toán học của Babylon đã sử dụng hệ thống tính toán rất đặc thù dựa trên các bội số của 60 và nó được gọi là hệ thống sáu mươi. Các nhà khoa học Babylon có thể tính toán các phép đo chính xác đến 1/60 của 1 độ, còn được gọi là một phút góc [iii].

Nền văn minh Babylon đã đưa ra hai tiền lệ rất đặc thù trong lịch sử nhân loại. Thứ nhất, nó thiết lập các tiêu chuẩn của một nền văn minh hiện đại. Thứ hai, việc theo đuổi  lĩnh vực thiên văn học đã đưa ví dụ đầu tiên cho thấy con người đã chủ động quan sát và thu thập thông tin về các hiện tượng nằm ngoài tầm với trực tiếp của bản thân. Về cơ bản, đây là một bước tiến trưởng thành của nhân loại.

Nhưng một câu hỏi lớn hơn xuất hiện. Những điều kiện tiên quyết của một nền văn minh là gì? Liệu chúng chỉ đơn giản xuất hiện một cách “ngẫu nhiên”, giống như thuyết tiến hóa nói rằng sự bùng nổ kỷ Cambri đã sản sinh ra những dạng thức mới của sự sống? Đến khi nào chúng ta mới nhìn nhận những thông tin mới này và cập nhật lại cách nhìn nhận về lịch sử của nhân loại?

Thông tin trong bài viết trên được lấy từ cuốn sách “The Human Anomaly” (Sự dị thường của loài người – tạm dịch). Để biết thêm thông tin, xem tại đây.

Dịch và đăng lại với sự cho phép của tác giả Tashi Javed, Ancient-Origins.net,Quế Trà biên dịch.

Nguồn tham khảo:[i] Steiger, Brad. Worlds Before Our Own.pg,134. London: W.H. Allen, 1980. Print.
[ii] Sitchin, Zecharia, Divine Encounters, 7
[iii] Magli, Giulio, Mysteries and Discoveries of Archaeoastronomy: From Giza to Easter Island, 100

Xem thêm :

Categories: Văn Minh Cổ Đại

Phát hiện thanh kiếm 3.000 năm tuổi

Thanh kiếm cổ bằng đồng được phát hiện ở Trung Quốc có niên đại hơn 3.000 năm tuổi và mang giá trị lớn về lịch sử.
Li Lei, 26 tuổi, sống ở huyện Đan Phượng, tỉnh Thiểm Tây. Li phát hiện thanh kiếm đồng trong các phiến đất sét. Nó có chiều dài 46,5cm, chiều ngang 4cm và nặng khoảng 0,61kg.

Phát hiện thanh kiếm 3.000 năm tuổi


Thanh kiếm cổ bằng đồng được tìm thấy ở tỉnh Thiểm Tây. (Ảnh: news.163.com)

Theo chuyên gia khảo cổ học Lu Qinghe, thanh kiếm có từ cách đây hơn 3.000 năm, thuộc thời nhà Chu. Đồ sắt và việc sử dụng đồ sắt bắt đầu xuất hiện ở Trung Quốc trong thời kỳ này.

Trong số tất cả những thanh kiếm từng được phát hiện, đây là hiện vật nguyên vẹn nhất và có ý nghĩa lịch sử lớn. Nó có thể cung cấp các thông tin nghiên cứu liên quan đến triều đại tồn tại lâu nhất trong lịch sử Trung Quốc.

Shanghaiist dẫn lời Li cho hay một số người đã đưa ra mức giá 100.000 nhân dân tệ (hơn 16.000 USD) để mua thanh kiếm này, tuy nhiên anh đã từ chối và trao lại cho cơ quan di sản văn hóa. Li được trao chứng nhận và khoản tiền thưởng 500 nhân dân tệ (khoảng 80 USD).

Trước đó, một cậu bé 11 tuổi từng phát hiện con dao 3.000 năm tuổi khi đang chơi đùa cùng bạn bên một con sông ở thành phố Cao Bưu, tỉnh Giang Tô.

Xem thêm:

Categories: Bí ẩn Lịch Sử

Xác ướp động vật gần 3.000 năm tuổi

Trong thế giới Ai Cập cổ đại, nhiều loài động vật cũng được ướp xác, bọc trong vải lanh và đưa vào các quan tài nhỏ, và được coi là vật cúng tế trong các nghi lễ tôn giáo hay hiện thân của các vị thần.

Xác ướp động vật gần 3.000 năm tuổi
Theo quan niệm của người Ai Cập cổ đại, các con vật thường được ướp xác và chôn cùng chủ nhân khi họ qua đời, có thể để làm vật hộ mệnh hoặc bạn đồng hành ở thế giới bên kia. Trong ảnh là xác ướp của một con linh dương được chôn cùng trong ngôi mộ của chủ nhân, vào khoảng năm 945 trước Công nguyên.
Xác ướp động vật gần 3.000 năm tuổi
Việc ướp xác động vật mang nhiều yếu tố tâm linh theo quan niệm của người Ai Cập cổ đại. Trong thời đại của các vương triều Ai Cập khi đó, một số loài động vật được ướp xác bởi chúng được coi là hiện thân của các vị thần.
Xác ướp động vật gần 3.000 năm tuổi
Con cừu đực được ướp xác và bọc trong một lớp vỏ sơn vàng. Đây là một trong 7 xác ướp động vật còn nguyên vẹn đang được lưu giữ tại Bảo tàng Ai Cập. Theo các chuyên gia, con cừu là hiện thân cho thần sáng tạo Khnum, được nuôi trong chùa và chăm sóc cho đến khi chết.
Xác ướp động vật gần 3.000 năm tuổi

Các loài động vật còn được ướp xác khi chúng là vật nuôi của một thành viên trong gia đình hoàng gia. Con chó săn sau khi ướp xác (ảnh) được xác định là của một vị pharaoh.
Xác ướp động vật gần 3.000 năm tuổi
Bên trong một chiếc quan tài bằng gỗ có hình một con mèo, cao khoảng 40cm, là xác ướp của một con mèo nhỏ. Xác ướp mèo được bọc vải và lắp một mặt nạ sơn màu nâu bên ngoài là một trong số những xác ướp động vật thường được dùng trong các nghi lễ cúng tế.
Xác ướp động vật gần 3.000 năm tuổi
Hình ảnh chụp bằng tia X cho thấy xác ướp con mèo bên trong.
Xác ướp động vật gần 3.000 năm tuổi
Lớp vỏ bên ngoài xác ướp của một con chim ibis. Các hình trang trí dọc theo lớp vỏ là hình ảnh của các vị thần và các dãy chữ tượng hình.
Xác ướp động vật gần 3.000 năm tuổi
Theo các nhà khoa học, các xác ướp động vật có thể cung cấp nhiều thông tin nghiên cứu về sự sống và cái chết của người Ai Cập cổ đại. Trong ảnh là xác ướp khỉ đầu chó.
Xác ướp động vật gần 3.000 năm tuổi
Một con linh dương được bọc bằng các lớp vải sau khi ướp xác
Xác ướp động vật gần 3.000 năm tuổi


Một số loài động vật được ướp xác để dành cho các nghi lễ cúng tế khi chôn cất người chết. Các phần thịt ngon nhất của một số loài động vật như bò, vịt, ngan, chim bồ câu, sẽ được ướp muối sau đó bọc trong các lớp vải và đưa vào quan tài.

Xem thêm:

Categories: Chuyện Lạ

Hầm mộ 3.000 năm tuổi gây sửng sốt

Một hầm mộ có niên đại 3.000 năm tuổi vừa được tìm thấy ở Ai Cập trong một hiện trạng gây sửng sốt với các nhà khảo cổ.

Các nhà khảo cổ học vừa phát hiện thêm một hầm mộ có niên đại 3.000 năm tuổi ở Ai Cập. Được phát hiện ở gần thành phố Luxor phía nam Ai Cập, hầm mộ vừa được phát hiện thuộc về một người đàn ông quý tộc có tên Amenhotep.

Hầm mộ 3.000 năm tuổi gây sửng sốt
Những bức tranh vẽ trên các thành vách được tìm thấy bên trong hầm mộ vẫn còn ở tình trạng hoàn hảo so với niên đại 3.000 năm tuổi của hầm mộ.

Bộ trưởng Khảo cổ của Ai Cập – ông Mamdouh el-Damaty cho biết hầm mộ vừa được tìm thấy có những bức bích họa và phù điêu rất ấn tượng với màu sắc vẫn còn rất rõ nét. Hiện trạng của hầm mộ được cho là rất lý tưởng so với niên đại 3.000 năm tuổi của nó.

Hầm mộ 3.000 năm tuổi gây sửng sốt
Bên trong hầm mộ của người đàn ông quý tộc có tên Amenhotep.

Những bức tranh được vẽ trên các thành vách của hầm mộ khắc họa lại cuộc đời của Amenhotep lúc sinh thời, với các hoạt động như săn bắn, cúng tế…

Hầm mộ này đã được xây dựng từ triều tại thứ 18 của Đế chế Ai Cập cổ đại (khoảng năm 1543-1292 trước Công nguyên).

Trong các vị thần của người Ai Cập cổ đại, có một vị thần là thần Amun – vị thần tối tượng. Người đàn ông quý tộc Amenhotep là người đã đảm nhiệm sứ mệnh trông coi ngôi đền thờ thần Amun. Đây là một công việc rất đáng kính trọng trong xã hội Ai Cập cổ đại thời bấy giờ, vì vậy, khi Amenhotep qua đời, ông đã được xây dựng lăng mộ tương đối bề thế.

Xem thêm:

Categories: Bí ẩn Lịch Sử

Sau chấn thương, bỗng nhiên nhớ chuyện “tiền kiếp”, nói ngôn ngữ lạ: Giới khoa học nói gì?

Nhớ chuyện “tiền kiếp” luôn là một trong những bí ẩn hàng đầu của các nhà khoa học.

Năm 20 tuổi, cô gái Elina Markand (người Đức) bị tai nạn. Khi tỉnh dậy, Elina bỗng nói tiếng Italy rất thông thạo, mặc dù trước đó cô chưa từng học một ngoại ngữ nào. Cô còn tự nhận mình là Rozetta Caste Liani, công dân Italy và yêu cầu được trở về thăm quê hương.

Về tới “nhà”, Elina mới biết rằng người có tên Rozetta Caste đã mất từ năm 1917. Đón cô là một bà già lụ khụ, xưng là con gái của Rozetta Caste. Elina chỉ tay vào bà già, nói:

Đây là Fransa, con gái tôi!”. Lúc ấy, tất cả mọi người đều giật mình, vì người đàn bà quả thực tên là Fransa, đúng như Elina gọi.

Câu chuyện của Elina Markand đã trở thành đề tài đầy hấp dẫn cho khoa học. Thực tế, trong lịch sử từng có không ít trường hợp tương tự và hiện tượng “nhớ về quá khứ” không nhất thiết phải bắt đầu từ một chấn thương nào đó, như trường hợp của Elina Markand.

Trong lịch sử từng có không ít trường hợp tương tự và hiện tượng "nhớ về quá khứ".


Trong lịch sử từng có không ít trường hợp tương tự và hiện tượng “nhớ về quá khứ”.

Vào thập niên trước, một cô gái nhỏ người Anh đã biến thành “một người xa lạ” sau khi thức dậy vào một buổi sáng. Em không nhận ra mẹ và người thân của mình, không nói được tiếng mẹ đẻ trong khi lại thông thạo tiếng Tây Ban Nha và lúc nào cũng tỏ ra sợ sệt.

Các bác sĩ đều có kết luận giống nhau: Em bé 10 tuổi này không có biểu hiện gì về bệnh lý hoặc tâm thần, sức khỏe tốt. Em nhận mình là người Tây Ban Nha và sống ở thành phố Toledo.

Em kể lại rằng một người cùng phố do ghen ghét và đố kỵ đã đâm chết em năm em 22 tuổi. Cảnh sát Tây Ban Nha đã thẩm tra câu chuyện kỳ quặc về “tiền kiếp” của em và kết luận, đúng như lời em kể.

Ở số nhà đó trong thành phố Toledo từng có một cô gái 22 tuổi bị hãm hại. Những người hàng xóm đã tìm thấy xác cô ngay trong nhà. Câu chuyện càng sáng tỏ hơn khi hung thủ (lúc này đã già) tự đến gặp cảnh sát để thú tội.

Các nhà khoa học còn tiếp tục ghi nhận nhiều trường hợp khác. Chẳng hạn có một người đột nhiên “biến thành” công dân La Mã cổ đại, với bằng chứng khó chối cãi là anh ta biết sử dụng thứ ngôn ngữ “nguyên thủy” của mình, mà không ai hiểu được.

Tương tự như vậy, có người châu Âu bỗng nói tiếng Ai Cập, mất khả năng nói tiếng mẹ đẻ. Rồi anh ta mô tả chính xác cảnh vật ở sông Nile và tự nhận có nguồn gốc Ai Cập.

“Trí nhớ gene”

Một số nhà khoa học đã thử đưa ra một lý thuyết giải thích hiện tượng trên với khái niệm “trí nhớ gene”: Nếu các vùng “ngủ” trong ADN bị kích thích, con người có thể trở về “tiền kiếp”. Họ bỗng nhớ lại nguồn gốc La Mã hoặc Ai Cập từ xa xưa.

Cũng do ảnh hưởng bởi tiền kiếp mà nhiều người có thói quen xoa râu quai nón, mặc dù trên mặt không hề có râu. Người khác lại có thói quen nhấc vạt áo vét, y như động tác vén váy dài đang mặc khi vượt qua vũng nước của phụ nữ.

Như ở cô Elina người Đức và bé gái người Anh thì rõ ràng không hề có quan hệ nào về “gene di truyền” với người mà mình hóa thân, có nghĩa là trường hợp của họ không thể giải thích bằng “trí nhớ gene”. Vậy nghĩa là thế nào?

Những người theo đạo phật rất quen thuộc với thuyết luân hồi cho rằng thể xác con người – tức là cái “bề ngoài” – luôn thay đổi. Còn cái “bên trong thể xác” – tức linh hồn – là vĩnh cửu.

Theo thuyết luân hồi, cuộc sống không khởi đầu bằng sự sinh ra và cũng không kết thúc bằng sự mất đi. Cuộc sống cứ trôi vô tận. Linh hồn ở mỗi “kiếp” lại nhập vào một thân xác mới. Vì thế, sẽ không lạ khi cô Elina và bé gái người Anh đột nhiên nhớ lại kiếp trước của mình.

Thuyết về kết cấu “phách”

Lại có một số nhà vật lý và sinh học đưa ra cách giải thích vấn đề trên bằng “kết cấu phách”. “Phách” ở đây tất nhiên không phải là “phách” trong âm nhạc, mà là một khái niệm chỉ “phần bất biến” của con người, còn được hiểu là “phần năng lượng tách ra dưới dạng sóng”.

Khi người chết, “phách” liền tan vào vũ trụ. Vì thế, “phách” có thể hiểu là một loại “trường sóng hạt cơ bản nhẹ, hoặc là “tập hợp những năng lượng thông tin cá thể”.

"Phách" có thể hiểu là một loại "trường sóng hạt cơ bản nhẹ, hoặc là "tập hợp những năng lượng thông tin cá thể.


“Phách” có thể hiểu là một loại “trường sóng hạt cơ bản nhẹ, hoặc là “tập hợp những năng lượng thông tin cá thể. (Hình minh họa).

Theo các nhà khoa học này, thuyết về phách lý giải được gần như đa phần hiện tượng thần đồng (trong âm nhạc, thi ca, khoa học…). Ở tuổi trẻ, những thần đồng này đã tích tụ được lượng kiến thức khổng lồ mà người bình thường cả đời dù học tập chăm chỉ cũng khó có được.

Theo thuyết này, “phách” của các thiên tài là sản phẩm của hàng vạn kiếp trong quá khứ dồn lại trong một cơ thể hiện hữu. Nói cách khác, “trường sóng hạt cơ bản nhẹ” hay những “tập hợp thông tin cá thể” đã tập trung vào cơ thể họ theo một quy luật nào đó.

Nhiều nhà khoa học đã mạnh dạn đề cập tới những khái niệm rất mới về hiện tượng “nhớ về quá khứ”. Họ đã lập ra một quy trình công nghệ “cho phép bằng thực nghiệm đưa con người vào trạng thái giữa mơ và thực”.

Ở trạng thái lơ lửng kỳ ảo này, người tham gia thực nghiệm vẫn nhìn thấy những gì quanh mình, nhưng trong tiềm thức, họ lại thấy quá khứ. Phương pháp thực nghiệm này đã được áp dụng để chữa một số bệnh tâm thần và đem lại kết quả.

Mặc dù đã có những thành tựu nhất định, nhưng đến nay, những chuyện về “siêu trí nhớ” gần như vẫn nằm ngoài vòng nghiên cứu của khoa học chính thống.

Tất nhiên, điều đó không có nghĩa là nhân loại chịu bỏ cuộc để rơi tự do vào vòng “bất khả tri”, các nhà khoa học vẫn đang tìm cách để nghiên cứu những điều khó giải thích nhất.

Xem thêm:

Tại sao Kim tự tháp Giza lại hoàn hảo đến vậy? Bí mật ngàn năm có thể đã được giải đáp

Tại sao Kim tự tháp Giza lại hoàn hảo đến vậy? Bí mật ngàn năm có thể đã được giải đáp

Một trong những câu hỏi khó trả lời nhất về các kim tự tháp Ai Cập, đó là vì sao chúng được xây dựng một cách hoàn hảo đến vậy, trong khi người xưa không có bất kỳ công cụ nào hỗ trợ cả.

Trong hàng thế kỷ, Đại kim tự tháp Giza đã mang đến những dấu hỏi không (hoặc chưa) thể trả lời dành cho giới khoa học. Không chỉ bởi các đường hầm bí ẩn chưa được tìm thấy, mà ngay bản thân quy mô của công trình này cũng đủ để khiến tất cả phải đau đầu, khi người Ai Cập thời đó không có sự trợ giúp của máy móc hiện đại.

Và một trong những câu hỏi lớn nhất nằm ở cấu trúc của kim tự tháp: nó cân đối, ngay ngắn một cách hoàn hảo.

Tại sao Kim tự tháp Giza lại hoàn hảo đến vậy? Bí mật ngàn năm có thể đã được giải đáp - Ảnh 1.

Nói một cách chính xác thì công trình vẫn có một vài đoạn hơi lệch, nhưng về tổng thể, Giza vẫn thẳng thớm một cách kỳ lạ, với các điểm chân được xếp gần như chuẩn 4 hướng Đông – Tây – Nam – Bắc.

“Những người đã xây Đại Kim tự tháp Khufu (tên khác của Giza) đã sắp xếp các đỉnh theo 4 hướng, với độ chính xác chỉ lệch khoảng 1/50 độ,” – trích lời Glen Dash, chuyên gia khảo cổ.

Trên thực tế, cả 3 kim tự tháp lớn nhất Ai Cập – bao gồm 2 cái tại khu tổ hợp Giza và 1 tại Dahshur – đều được căn chỉnh hết sức cân đối theo đúng 4 hướng. Đây là điều khiến giới chuyên mộ phải bất ngờ, bởi thật khó hình dung họ có thể làm được mà không có drone, bản đồ họa thiết kế, hay tối thiểu là một chiếc máy tính.

“Cả 3 kim tự tháp đều có các lỗi giống nhau, nhưng chúng đều được sắp đặt rất hoàn hảo quanh 4 hướng,” – Dash chia sẻ thêm.

Có nhiều giả thuyết đã được đặt ra, chẳng hạn như việc sử các vì sao để tính toán phương hướng, hoặc dựa vào bóng đổ từ Mặt trời.

Tuy nhiên, chưa có kết luận nào được đưa ra cả, cho đến khi nghiên cứu mới đây của Glen Dash ra đời.

Năm 2018, Dash nghĩ về một ý tưởng khác đơn giản hơn.

Ông cho rằng người Ai Cập xưa có thể lợi dụng hiện tượng “thu phân” (autumnal equinox) để sắp xếp mọi thứ một cách thật hoàn hảo.

Dành cho những ai chưa biết, mỗi năm Trái đất có 2 “phân mùa” là “xuân phân” và “thu phân”, nghĩa là thời điểm xích đạo của Trái đất đi ngang qua trung tâm của Mặt trời. Đó là những thời điểm ngày và đêm tại xích đại có thời gian bằng nhau.

Giả thuyết lợi dụng phân mùa để tính toán khoảng cách vốn không được xem trọng, vì nhiều người cho rằng nó không chính xác. Nhưng theo nghiên cứu của Dash, có một cách tận dụng hiện tượng này mà vẫn cho kết quả cực kỳ hợp lý.Phương pháp mà Dash sử dụng00:00:07

Phương pháp mà Dash sử dụng

Để giải quyết, Dash đã thực hiện một thí nghiệm, bắt đầu từ ngày đầu tiên của thu phân 2016 và sử dụng một cây gậy để tạo bóng. Ông theo dõi các điểm bóng tạo ra, hình thành một đường cong hết sức mềm mại. Đến cuối ngày, bằng một sợi dây căng quanh cột, ông tạo ra đường thẳng hết sức hoàn hảo chạy từ Đông sang Tây.

“Ở thời điểm phân mùa, các điểm bóng đổ sẽ tạo thành một đường thẳng gần như hoàn hảo, chạy từ Đông sang Tây,” – Dash cho biết.

Phương pháp này cũng tạo ra một vài điểm lệch ngược chiều kim đồng hồ, và nó trùng khớp với những điểm lệch tại kim tự tháp Khufu và Khafre thuộc khu tổ hợp Giza, và kim tự tháp Đỏ tại Dahshur.

Thí nghiệm của Dash được thực hiện tại Mỹ, nhưng ông cho biết hiện tượng tương tự cũng sẽ xảy ra tại Ai Cập. Tuy nhiên, ông hiện vẫn chưa có bằng chứng xác thực để đưa ra kết luận cuối cùng.

“Người Ai Cập xưa để lại quá ít dữ kiện. Hiện vẫn chưa có bất kỳ tài liệu nào về cho biết cách người Ai Cập cổ xây dựng kim tự tháp như thế nào cả,”

Dù có thể sẽ chẳng ai biết điều gì đã xảy ra, nhưng nghiên cứu của Dash cũng cho thấy một vài điểm thú vị. Thậm chí, đây có thể là lời giải chính xác nhất ở thời điểm hiện tại.

Nghiên cứu được công bố trên tạp chí Ancient Egyptian Architecture.

Tham khảo: Science Alert

Xem thêm:

Categories: Bí ẩn Lịch Sử

Tìm thấy thông điệp trong chai cổ nhất thế giới bên bờ biển Australia

Một gia đình người Australia bất ngờ tìm thấy thông điệp trong chai cổ lâu đời nhất thế giới sau gần 132 năm kể từ khi được một thủy thủ người Đức ném xuống Ấn Độ Dương.

Theo Iflscience, chiếc chai được phát hiện khi nhà Illman đi dạo dọc bãi biển ở phía bắc đảo Wedge, Tây Australia hôm 21/1.

Ông Kym Illman kể rằng, vợ ông thấy nhiều rác nên muốn dọn dẹp và đã tìm thấy một cái chai cổ. Bà nghĩ rằng có lẽ sẽ rất hợp để trang trí giá sách nên đã đưa cái chai cho bạn gái của con trai với suy nghĩ rằng bên trong là một điếu thuốc lá cuộn.

Ông bà Illman nhặt được cái chai trên một bãi biển xa xôi ở Tây Australia (Ảnh: BBC)

“Tonya cố lấy cái dây buộc quanh cuộn giấy ra nhưng sợ đứt. Vì thế chúng tôi mang nó về nhà, đặt trong lò nướng khoảng 5 phút để hong khô. Sau đó, chúng tôi mở cuộn giấy ra và nhìn thấy có chữ bên trên, đề nghị người tìm thấy cái chai liên lạc với lãnh sự quán Đức”, ông Kym nói.

Sau đó, họ đọc được dòng chữ viết tay mờ ghi ngày 12/6/1886 và tên con tàu Paula. Ban đầu, gia đình Illman cho rằng ngày tháng trên tờ giấy “quá xa”, có vẻ không thật, nhưng vẫn quyết định đưa nó tới cho các chuyên gia ở Bảo tàng Tây Australia.

Chiếc chai 132 năm tuổi chứa thông điệp hàng hải bên trong (Ảnh: Iflscience)

Tiến sĩ Ross Anderson, trợ lý giám định hàng hải của bảo tàng, xác thực thông tin trong cái chai sau khi trao đổi với các đồng nghiệp Đức và Hà Lan.

“Thật không thể tin nổi. Họ đã tìm dữ liệu lưu trữ ở Đức về Paula trên Tạp chí khí tượng thủy văn và phát hiện thuyền trưởng ghi chép rằng đã ném đi một cái chai hôm 12/6/1886. Ngày và tọa độ tương ứng với thông điệp viết bên trong”, ông Anderson cho hay.

Thông điệp trong chai (trái) và dữ liệu trên tạp chí khí tượng thủy văn (phải)

Chiếc chai cổ bị vứt xuống vùng biển phía đông nam Ấn Độ Dương khi con tàu đi từ Cardiff ở Wales tới Indonesia và có lẽ đã trôi giạt tới bờ biển Australia trong vòng 12 tháng, và bị vùi dưới cát trong nhiều năm. Hàng nghìn cái chai đã được ném xuống biển trong suốt cuộc thử nghiệm các tuyến vận tải biển của Đài quan sát Hải quân Đức. Cái chai cuối cùng có thông điệp được tìm thấy ở Đan Mạch năm 1934.

Thông điệp lâu đời nhất trong chiếc chai cổ mà tổ chức kỷ lục thế giới Guinness từng ghi nhận là 108 năm. Chiếc chai do một nhà sinh học biển thuộc Hiệp hội sinh học biển Plymouth, Anh quốc thả xuống biển năm 1906 và được một bưu tá đã nghỉ hưu – ông Marianne Winkler cùng vợ là bà Horst tìm thấy trong chuyến du lịch của họ tới đảo Amrum, Đức hồi năm 2016.

Xem thêm:

Categories: Bí ẩn Lịch Sử

Bí ẩn tâm linh: Nghiên cứu cho thấy có những người có thể phát sáng, thậm chí phát ánh hào quang rực rỡ

Khi nghe nói về phát quang sinh học, bạn hình dung đó có thể là các sinh vật sống ở tầng sâu dưới nước như loài cá sử dụng hàng triệu vi khuẩn để phát sáng, nhằm chiếu sáng để thu hút con mồi. Còn con người thì sao?

Rất nhiều sinh vật có thể phát sáng, còn con người thì sao?

Theo một nghiên cứu do các nhà khoa học Nhật Bản tiến hành năm 2009, con người cũng phát ra một ánh sáng nhìn thấy được (phát quang sinh học), nhưng rất yếu để nhìn thấy trực tiếp bằng mắt thường. Một số trường hợp đặc biệt thì ánh sáng mạnh hơn, có phát ra các màu sắc đẹp hơn.

Cơ thể con người phát sáng“,  là nhận định của nhóm nghiên cứu Đại học Northeastern khi công bố phát hiện của nhóm trên một tạp chí được nhà sách Science xuất bản. “Cơ thể phát ra ánh sáng với cường độ nhỏ hơn 1.000 lần so với cường độ ánh sáng mà mắt ta cảm nhận được”.

Nhóm nghiên cứu đã theo dõi 5 nam giới khi sử dụng một máy ảnh siêu nhạy cảm trong một căn phòng sáng lờ mờ, kéo dài 20 phút trong mỗi ba tiếng đồng hồ và trong ba ngày (theo dõi cả khi họ ngủ).

Họ phát hiện những người tham gia phát ra một “ánh sáng” vào ban ngày, đạt đỉnh điểm vào buổi chiều và phát sáng tập trung chủ yếu ở trán, cổ và má.

Đây không phải là bức xạ hồng ngoại do nhiệt, trái với những gì mà hình ảnh có thể gợi lên. Phát sáng này đến từ các photon (hạt ánh sáng) chứ không phải là nhiệt.

Phát quang sinh học vào những thời điểm khác nhau trong ngày. C: 10h10. D: 13h10  E: 16h10. F: 19h10.  G: 22h10. H: Những thay đổi về cường độ của các photon đối với 5 người tham gia thời gian. I: hình ảnh nhiệt của người tham gia. (PLoS ONE)

 Tại sao những người tu luyện thiền định lâu năm có thể phát ánh hào quang?

Hào quang xung quanh một người tu luyện Pháp Luân Công

Trong các nghiên cứu của môn vật lý cao năng lượng, các nhà khoa học có nhìn nhận rằng năng lượng chính là các hạt vi tế hơn như neutron, nguyên tử, tử ngoại, siêu âm, hạ âm, tia phóng xạ gamma…

Khi kiểm định khoa học, người ta phát hiện một số người có sở hữu nguồn năng lượng đặc biệt này, nên không những họ có thể phát sáng mà thậm chí còn tự phát điện hay phát lửa…

Một số trắc nghiệm cũng được tiến hành với những người luyện khí công thì thấy mật độ những vật chất này khi đo cao hơn người bình thường rất nhiều lần. Và ánh sáng họ phát ra cũng mạnh mẽ hơn, nhiều màu sắc thay đổi và rất đẹp.

Và khi trắc nghiệm đo bằng các thiết bị dùng để đo hồng ngoại, tử ngoại, siêu âm, hạ âm, điện, từ, tia phóng xạ gamma, nguyên tử, neutron….thì những máy đo này đã phát hiện được rằng nhiều khí công sư, người tu đạo, người thực hành thiền định lâu năm… có phát ra các vật chất này, các vật chất cùng ánh sáng họ phát ra rất phong phú.

Ở người bình thường không luyện khí công hay không thực hành tu tập thiền định cũng có thể có, nhưng ánh sáng nhỏ và yếu hơn nhiều.

Nhóm nghiên cứu hy vọng các thiết bị y tế trong tương lai sẽ cho phép chúng ta quét bề mặt của cơ thể con người, để đo độ sáng nhằm theo dõi  thay đổi chuyển hóa của người đó.

Nếu bạn có thể nhìn thấy ánh sáng phát ra từ cơ thể, bạn sẽ biết toàn bộ tình trạng sức khỏe của người đó“, Masaki Kobayashi, thành viên của nhóm tuyên bố với Scientist News.

Lần tới khi ai đó nói có người phát sáng hay thậm chí tỏa hào quang, bạn sẽ biết đó là sự thật chứ không phải điều huyễn hoặc nữa. 

Xem thêm:

Categories: Chuyện Lạ

Nicolas Flammel và bí ẩn về hòn đá phù thủy

Ít người biết rằng Nicolas Flammel – chủ nhân của hòn đá phù thủy nổi tiếng trong bộ truyện lừng danh Harry Potter là một nhân vật được lấy cảm hứng từ một nhà giả kim người Pháp cùng tên. Viên đá phù thủy do ông tạo ra được cho có thể biến những kim loại bình thường thành vàng cũng như điều chế thuốc trường sinh.

Ngay từ thời khắc bình minh của nền văn minh nhân loại, trường sinh bất tử đã là điều mà con người luôn mong mỏi và những nỗ lực tìm kiếm phương cách để sở hữu sự sống vô thời hạn trong cơ thể vật chất đã được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau.

Với các nhà giả kim thuật, giải pháp được đưa ra là bằng mọi cách tạo ra hòn đá phù thuỷ – Lapis Philosophorum, một vật chất xúc tác huyền thoại có khả năng biến kim loại bình thường thành vàng với độ tinh khiết gần như tuyệt đối.

Hòn đá phù thủy được mô tả là có màu đỏ, trong suốt giống thuỷ tinh, nặng hơn vàng, tan trong bất kì dung dịch nào, nhưng không cháy trong lửa (Ảnh: Internet)

Họ tin rằng những tính chất huyền diệu trên giúp ngăn chặn cái chết đồng thời mang lại cho người uống thuốc cuộc sống trường sinh. Trong khi đa số các nhà giả kim cho rằng phải liên tục uống liều thuốc này ở một lượng nhất định mới có thể duy trì cuộc sống vĩnh hằng của con người, một số khác khẳng định chỉ cần uống thuốc một lần là có thể vĩnh viễn bất tử.

Trong thế giới của thuật giả kim, hòn đá phù thủy thường được mô tả là có màu đỏ, trong suốt giống thuỷ tinh, nặng hơn vàng, tan trong bất kì dung dịch nào, nhưng không cháy trong lửa. Trên các thư tịch cổ, hòn đá này mang biểu tượng của một quả trứng kèm theo một con rắn. Có không ít các nhà giả kim tuyên bố đã tạo ra được hòn đá phù thuỷ đồng thời chế ra thuốc trường sinh bất tử, tuy nhiên chưa có ai chứng minh được sự thành công ngoại trừ Nicolas Flammel, một thủ thư người Pháp sống từ năm 1330 đến năm 1418 ở Paris với những câu chuyện đầy giai thoại xung quanh hòn đá này.

Chân dung Nicolas Flammel. (Ảnh: Wikipedia)

Theo lời kể, Nicolas đã tình cờ có được một cuốn sách huyền bí được viết bởi một người Do Thái tên là Abraham và đã dành cả đời mình để nghiên cứu cuốn sách này. Đó là một quyển sách huyền bí với vỏn vẹn 21 trang được viết bằng tiếng Do Thái và Hy Lạp kèm theo những hình vẽ mô tả chi tiết từng bước quá trình chế tạo ra Hòn đá phù thuỷ. Do không hiểu được nội dung cuốn sách, vào năm 1378, ông tới Tây Ban Nha tìm sự hỗ trợ dịch thuật từ một người Do Thái cải đạo sang Công giáo.

Trở về từ Tây Ban Nha, nhờ sử dụng những kiến thức có trong quyển sách, Flamel và vợ ông đã dùng đá giả kim tạo ra bạc vào năm 1382 và sau đó là vàng. Thành công giúp Nicolas nhanh chóng trở nên giàu có. Ông mở bệnh viện, nhà thờ làm rất nhiều việc từ thiện nhưng kiên quyết giữ bí mật về thành công của mình, có lẽ do lo ngại những hậu quả nó có thể mang lại.

Ngôi nhà Nicolas Flamel từng sinh sống tại Paris, Pháp (Ảnh: Internet)

Flamel sống đến năm 88 tuổi, trên bia mộ của ông có khắc các dấu hiệu giả kim thuật phức tạp và các ký hiệu. Một số người tin rằng ông đã chết ngay sau khi bia mộ được tạo ra. Nhưng có không ít lời đồn đoán ông chỉ giả chết và đã đạt được cuộc sống trường tồn.

Người ta đồn rằng, không lâu sau khi Flamel chết có một người dân muốn mua vàng tinh khiết của ông. Người này đã tìm đến nhà ông và thất vọng vì ông không còn tại thế. Không nản lòng, người đó đã đào mộ của ông lên với hi vọng cướp số vàng tuẫn táng. Ngạc nhiên thay, trong ngôi mộ đó, chẳng những không có vàng mà cũng không thấy thi thể của Nicolas đâu. Một số cho rằng đó là sự nhầm lẫn. Nhưng cũng có người cho rằng ông đã giả chết. Bằng chứng là sau năm 1418 rất lâu, vẫn thấy những quyển sách, những bản chép tay mang tên ông được rao bán trên phố.

Vào thế kỷ 18, một khách du lịch tên là Paul Lucas tuyên bố rằng ông đã gặp một số người Arab trong sa mạc và những người này cho biết họ đã gặp cặp vợ chồng nhà giả kim nổi tiếng ấy hiện vẫn còn sống.

Alexis Monteiln, trong cuốn sách “Lịch sử nước Pháp từ những vùng đất khác”, đã kể về việc tình cờ gặp được một trí tuệ thiên tài người Pháp và người này cũng kể về việc đã gặp Nicolas Flammel, không những còn sống mà vẫn tiến hành rất nhiều những nghiên cứu bí mật dưới lòng đất.

Một bức họa mang biểu tượng hòn đá phù thủy (Ảnh: Internet)

Cuối thế kỷ 20, Averroes Secundus, một người Syria cải đạo sang Công giáo, viết cuốn sách “Terra incognita Perpetua” kể về việc ông đã đến thăm hệ thống mê cung bí mật nằm dưới lòng đất Tây Ban Nha, đâu đó bên dưới cao nguyên Sierra Morena.

Ông ta cho biết có rất nhiều lối vào hệ thống mê cung đường hầm từ những toà nhà bỏ hoang và mê cung đường hầm bí ẩn này lớn đến nỗi vươn xa đến tận Castilia, Galicia, Catalunya và xứ Basque – tức là kéo dài hàng trăm km.

Mê cung được mô tả là chứa đầy báu vật của cải quá sức tưởng tượng và là nơi cư trú của cả một dòng tu. Họ được cho là đang nắm giữ những cuốn sách quý giá, những bí ẩn to lớn được canh gác bảo vệ kỹ lưỡng cẩn mật nhất cùng với đó là những gì chưa từng được phát hiện ra vẫn đang được nghiên cứu và thử nghiệm trong những cơ sở bí mật dưới lòng đất.

Averroes Secundus thậm chí tuyên bố rằng ông đã gặp Nicolas Flammel nổi danh bằng xương bằng thịt, đang sống cùng các đạo hữu của dòng tu trong mê cung. Averroes Secundus còn được nghe Nicolas Flammel nói về việc đang tiến hành những nghiên cứu biến vật chất hữu hình thành vô hình, mục đích chính là tìm ra phương thức tối ưu để bảo vệ thế giới ngầm khỏi lòng tham vô đáy của người ngoài.

Hòn đá phù thủy là nguồn cảm hứng cho phần thứ nhất của bộ truyện lừng danh Harry Potter (Ảnh: Internet)

Không dễ để biết được sự thật về những câu chuyện huyền bí này, nhưng nhiều người tin rằng một hòn đá cho phép con người có cuộc sống vĩnh hằng rất khó tồn tại. Sinh mệnh của một người vốn dĩ do thiên định dựa trên phúc phận và tâm tính.

Các ghi chép trong sử sách cho thấy những người có thọ mệnh lớn đều là người sử dụng các kỹ thuật nội đan (luyện thở và tu tâm tính) thay vì sử dụng những kỹ thuật ngoại đan (chế thuốc). Rất nhiều các bậc quân vương sử dụng các loại đan dược thậm chí mất mạng sớm do trúng độc. Bởi đơn giản, những người có tâm tính không cao nếu có cuộc sống bất tử chắc chắn sẽ gây ra những hậu quả lớn cho thế giới con người.

Xem thêm: